ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGUYỄN DUY ANH
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM
ĐIỀU XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS PHAN HUY ĐƯỜNG
LUẬN VĂN ThS KINH TẾ
HÀ NỘI 2006
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam
1.1.3.2.1.
Năng lực cạnh tranh dựa vào các lợi thế
15
* Năng lực cạnh tranh dựa vào lợi thế tuyệt đối
15
* Năng lực cạnh tranh dựa vào lợi thế tƣơng đối
18
* Năng lực cạnh tranh dựa vào lợi thế cạnh tranh
21
1.1.3.2.2.
Năng lực cạnh tranh dựa vào các nhân tố khác
22
1.2.
Kinh nghiệm một số nước về nâng cao năng lực cạnh tranh
sản phẩm điều xuất khẩu và bài học rút ra cho Việt Nam
26
1.2.1.
Kinh nghiệm một số nƣớc về nâng cao năng lực cạnh tranh sản
phẩm điều xuất khẩu
26
ấn Độ
26
Inđônê xia
27
2.1.1.3.
Tình hình sản xuất và xuất khẩu điều của Việt Nam
39
* Tình hình sản xuất
39
- Diện tích-năng suất-sản lƣợng điều
39
- Hình thức và quy mô sản xuất điều
42
- Tình hình thực hiện quy trình kỹ thuật trồng điều
45
2.1.2.
Chế biến và xuất khẩu điều của Việt Nam
49
2.1.3.
Những thành tựu và hạn chế về sản xuất và xuất khẩu sản phẩm
điều của Việt Nam
57
* Những thành tựu
57
* Những tồn tại
59
2.2.
Đánh giá Năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của
Bối cảnh quốc tế
78
3.1.2.
Bối cảnh trong nƣớc
79
3.2.
Quan điểm nâng cao NLCT…
81
3.3.
Phương hướng phát triển ngành điều của Việt Nam
83
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 109
3.4.
Các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều
xuất khẩu của Việt Nam
86
3.4.1.
Công tác kế hoạch-quy hoạch
86
3.3.2.
Đẩy mạnh việc nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ
trong sản xuất, gieo trồng và chế biến điều
87
3.3.3.
Về tiêu thụ và phát triển thị trƣờng
89
3.3.4.
106
DANH MỤC CÁC BIỂU BẢNG, SƠ ĐỒ
Số TT
TÊN BIỂU
Trang
Biểu số 1.
Khối lƣợng và kim ngạch 1 số mặt hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam
35
Biểu số 2.
So sánh suất đầu tƣ trồng mới, chi phí hàng năm và khấu hao vƣờn cây của điều
và một số cây trồng khác tại Việt Nam.
38
Biểu số 3.
DIỆN TÍCH - NĂNG SUẤT VÀ SẢN LƢỢNG ĐIỀU Ở VN
40
Biểu số 4.
Diện tích điều phân bố theo các vùng ở Việt Nam
41
Biểu số 5.
Số lao động nông nghiệp trong sản xuất điều
43
Biểu số 6.
QUY MÔ DIỆN TÍCH VÀ TỔNG THU TỪ TRỒNG TRỌT CỦA CÁC HỘ
ĐIỀU TRA
44
Biểu số 7.
Tổng hợp các hộ nông dân trồng điều năng suất cao
45
So sánh chỉ số đo của hạt điều thô của các nƣớc
69
Biểu số 18.
CHI PHÍ TRONG CHẾ BIẾN HẠT ĐIỀU TẠI VIỆT NAM
70
Biểu số 19.
So sánh giá xuất khẩu nhân điều của Việt Nam với 1 số nƣớc
73
Biểu số 20.
Giá điều thô và giá nhân điều chế biến qua các công đoạn
75
Biểu số 21.
TỶ LỆ BẢO HỘ DANH NGHĨA SẢN PHẨM ĐIỀU VIỆT NAM
76
Biểu số 22.
