Luận văn thạc sỹ nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm chè xuất khẩu của công ty cổ phần chè Quân Chu thái nguyên trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế - Pdf 25

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH SẢN PHẨM
CHÈ XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ
QUÂN CHU, THÁI NGUYÊN TRƯỚC THỀM HỘI
NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 60 - 31 - 10
SV TH: ĐÀO DUY ANH
Người HD khoa học: TS. Lê Quang Dực
Thái Nguyên, năm 2008
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1. CƠ SƠ KHOA HỌC CỦA THỊ TRƯỜNG VỀ CẠNH TRANH VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4
1.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA THỊ TRƯỜNG VỀ CẠNH TRANH 4
1.1.1. Cơ sở lý luận của thị trường về cạnh tranh 4
1.1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài 33
1.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 40
1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu 40
1.2.2. Cơ sở phương pháp luận 40
1.2.3. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể 41
1.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 41
Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
CHÈ XUẤT KHẨU Ở CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ QUÂN
CHU 42
2.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN CHÈ QUÂN CHU 42
2.1.1. Quá trình hình thành và phát tri ển 42
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty 43

KIẾN NGHỊ 84
1. Chính sách tín dụng của Nhà nước 84
2. Chính sách trợ cấp xuất khẩu 85
3. Về phía công ty 86
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Số liệu về nguồn nhân lực trong công ty 46
Bảng 2.2. Tình hình sản xuất tự cung ứng về nguyên liệu 49
Bảng 2.3. Đánh giá khả năng tự đáp ứng sản xuất 50
Bảng 2.4. Tình hình xuất khẩu chè đen 61
Bảng 2.5. Đánh giá sản lượng, giá cả xuất khẩu 62
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu đồ 2.1. Phân tích thị trường tiêu thụ sản phẩm 59
Biểu đồ 2.2. Phân tích thị trường tiêu thụ sản phẩm .59
Biểu đồ 2.3. Phân tích cơ cấu mặt hàng chè xuất khẩu 63
DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒSơ đồ
1.1. nhu cầu giữa hàng hóa và tiêu dùng 8
Sơ đồ 1.2. Mối quan hệ giữa Cung-Cầu 10
Sơ đồ 2.1 Sơ đồ tổ chức công ty .45
Sơ đồ 2.2. Bộ máy tổ chức trong công ty 47
Sơ đồ 2.3 Quy trình chế biến sản phẩm 51
Sơ đồ 2.4. Sơ đồ chế biến Chè xuất khẩu 54
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Đồ thị 1.1. Đường cầu về hàng hóa 11
Đồ thị 1.2. Đường cung về hàng hóa 13
Đồ thị 1.3. Mối quan hệ giữa Cung và Cầu về hàng hóa 15
Đồ thị 2.1 phân tích giá xuất khẩu bình quân 63
DANH MỤC CÁC TỪ NGỮ VIẾT TẮT
VCCI : Phòng thương mại và công nghiệp
VD : Ví dụ
HĐQT : Hội đồng quản trị

nghiệp.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài - Hệ thống một cách khái quát những
vấn đề cơ bản về sức cạnh tranhcủa sản phẩm. - Đánh giá năng lực c ạnh tranh
của sản phẩm chè xuất khẩu trong thờigian qua. - Đưa ra phương hướng và giải
pháp chủ yếu nhằm nâng cao sức cạnhtranh chè xuất khẩu trong thời gian tới.3.
Đối tượng, phạm vi nghiên cứu đề tài + Đối tượng ngiên cứu của đề tài Là những
định hư ớng, chiến lược sản xuất kinh doanh sản phẩm củaCông ty; vốn và tiềm
lực tài chính, bộ máy quản lý nhân sự, chất lượng sảnphẩm; marketing và các
chiến lược cạnh tranh đưa sản phẩm vào thị trường. + Phạm vi nghiên cứu của đề
tài: - Phạm vi thời gian: Từ tháng 10 năm 2006 đến tháng 5 năm 2008. Số liệu
phân tích lấy từ năm 2005 đến 2007. - Phạm vi không gian: Đề tài được nghiên
cứu và hoàn thiện tạiCông ty cổ phần Chè Quân Chu, huyện Đại Từ, tỉnh Thái
Nguyên. - Phạm vi nội dung Những vấn đề lý luận về các chỉ tiêu đánh giá năng
lực cạnh tranh củaCông ty trước thềm hội nhập. Phân tích, đánh giá thực trạng nă
ng lực cạnh tranh sản phẩm của Côngty Cổ phần chè Quân Chu trong những năm
qua cùng với xu thế hội nhập hiện nay nhằm đưa ra các giai pháp nâng cao năn g
lực cạnh tranh cho sản phẩm ảchè xuất khẩu.4. Những đóng góp khoa học của đề
tài - Hệ thống hoá các luận cứ khoa học mang tính lý luận về các chỉ tiêuđánh
giá năng l c cạnh tranh của sản phẩm ở doanh nghiệp trước thềm hội ựnhập kinh
tế Quốc tế. - Phân tích, đánh giá khả năng, thực trạng, năng lực cạnh tranh của
sảnphẩm ở Công ty Cổ phần chè Quân Chu trong những năm qua cùng với xu
thếhiện nay. - Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm
ởCông ty Cổ phần chè Quân Chu.
Bố cục của đề tài:
Chương 1: Cơ sở khoa học của thị trường về cạnh tranh và phươngpháp
nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng về năng lực cạnh tranh của sản phẩm chè xuấtkhẩu
ở Công ty Cổ phần chè Quân Chu.
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh
của sản phẩm chè xuất khẩu ở Công ty cổ phần Chè Quân Chu trong thời gian
tới.

chiếm hữu tư liệu sản xuất đến chiếm hữu giá trị, trong nền kinh tế hiện đại việc
chiếm hữu trí tuệ ngày càng phổ biến và quan trọng.
Hai là: Đã là hàng hoá thì đối tượng đó phải có khả năng thỏa mãn nhucầu
nào đó của con người, hay nói một cách khác nó phải có giá trị sử dụng,hay là
một công dụng nhất định con người cần và mua bán nó. Không ai muốn mua một
vật vô ích với họ, một sản phẩm hỏng để không thể thoả mãn được nhu cầu nào
đó của họ. Cần thấy rằng nhu cầu của con người rất đa dạngnhưng có thể chia
thành hai loại cơ bản là nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu cho sản xuất. Những sản
phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như: cơm ăn, áo mặc,nhà ở, giày dép, phương
tiện đi lại và các dịch vụ như sách báo, phim ảnh Từ đây nó lại được chia
thành các nhu cầu vật chất và nhu cầu về tinh thần của con người. Theo đà phát
triển của nền văn minh thì cả nhu cầu tiêu dùngvật chất và nhu cầu tinh thần đều
tăng song nhu cầu tinh thần có xu hướng tăng nhanh hơn. Nhung sản phẩm đáp
ứng nhu cầu sản xuất bao gồm các nguồn lực của sản xuất như: sức lao động, đất
đai, vốn và dịch vụ sản xuấtnhư bảo hiểm, tài chính c. Khái niệm về cạnh tranh
Thuật ngữ cạnh tranh được sử dụng khá phổ biến trong xã hội chúng tangày nay.
Nó đư hiểu như sự ganh đua, đấu tranh giữa các chủ thể nhằm ợcđạt được một
mục đích nhất định.
Cạnh tranh kinh tế là quy luật tất yếu của sản xuất hàng hoá, dịch vụ.
Mứcđộ phát triển của sản xuất hàng hoá, dịch vụ tỷ lệ thuận với mức độ cạnh
tranhgiữa các chủ thể kinh doanh. Sự cạnh tranh diễn ra quyết liệt, liên tục giữa
cácquốc gia, giữa các ngành, giữa các sản phẩm, giữa các doanh nghiệp… tạo
rađộng lực phát triển kinh tế xã hội. Cạnh tranh chỉ một chuỗi hành động thực
hiện để chiếm cái mà đối thủcũng tìm cách chiếm ở cùng một không gian, vào
cùng m thời gian trong ộtnhững điều kiện và luật chơi bình đẳng như nhau. Theo
diễn đàn kinh tế thế giới, khả năng cạnh tranh của nền kinh tế là khả năng nền
kinh tế đạt được tốcđộ tăng trưởng cao trên cơ sở thực hiện các chính sách, thể
chế và các yếu tốkhác một cách hợp lý. Nó bảo đảm cho hàng hoá, dịch vụ sản
xuất trong nền kinh tế đó đứng vững trong các cuộc cạnh tranh quốc tế. Cạnh
tranh đối với quốc gia thể hiện trình độ sản xuất hàng hoá và dịchvụ đáp ứng

trườngphát triển như Mỹ, Tây Âu, Nhật hay kinh tế thị trường sơ khai như ở
ViệtNam hiện nay đều có những nhân tố cơ bản là hàng, tiền, bán, mua, cung,
cầu. Nhân tố thứ nhất của thị trường là hàng hoá.