Chỉ số chi phí nguồn lực nội địa (DRC) của ngành điều việt nam
77
Sơ đồ 1
Quy trình chế biến điều xuất khẩu tại việt nam
50 Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
nghiệp trong ngành nông nghiệp và các nông sản xuất khẩu; Tốc độ hội nhập của
Việt Nam còn khiêm tốn; Xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam qua các
năm còn thấp: năm 1997 xếp thứ 49/53 nƣớc so sánh, năm 2000 xếp thứ 65/80,
năm 2004 xếp thứ 77/102 nƣớc so sánh.
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và khốc liệt trên thị trƣờng
thế giới, việc tiếp tục đổi mới cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế chính sách, thay đổi
cách sản xuất – kinh doanh nhằm phát huy hết các lợi thế tiềm năng, đẩy mạnh
phát triển sản xuất, nâng cao lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của cả nền kinh tế
và của từng ngành, từng doanh nghiệp là nội dung cơ bản để Việt Nam nhanh
chóng phát triển và hội nhập một cách tốt nhất vào nền kinh tế thế giới và khu
vực.
Trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế kinh tế vừa qua, ngành sản xuất điều
của Việt Nam đã có sự phát triển vƣợt bậc cả về tăng diện tích, năng suất và sản
lƣợng, cả về nâng cao chất lƣợng sản phẩm, tăng khối lƣợng và giá trị kim ngạch
xuất khẩu. Tuy nhiên, những khó khăn và thách thức đối với ngành điều còn
nhiều và chƣa thể khắc phục ngay đƣợc. Để ngành sản xuất điều ngày càng phát
triển mạnh mẽ và vững chắc hơn, trở thành một ngành xuất khẩu mũi nhọn của
nƣớc ta, chúng ta cần phải giải quyết nhiều vấn đề vƣớng mắc cả về kinh tế và kỹ
thuật, cả về cơ chế quản lý ở tầm vĩ mô và vi mô, tạo dựng và phát triển hơn nữa
những tiềm năng và lợi thế cạnh tranh hơn hẳn của ngành sản xuất điều.
Trong cơn lốc toàn cầu hoá, tự do hoá thƣơng mại của nền kinh tế thế giới
hiện nay, sản xuất và sản phẩm của ngành điều cũng nhƣ sản xuất các ngành nông
sản khác đang phải đƣơng đầu với một cuộc cạnh tranh quyết liệt. Tồn tại và phát
triển hoặc thất bại, phá sản đều phụ thuộc vào chúng ta khi đƣa ra các quyết sách
và những giải pháp đúng đắn nhằm đẩy mạnh phát triển sản xuất, tăng khả năng
cạnh tranh và vƣợt qua những rào cản hiện nay.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 3
Nam trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản
phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.
- Nhiệm vụ: Hệ thống hoá một số lý luận về cạnh và sức cạnh tranh của
hàng hoá các nhân tố ảnh hƣởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm điều xuất khẩu
Việt Nam.
- Phân tích đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng năng lực cạnh tranh của sản
phẩm điều xuất khẩu Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm điều
xuất khẩu Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu là năng lực cạnh tranh và các nhân tố ảnh hƣởng
năng lực cạnh tranh trong sản phẩm điều xuất khẩu Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu ở cấp độ sản phẩm điều xuất khẩu của
Việt Nam thời gian từ 1999 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu:
- Phƣơng pháp duy vật biến chứng, duy vật lịch sử
- Phƣơng pháp phân tích so sánh, thống kê, tổng hợp.
6. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá và hoàn thiện các luận cứ khoa học về năng lực cạnh tranh
của sản phẩm điều xuất khẩu Việt Nam trong điều kiện hội nhập.
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh, chỉ ra các nguyên
nhân làm giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm điều xuất khẩu Việt Nam.
- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản
phẩm điều xuất khẩu Việt Nam thời gian tới.