Ta có thể khái quát các loại hàng hoá đáp ứng nhu cầu như sau:
Sơ đồ 1.1. nhu cầu giữa hàng hóa và tiêu dùng Tiêu dùng Vật chất Dịch vụ
Hàng hoá tiêu dùng dịch vụ Tinh thần Hàng hoá Nhu cầu Đất đai,sức lao
động,vốn Sản xuất, Hàng hoá các dịch vụ yếu tố đầu sản xuất vào-dịch vụ Dịch
vụ sản xuất Tuỳ theo đặc tính giá trị sử dụng, một vật có thể đáp ứng một số
nhucầu nhất định, nhưng khi sử dụng một vật có thể đáp ứng được một loại
nhucầu cụ thể. Sự phát triển đa dạng của các loại hình giá trị sử dụng, phản
ánhsự phát triển của lực lượng sản xuất, phân công lao động xã hội và phạm
viphong phú của nhu cầu. Đồng thời bản thân nhu cầu lại tạo động lực thúc
đẩysự phát triển cuả kinh tế hàng hoá, tạo ra nhiều loại hình giá trị sử dụng mới.
Đã là hàng hoá, thì tượng chiếm hữu phải được trao đổi theo đốinguyên tắc bồi
hoàn, tức là mua bán trên thị trường. Điều này có nghĩa là phảitính đến giá trị
của hàng hoá. Về phía người sản xuất, giá trị là lao động xã hội cần thiết kết tinh
tronghàng hoá. Đó là những chi phí mà người ta bỏ vào sản xuất và tiêu thụ hàng
hoá trên thị trường. Về mặt cơ cấu giá trị hàng hoá bao gồm hai bộ phận laođộng
vật hoá, tức là những chi phí vật chất đưa vào sản xuất hàng hoá và laođộng
sống, tức là hao phí sức lực cho quá trình s ản xuất, tiêu thụ hàng hoá. Nếu ký
hiệu lao động vật hoá là C, lao động sống là V + M thì trị giá hàng hoá bằng C
+V+ M. Nhân tố thứ 2 của kinh tế thị trường là tiền tệ. Tiền tệ là hàng hoá đặt
biệt, tiền tệ được tách ra làm vật ngang giáchung, phục vụ cho quá trình sản xuất
và trao đổi hàng hoá. Nó biểu hiệnquan hệ sản xuất giữa những người sản xuất
hàng hoá. Sự phân tích về nguồn gốc và bản chất của tiền tệ đã được Mác
trìnhbày một cách rõ ràng trong bộ tư bản, và được các nhà kinh tế học đương
đạitiếp tục bổ sung và hoàn thiện phù hợp với nền kinh tế thị trường hiện đại.
Nhờ có tiền mà hàng hoá v động thông suốt từ tay người sản xuất ậnđến tay
người tiêu dùng phải đảm bảo cho quá trình tái sản xuất diễn ra liêntục, không
ngừng, tạo nên quan hệ hàng - tiền trong nền kinh tế thị trường. Nhân tố cơ bản

định. Nóicách khác cầu là nhu cầu có khả năng thanh toán. Giữa cầu và nhu cầu
có mối liên hệ với nhau. Có thể có nhu cầu vềhàng hoá song nếu không có tiền
đảm bảo theo giá cả nhất định của hàng hoá đó thì sẽ không xuất hiện cầu. Cầu
hàng hoá phụ thuộc vào giá cả của hàng hoá. Giữa giá cả và sốlượng đưa ra thị
trường để thoả mãn nhu cầu có quan hệ tỷ lệ nghịch. Nếu sốlượng sản phẩm đưa
ra thị trường ngày càng tăng thì giá trị sản phẩm hànghoá đó ngày càng giảm
xuống. Từ đó giữa cầ u và giá có mối liên hệ sau đây :Nếu giá cả hàng hoá thấp
thì người mua sẽ mua một khối lượng hàng hoánhiều hơn và ngược lại. Đường
cầu được biểu diễn như sau: P Đường cầu D Q Đồ thị 1.1. Đường cầu về hàng
hóa Cầu hàng hoá phụ thuộc vào nhu cầu mua sắm. Nếu nhu cầu mua sắmlớn thì
có khả năng tăng cầu và ngược lại. Vì nhu cầu của các chủ thể kinh tếvà cường
độ nhu cầu của họ khác nhau, nên mỗi chủ thể kinh tế cần phải biếtsắp xếp nhu
cầu theo thứ tự ưu tiên sao cho với quy mô thu nhập nhất định cóthể thoả mãn
nhu cầu cao nhất và có hiệu quả nhất.