7. Kết cấu đề tài
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 5
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 6
Theo cuốn Kinh tế học của P. Samuelson thì: “Cạnh tranh là sự kình địch
giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng, thị trƣờng”.[39].
Cuốn Từ điển rút gọn về kinh doanh của Adam J.H. đã định nghĩa: “Cạnh
tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trƣờng nhằm
giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía
mình”.[1].
Theo Từ điển Bách khoa của Việt nam thì: “Cạnh tranh (trong kinh doanh)
là hoạt động ganh đua giữa những ngƣời sản xuất hàng hoá, giữa các thƣơng
nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trƣờng, chi phối bởi quan hệ cung
cầu nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trƣờng có lợi nhất”.[48].
Diễn đàn cao cấp về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) cho rằng: “Cạnh tranh là khái niệm của doanh nghiệp, quốc
gia và vùng trong việc tạo việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh
tranh quốc tế”.[9].
Theo các tác giả cuốn sách Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách
cạnh tranh và kiểm soát độc quyền kinh doanh thì: “Cạnh tranh có thể đƣợc hiểu
là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trong việc giành một số nhân tố sản xuất
hoặc khách hàng nhằm nâng cao vị thế của mình trên thị trƣờng, để đạt đƣợc mục
tiêu kinh doanh cụ thể”.[58].
Còn có thể đƣa ra rất nhiều định nghĩa khác nhau về khái niệm cạnh tranh
của các nhà nghiên cứu, song qua các định nghĩa nêu trên có thể tiếp cận về khái
niệm cạnh tranh nhƣ sau:
Một là, khi nói đến cạnh tranh là nói đến sự ganh đua nhằm giành lấy phần
thắng về mình của các chủ thể cùng tham dự.
Hai là, mục đích trực tiếp của cạnh tranh là giành giật cho đƣợc một đối
tƣợng cụ thể nào đó mà các bên đều muốn giành (một cơ hội, một sản phẩm, một
(cạnh tranh lành mạnh), cạnh tranh bất hợp pháp (cạnh tranh không lành
mạnh).
- Xét theo hình thái của cạnh trạnh, có: cạnh tranh hoàn hảo (thuần tuý) và
cạnh tranh không hoàn hảo (cạnh tranh chi phối bằng giá cả).
- Dƣới góc độ các công đoạn của quá trình sản xuất – kinh doanh, có: cạnh
tranh trƣớc khi bán hàng, cạnh tranh trong quá trình bán hàng và cạnh tranh
sau khi bán hàng. Cạnh tranh này đƣợc thực hiện bằng phƣơng thức thanh
toán và dịch vụ.
- Xét theo mục tiêu kinh tế của các chủ thể trong cạnh tranh, có cạnh tranh
trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành. Cạnh tranh trong nội bộ
ngành là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp cùng sản xuất và tiêu thụ một
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 8
loại hàng hoá hoặc dịch vụ nào đó. Cạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến
việc hình thành giá cả thị trƣờng đồng nhất đối với hàng hoá, dịch vụ cùng
loại trên cơ sở giá trị xã hội của hàng hoá dịch vụ đó. Trong cuộc cạnh
tranh này, các doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau. Doanh nghiệp chiến thắng
sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trƣờng, những doanh
nghiệp thua thiệt sẽ thu hẹp kinh doanh, thậm chí phá sản. Cạnh tranh giữa
các ngành là cuộc đấu tranh giữa các nhà doanh nghiệp sản xuất, mua bán
hàng hoá, dịch vụ trong các ngành kinh tế khác nhau nhằm thu lợi nhuận và
có tỷ suất lợi nhuận cao hơn so với số vốn bỏ ra và đầu tƣ vốn vào ngành
có lợi nhất cho sự phát triển. Sự cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến việc
các doanh nghiệp luôn tìm kiếm những ngành đầu tƣ có lợi nhất, nên đã
chuyển vốn từ ngành ít lợi nhuận sang ngành có nhiều lợi nhuận hơn. Sau
một thời gian nhất định, sự điều chuyển tự nhiên đó sẽ hình thành sự phân
phối vốn hợp lý giữa các ngành sản xuất, dẫn đến kết quả cuối cùng là các
chủ doanh nghiệp đầu tƣ ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau chỉ
khái niệm này không bao hàm đƣợc tất cả các khía cạnh về giá trị gia tăng, không
phản ánh đƣợc nguyên nhân tạo ra sức cạnh tranh và kết quả của cạnh tranh.
Một số nhà kinh tế khác lại đƣa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của quốc
gia dựa trên năng suất lao động (M. Porter), ông cho rằng "Khái niệm có ý nghĩa
nhất về năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia là năng suất lao động" [38], hay là dựa
trên tỷ lệ tăng trưởng thu nhập thực tế (Uỷ ban về Cạnh tranh công nghiệp Mỹ).
Uỷ ban này cho rằng: Một nƣớc đƣợc coi là cạnh tranh nếu nhƣ nƣớc đó duy trì
đƣợc một tỷ lệ tăng trƣởng thu nhập thực ngang bằng với tỷ lệ đó của các nƣớc
bạn hàng trong một môi trƣờng thƣơng mại tự do"[9].
Đối với Fagerberg vấn đề lại đƣợc xem xét ở một góc độ khác, Fagerberg
định nghĩa năng lực cạnh tranh của một quốc gia nhƣ là “khả năng của một đất
nƣớc trong việc nhận thức rõ mục đích của chính sách kinh tế tập trung, nhất là
đối với tăng trưởng thu nhập và việc làm, mà không gặp phải khó khăn trong
cán cân thanh toán”.[19]. Khái niệm này vừa mang tính kinh tế vĩ mô, vừa mang
tính nhẫu nhiên, bởi vì khi tính cạnh tranh đƣợc xác định nhƣ là năng lực để duy
trì thị phần có khả năng tạo ra lợi nhuận thì năng lực này lại có triển vọng chƣa rõ
ràng và mang tính ngẫu nhiên.
Nhƣ vậy, đa số các khái niệm đều chấp nhận năng lực cạnh tranh ở tầm
quốc gia phụ thuộc vào khả năng khai thác cơ hội trên thị trƣờng. Do đó có thể
hiểu, năng lực cạnh tranh của quốc gia là năng lực của một nền kinh tế có thể tạo
ra tăng trƣởng bền vững trong môi trƣờng kinh tế đầy biến động của thị trƣờng
thế giới.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 10
(2). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Về khái niệm này, phần lớn các tác giả đều gắn năng lực cạnh tranh của
doanh nghiệp với ƣu thế của sản phẩm mà doanh nghiệp đƣa ra thị trƣờng hoặc
với thị phần mà hàng hoá của nó chiếm giữ thông qua khả năng tổ chức, quản trị
11
doanh nghiệp đó trong mối quan hệ với đối thủ cạnh tranh trực tiếp và tiềm tàng
trên một thị trƣờng mục tiêu xác định”.[29].
Nhƣ vậy, trên thực tế đang tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp, nhƣng tựu chung lại, khi tiếp cận năng lực cạnh
tranh của doanh nghiệp, cần chú ý tới 4 vấn đề cơ bản sau:
Một là, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng, phải lấy yêu cầu của khách hàng
là chuẩn mực đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hai là, yếu tố cơ bản tạo nên sức mạnh trong việc lôi kéo khách hàng phải
là thực lực của doanh nghiệp.
Ba là, khi nói tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp luôn hàm ý so sánh
với các doanh nghiệp hữu quan (các đối thủ cạnh tranh) cùng hoạt động trên thị
trƣờng. Muốn tạo nên sức cạnh tranh thực thụ, chính những thực lực của doanh
nghiệp phải tạo nên lợi thế so sánh với các đối thủ cạnh tranh.