Nhân tố khác ảnh hưởng đến cầu hàng hoá là khả năng mua sắm củacác
chủ thể kinh tế. Đến lượt nó khả năng mua sắm lại phụ thuộc không chỉvào giá
cả, mà còn phụ thuộc vào thu nhập của mỗi người. Sự đột biến củathu nhập và
giá cả tác động đến sự thay đổi của cầu, song theo nhiều hướng khác nhau. Giá c
hàng hoá tăng lên làm cho cầu hàng hoá giảm. Ngược lại ảthu nhập tăng làm
tăng cầu. Một vấn đề quan trọng trong việc nghiên cứu sức cầu là phân tích sự
cogiãn của cầu. Về khái niệm, sự co giãn của cầu là sự biễn đổi của cầu dướiảnh
hưởng biến đổi của giá. Nếu ký hiệu sự thay đổi của cầu là ∆d/ d, sự thay đổi cuả
giá là∆p / p, k là hệ co giãn của cầu thì k = ∆d / d: ∆p /p. Có 3 trường hợp về hệ
số k k > 1, trong trường hợp 1 sự thay đổi nhỏ về giá dẫn đến sự thay đổilớn về
cầu. k < 1, trong trường hợp 1 sự thay đổi lớn về giá dẫn đến sự thay đổinhỏ về
cầu. k = 1 trong trường hợp 1 sự thay đổi về giá dẫn đến sự thay đổi tươngứng về
cầu. Việc nghiên cứu phân tích hàng hoá thuộc loại k như thế nào là có ýnghĩa
quan trọng đối vơí doanh nghiệp để đưa ra giá c vừa đảm bảo được ảcầu của thị
trường, tiêu thụ được hàng hoá không bị ứ đọng, vừa đảm bảo thunhập, lợi
nhuận cho doanh nghiệp. Về sức cung Cung là kh lượng hàng hoá và dịch vụ mà

phán đoán của chủ doanh nghi ệp. Ví dụ ệtrong trường hợp giá cả hàng hoá đang
tăng, chủ doanh nghiệp phán đoánrằng đó chỉ là sự tăng lên tạm thời còn trong
tương lai sẽ giảm xuống. Do đó họ lập tức đưa hàng hoá ra bán trên thị trường,
làm tăng cung lên. Song nếuchủ doanh nghiệp cho rằng trong tương lai, giá cả
hàng hoá còn tăng lên nữa,thì họ sẽ kìm hàng lại, không đưa ra tiêu thụ. Do vậy
mặc dù giá cả tăngnhưng cung không thay đổi. Ngoài giá cả, nhân tố thu nhập
cũng ảnh hưởng đến sự thay đổi cung.Nếu thu nhập thấp, doanh nghiệp ít vốn, ít
tiền dự phòng, các chủ doanh nghiệp phải bán hàng trong mọi trường hợp. Trong
trường hợp này, chỉ một sự thay đổi nhỏ của thu nhập cũng làm cho cung thay
đổi lớn. Ngược lại, nếuthu nhập cao, doanh nghiệp trường vốn, sẵn tiền dự
phòng thì các do anhnghiệp chỉ bán hàng trong điều kiện có lợi cho mình. Trong
trường hợp nàydù có sự thay đổi lớn về thu nhập cũng không làm cho cung thay
đổi nhiềuhay sức cung cứng rắn.