Bốn là, các biểu hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp có mối quan hệ
ràng buộc nhau.
Do đó có thể hiểu: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện thực lực
và lợi thế của doanh nghiệp so với các đối thủ khác trong việc thoả mãn tốt nhất
những đòi hỏi của khách hàng để thu lợi ích ngày càng cao cho doanh nghiệp
trong môi trƣờng cạnh tranh trong nƣớc và thế giới.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp thông qua lợi nhuận, thị phần của doanh nghiệp, thể hiện qua
chiến lƣợc sản xuất kinh doanh, quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào quy mô của doanh nghiệp.
Tính kinh tế nhờ quy mô thực chất là giảm chi phí trên 1 đơn vị sản phẩm, do tận
dụng lợi thế về quy mô sản xuất lớn. Những doanh nghiệp tham gia vào guồng
sản xuất-kinh doanh với quy mô nhỏ thì phải chấp nhận bất lợi về chi phí, do đó
rất khó có thể cạnh tranh nổi với các doanh nghiệp có quy mô sản xuất lớn hơn.
Mặt khác, tính năng động, nhạy bén trong quản lý doanh nghiệp cũng là một yếu
tố quan trọng, vì trong cùng một môi trƣờng kinh doanh có doanh nghiệp hạot
phẩm; yếu tố về giá cả sản phẩm đƣợc ngƣời tiêu dùng lựa chọn và đem lại lợi
nhuận cho nhà sản xuất - cung ứng; các yếu tố khác về kiểu dáng, mẫu mã của
sản phẩm, phƣơng thức tiêu thụ, thanh toán, quảng cáo, bán hàng.v.v.
Trình độ khoa học và công nghệ là nhóm nhân tố quan trọng và có ý nghĩa
quyết định đến môi trƣờng cạnh tranh và sức cạnh tranh của sản phẩm. Trình độ
khoa học công nghệ có ý nghĩa quyết định đến 2 yếu tố cơ bản nhất tạo nên sức
cạnh tranh của sản phẩm trên thị trƣờng, đó là chất lƣợng và giá cả.
Đối với những nƣớc chậm phát triển và đang phát triển, giá cả và chất
lƣợng sản phẩm hàng hoá dịch vụ có ý nghĩa ngang nhau trong cạnh tranh. Tuy
nhiên, trên thế giới hiện nay, đã chuyển từ cạnh tranh về giá sang cạnh tranh về
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 13
chất lƣợng, cạnh tranh giữa các sản phẩm và dịch vụ có chứa hàm lƣợng khoa học
công nghệ cao.
Đây là tiền đề để các doanh nghiệp, các sản phẩm phát triển ổn định và
nâng cao sức cạnh tranh của mình.
Tóm lại, ba cấp độ năng lực cạnh tranh có mối quan hệ qua lại mật thiết với
nhau, tạo điều kiện cho nhau, chế định nhau và phụ thuộc lẫn nhau. Một nền kinh
tế có năng lực cạnh tranh quốc gia cao phải có nhiều doanh nghiệp có sức cạnh
tranh cao, ngƣợc lại để tạo điều kiện cho doanh nghiệp có sức cạnh tranh cao, môi
trƣờng kinh doanh của nền kinh tế phải thuận lợi, các chính sách kinh tế vĩ mô
phải rõ ràng, nền kinh tế phải ổn định, bộ máy Nhà nƣớc phải trong sạch, hoạt
động có hiệu quả…
Là tế bào của nền kinh tế, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tạo cơ sở
cho năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp cũng thể hiện qua năng lực cạnh tranh của sản phẩm và dịch vụ mà doanh
nghiệp kinh doanh. Doanh nghiệp có thể kinh doanh một hay một số sản phẩm và
dịch vụ có năng lức cạnh tranh.