Cung và cầu về hàng hoá và giá cả thị trường của hàng hoá có mối liênhệ
chặt chẽ với nhau. Giá cả thị trường là giá cả thoả thuận giữa người mua vàngười
bán trên thị trường. Trong cơ chế thị trường người mua đại diện cho sức cầu còn
người bán đại diện cho sức cung. Người mua muốn mua giá cảhàng hoá thấp,
còn người bán muốn giá cả hà ng hoá cao. Vì vay giá cả thị ậtrường là sự thoả
thuận giữa người mua và người bán. Giao điểm giá cả giữangười mua và người
bán gọi là giá cả cân bằng, ở điểm giá cả cân bằng, cungvà cầu về số lượng hàng
hoá cân bằng với nhau, hay số lượng sản phẩm màngười mua muốn mua bằng số
lượng sản phẩm mà người bán cần bán. P S P0 M D Q0 Q Đồ thị 1.3. Mối quan
hệ giữa Cung và Cầu về hàng hóa Cung và cầu luôn vận động, biến đổi trên thị
trường. Mối quan hệ tác động qua lại giữa cung và cầu về số lượng hàng hoá với
giá cả hình thành quy luật cung - cầu. Quy luật này có tác dụng điều tiết sản xuất
và tiêu dùng, biến đổi dung lượng và cơ cấu thị trường và quyết định giá cả thị
trường.
1.1.1.4. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm hàng hóa
Trong hoạt động ngoại thương, nhất là để đẩy mạnh công tác xuất khẩu,chúng ta
phải có nhiều biện pháp để nâng cao cạnh tranh của các hàng hoá.

sánh là sự khácnhau giữa các quốc gia trong sự thiên phú tự nhiên về các yếu tố
sản xuất nhưlao động, đất đai, khí hậu, tài nguyên, vốn Quốc gia nào giành
được lợi thế so sánh ở những ngành sản xuất rộng rãi các yếu tố mà quốc gia đó
có được ưu thế hơn, quốc gia đó sẽ xuất khẩucác mặt hàng này và nhập khẩu
những hàng hoá không có lợi thế so sánh.Trên cơ sở này làm tăng khả năng cạnh
tranh của hàng hoá của quốc gia đódựa vào chi phí sản xuất thấp.
b. Năng suất Tăng trưởng kinh tế của một quốc gia được xác định bởi
năng suất nềnkinh tế quốc gia đó, nó được đo bằng giá trị hàng hoá và dịch vụ
sản xuấtđược trên một đơn vị lao động, vốn và nguồn lực và nguồn lực vật chất
củanước đó. Năng suất qua đó xác định tính cạnh tranh của nước đó trên trường
quốc tế.
c Các cơ sở kinh tế vĩ mô Ngày nay các cơ sở kinh tế vĩ mô và chính trị
cho việc phát triển và khảnăng cạnh tranh kinh tế được nhận thức một cách khá
rõ. Mỗi môi trường chính trị và một chính sách kinh tế vĩ mô ổn định kéo theo
nền tài chính vững mạnh, có sự tăng trưởng hợp lý về tiền tệ và tín dụng, một
mức nợ có thể kiểm soát được, lạm phát tương đối thấp, giới hạn và vai trò thích
hợp củachính phủ trong nền kinh tế cùng với sự mở cửa với các thị trường quốc
tế làcác yếu tố để thúc đẩy tăng trưởng. Thêm vào đó, lý thuyết tăng trưởng
nhấnmạnh tầm quan trọng của tích luỹ trong nước và một tỷ lệ đầu tư quốc gia
caovào vốn vật chất con người và cơ sở vật chất. Vai trò chính cua các biến số
kinh tế vĩ mô là hình thành ra bối cảnh, ủanhững khả năng cạnh tranh ở các
ngành và các doanh nghiệp khác nhau. Vìvậy, các chính sách hợp lý ở tầm vĩ mô
là những điều kiện cần thiết đối với sự tăng trưởng kinh tế và khả năng cạnh
tranh. Tuy nhiên một loạt chính sáchkinh tế vĩ mô đòi hỏi phải chuyển thành các
chính sách kinh doanh có kết quảvà có sức cạnh tranh. Ba yếu tố kinh tế vĩ mô
có thể liên hệ đặc biệt với tăng trưởng kinh tếvà cạnh tranh và kiểm soát trong
tương lai.
- Việc tài trợ bên ngoài và nợ nhà nước: duy trì m chiến lược vốn ộtthận
trọng, đặc biệt hạn chế việc vay vốn bên ngoài không có các điều kiện ưuđãi.
Tăng cường khả năng quản lý nợ nước ngoài.

với các doanh nghiệp cải thiện được năng lực của mình ở cấp các Công ty và các
ngành tươngứng. Một trong những cơ sở chính của năng suất và khả năng cạnh
tranh chính là chấtlượng của các hoạt động và chiến lược của Công ty.
* Hiệu quả hoạt động Các Công ty trên thế giới thành công là do đã không
ngừng cố gắng cải thiện tình hình của mình qua việc nâng cao hiệu quả hoạt
động, áp dụng qui trình công nghệ mới, sử dụng nhiều nguồn cung ứng mới và
khác nhau, giớithiệu và phân phối sản phẩm đúng lúc có những biện pháp về
chất lượng và năng suất. Các biện pháp đó được các Công ty thực hiện liên tục vì
có nhưvậy doanh nghiệp mới có sản phảm chất lượng cao nhất và chi phí sản
xuấtthấp, tỷ lệ phế phẩm thấp và mức độ thoả mãn khách hàng cao hơn đối
thủcạnh tranh nhằm tồn tại và thu hút được khách hàng, lợi nhuận thoả
đángtrong tương lai. Ở phần lớn các Công ty Việt Nam người ta chưa thấy rõ
những nỗ lực hướng tới nâng cao hiệu quả hoạt động và chất lượng sản phẩm.
Các Công tycòn xa mới đạt đến hoạt động tối ưu. Nhiều Công ty dường như phó
mặc hoặcít quan tâm tới việc cải thiện không ngừng những hoạt động cuả mình,
điều tấtyếu để có thể đạt tới chuẩn mực quốc tế. Các Công ty Việt Nam thường
đổ lỗicho máy móc lạc hậu cộng với thiếu vốn song đây không phải trở ngại
chínhtrong việc nâng cao khả năng cạnh tranh. Các Công ty có khả năng cạnh
tranh là những đơn vị có khả năng trongviệc tìm kiếm các phương thức quản lý
hoạt động mới tốt hơn bằng cách hạ chi phí, nâng cao cht lượng sản phẩm và
tăng cường dịch vụ khách hàng. ấMáy móc hi n đại gần như luôn có hiệu quả
xem xét trên giác độ kỹ thuật, song để có hiệu quả trên giác độ kinh tế thì phải
xem xét tới chi phí của nó.Chắc chắn máy móc hiện đại là cần thiết trong trường
hợp nhưng thiết bị mớikhông phải là yếu tố quyết định chính khả năng này trong
phần lớn các trườnghợp nó chỉ góp phần nhỏ trong việc nâng cao khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp nếu không quản lý hiệu quả, kỹ năng tiếp thị năng động
nhạy cảm, đàotạo có chất lượng và cơ cấu kích thích tốt. Doanh nghiệp quốc tế
thành công luôn cố gắng cung cấp nhiều giá trịhơn cho khách hàng bằng cách tập
trung thoả mãn khách hàng bằng cách pháttriển sản phẩm mới, nâng cao chất
lượng dịch vụ phục vụ khách hàng và phânphối sản phẩm. Song các nhà quản lý

xuất phối hợp với thực tế tốt nhất của quốc tế.
+ Các nhà qu lý ch uyên nghiệp có thái độ và xác định trách nhiệm ảncủa
họ hướng vào lợi nhuận và thị trường.
* Chiến lược công ty Mặc dù nâng cao hiệu quả hoạt động là bước đầu
tiên hướng tới nângcao cạnh tranh nhưng như thế chưa đủ mà Công ty cần có
chiến lược. Các Công ty Việt Nam có chiến lược để cố gắng tồn tại trong ngắn
hạn hoặc chưacó chiến lược riêng phát triển Công ty, ý tưởng chuẩn bị một chiến
lược kinhdoanh thực sự gặp phải thái độ hoài nghi từ một vài Công ty. Nhiều
Công tycảm thấy tầm nhìn là ngắn hạn, thị trường quá mất ổn định, tài chính dài
hạndành cho chiến lược đầu tư không có chiến lược thực hiện do ảnh hưởng
lớncủa chính phủ, từ thị trường và những thay đổi của chính sách thường
tácđộng đến điều kiện tiến hành kinh doanh. Thái độ này là dễ hiểu vì thực tế
ởViệt Nam các Công ty thường không mấy xem xét nhiều tới chiến lược.