về giá. Khi giá của sản phẩm đó thấp hơn giá của sản phẩm cùng loại của các đối
tác khác sản xuất và cung cấp ra trên thị trƣờng thế giới – ta nói sản phẩm đó có
lợi thế cạnh tranh. Thể hiện bằng bất đẳng thức sau:
P
j
E < P
*
j
Trong đó: P
j
– Giá của sản phẩm j tính theo nội tệ
E – Tỷ giá hối đoái
P
*
j
– Giá quốc tế của sản phẩm cạnh tranh j
2. Hệ số cạnh tranh RCA ( hay còn gọi là mức lợi thế so sánh)
Chỉ tiêu này biểu hiện khả năng cạnh tranh của quốc gia về một loại sản
phẩm nào đó trên thị trƣờng thế giới.
RCA = (E
1
: E
c
) / (E
2
: E
nguồn lực nội địa tƣơng ứng là bao nhiêu USD.
Công thức tính DRC nhƣ sau:
n
a
ij
p
*
j
j = k+1
DRCi =
k
p
b
i
- a
ij
p
b
j
j = 1
Trong đó: J = 1,2,…k, các yếu tố sản xuất đầu vào khả thƣơng
J = k+1, k+2,… n, các yếu tố nguồn lực/tài nguyên trong nƣớc
và các yếu tố đầu vào trung gian bất khả thƣơng.
P*
j
là giá kinh tế (giá mờ) của các nguồn lực nội địa và các đầu
= P
i
: (P
f
)
wTrong đó: P
i
- Giá của mặt hàng i
P
f
- Giá các yếu tố đầu vào trung gian (thƣờng lấy phân bón làm
đại diện)
W - Tỷ lệ chi phí các yếu tố đầu vào trung gian trong tổng giá trị
mặt hàng i.
Hệ số Ci càng lớn chứng tỏ năng lực cạnh tranh của sản phẩm i càng cao.
5. Tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa (Norminal Protection Rate) NPR
P
d
i
NPR = (
- 1) X 100
P
b
1.1.3.2. Các nhân tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm
điều xuất khẩu.
1.1.3.2.1. Những nhân tố dựa vào các lợi thế.
* Nâng cao năng lực cạnh tranh dựa vào lợi thế tuyệt đối.
Mỗi quốc gia đều có một nguồn lực nhất định và lƣợng tài nguyên sẵn có
nhƣ: nguồn lao động, nguồn đất đai, tài nguyên và khoáng sản, nguồn vốn, công
nghệ và truyền thống, kinh nghiệm sản xuất kinh doanh, vị trí địa lý, điều kiện tự
nhiên, khí hậu thời tiết thuận lợi … Nguồn lực đó có giới hạn và luôn gắn liền với
sự khan hiếm. Muốn sản xuất ra một mặt hàng nào đó với số lƣợng bao nhiêu,
nhiều hay ít, giá thành sản phẩm và chất lƣợng hàng hoá thế nào…nền kinh tế đó
phải có sự lựa chọn, phân bổ các nguồn lực một cách hợp lý nhằm phát triển sản
xuất và thu đƣợc lợi nhuận tối đa. Xét trên góc độ hiệu quả kinh tế, đƣơng nhiên
các nƣớc sẽ lựa chọn, tiến hành sản xuất chuyên môn hoá ra những mặt hàng mà
có lợi thế tuyệt đối lớn nhất về nguồn lực, phát huy các lợi thế, tài nguyên sẵn có
và trên cơ sở tiết kiệm nguồn lực, thông qua trao đổi thƣơng mại (đặc biệt là
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam 18
thƣơng mại quốc tế) sẽ thu đƣợc lợi nhuận cao nhất và nâng cao hiệu quả kinh tế
của quá trình sản xuất kinh doanh.[31].
Trong lý luận của mình, cha đẻ của lý thuyết lợi thế tuyệt đối - Ađam
Smith khẳng định nguyên tắc phân công lao động sẽ tạo ra nhiều lợi nhuận nếu
các quốc gia biết tận dụng lợi thế tuyệt đối của mình. Ông cho rằng, 2 quốc gia
trao đổi thƣơng mại với nhau là dựa trên cơ sở tự nguyện và cùng có lợi, lợi ích
của thƣơng mại bắt nguồn từ lợi thế tuyệt đối của một quốc gia.[39], [56].
Có thể tóm tắt nhƣ sau: nƣớc A đƣợc coi là có lợi thế tuyệt đối cao hơn so
với nƣớc B về mặt hàng nào đó nếu nhƣ với cùng một nguồn lực, nƣớc A có thể
sản xuất nhiều hàng hoá đó hơn nƣớc B. Theo quan điểm này, nƣớc A cần chuyên
Việt Nam có điều kiện tự nhiên, khí hậu và hệ sinh thái khá phong phú và
đa dạng. Với sự hình thành nhiều vùng kinh tế sinh thái khác nhau, mà mỗi vùng
lại có những nét đặc thù, có thế mạnh riêng trong phát triển sản xuất nông nghiệp-
nhất là các cây công nghiệp lâu năm nhƣ: Điều, Cao su, Cà phê…
Đối với cây điều có thể nói điều kiện tự nhiên của các tỉnh phía Nam-Việt
Nam rất phù hợp, đã tạo lợi thế cao hơn hẳn so với nhiều nƣớc trồng điều khác
trên thế giới. Đó là:
- Nhiệt độ thích hợp, số giờ nắng trong năm cao, chênh lệch nhiệt độ ngày
và đêm lớn.
- Một năm Việt Nam có 2 mùa rõ rệt – mùa mƣa và mùa khô. Vào mùa
mƣa có lƣợng nƣớc mƣa đồi dào, mùa khô dài thuận lợi cho điều ra hoa, thụ phấn
và tạo quả, năng suất cao.
- Đất đai phì nhiêu, hầu hết là đất đỏ Bazan với tầng đất canh tác sâu, có lý
hoá tính thuộc loại lý tƣởng, có độ phì nhiêu thiên nhiên cao.
- Nông dân Việt Nam cần cù, sáng tạo, chịu khó, có nhiều kinh nghiệm
trong việc gieo trồng và thâm canh điều đạt năng suất cao.
Với những đặc điểm đặc thù trên, sản xuất nông nghiệp có nhiều thuận lợi
cơ bản, chứa đựng những tiềm năng về lợi thế cạnh tranh của hàng nông sản trên
thị trƣờng thế giới. Đó là: năng suất và chất lƣợng sản phẩm cao với chi phí sản
xuất thấp… Đối với ngành sản xuất điều-năng suất điều ngày càng tăng lên (từ 5-
6 tạ/ha tăng lên 10-12 tạ/ha, cá biệt có nhiều nông trại đạt từ 25-30 tạ/ha). Giá
thành sản phẩm điều tuy có tăng lên nhƣng vẫn thấp hơn so với các nƣớc khác
trên thế giới và so với giá cả nhập khẩu điều thô vào Việt Nam. Điểm mấu chốt là
điều cho năng suất cao và giá nhân công tƣơng đối rẻ.
Nhờ lợi thế vốn có mà trong nhiều năm qua tuy hàng nông sản xuất khẩu
của ta hầu nhƣ ở dạng nguyên liệu thô hoặc sản phẩm sơ chế, nhƣng vẫn có lãi.
(3). Nguồn lao động của Việt Nam.
Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm điều xuất khẩu của Việt Nam
vải).[31], [39], [55].
Theo lý thuyết lợi thế tƣơng đối của David Ricardo thì các nƣớc cần lựa
chọn mặt hàng để chuyên môn hoá sản xuất theo nguyên tắc: Mức chi phí sản