Những thay đổi mạnh mẽ và ý tưởng mới thường bị phản đối vì các
phươngthức kinh doanh cổ điển vẫn hoạt động khá tốt, các thói quen còn thường
là cốhữu bắt rễ sâu trong các tổ chức ở Việt Nam ở nhiều nơi. Tuy vậy các
doanhnghiệp thành công đầu tiên là đã thay đổi cách thức kinh doanh cũ
dịchchuyển mục tiêu và mở rộng khả năng kinh doanh của mình ở trong nước
vàquốc tế. Chiến lược kinh doanh riêng là cần thiết đối với mỗi doanh nghiệp.Do
vậy cần xây dựng chiến lược tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp, từ chiếnlược, tạo
nên một công cụ cạnh tranh cho cuộc chiến dai dẳng. Trên thị trường, những
chiến lược như thế không thể đề nghị từ bên ngoài. Cơ sở xây dựng các chiến
lược ở các Công ty Việt Nam thời gian qua là đặt cơ sở hoạt động của mình vào
mức lương thấp, bắt chước mẫu thiết kế sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, không
nghiên cứu việc triển khai, tiếp thịhay đào tạo mà Công ty coi chính phủ như là
một tác nhân quan trọng đến kếtquả kinh doanh của họ và nỗ lực tìm kiếm càng
nhiều ưu tiên càng tốt (giấyphép hạn nghạch, bảo hộ). Sản phẩm xuất khẩu đều
là những sản phẩm nhiều lao động dựa vào tài nguyên thiên nhiên và ch yếu
được xuất tới thị trường ủphát triển, Công ty chưa tạo ra được vị thế cạnh tranh
khác biệt và mang tínhchất dài hạn, thường có ít hoặc không có nhãn hiệu quốc

được sự chấp thuận của UBND trước khi cấp giấy phép cho doanh nghiệp tư
nhân.
Để nâng cao hiệu quả và khả năng cạnh tranh về lâu dài, hạn ngạchxuất
khẩu cần phải được tổ chức đấu thầu cho phép những nhà xuất khẩu cóhiệu quả
nhất thực hiện hạn ngạch xuất khẩu đó, cần khuyến khích gia nhậpthị trường
kinh doanh thương mại nước ngoài bằng cách bãi bỏ yêu cầu vềmức vốn lưu
động tối thiểu và về lao động. Khuyến khích xuất khẩu Trong những năm tới và
cho tới khi quá trình tự do hoá thương mại ởViệt Nam có được những kết quả
đáng kể, hàng rào thương mại vẫn tồn tại hỗtrợ việc thay thế nhập khẩu, vì thế
cần phải vô hiệu hoá tác động tiêu cực đốivới các nhà xuất khẩu và tăng cường
xuất khẩu. Cần tăng cường hội nhậpthông qua việc gia nhập các tổ chức thương
mại thế giới điều đó sẽ ngày càngcủng cố chiến lược hướng về xuất khẩu, vì khi
đó việc thực hiện các chínhsách bảo hộ sẽ dần dần giảm đi. Cần có chính sách
đảm bảo cho các nhà xuất khẩu có thể có được đầuvào và đầu ra theo giá thị
trường quốc tế. Các nhà xuất khẩu trực tiếp và giántiếp cần được tiếp cận nguồn
tài chính hỗ trợ xuất khẩu, đặc biệt nguồn vốnlưu động với mức lãi suất có tính
cạnh tranh. Được tiếp cận các đầu vào phi thương mại với mức giá không bị
bópméo bao g việc cố gắng giữ cấu trúc tiền lương và thị trường lao động
ồmkhông bị bóp méo, đảm bảo về vận tải, điện và bưu chính viễn thông. Cải
thiện các điều kiện hạ tầng, thể chế phục vụ xuất khẩu bao gồm cảđiều kiện hải
quan hiệu quả hơn và thiết bị bốc dỡ tại cảng tốt hơn, hỗ trợ thuthập các thông
tin về thị trường xuất khẩu, đào tạo và phát triển các nghiệpđoàn xuất khẩu, cũng
như tăng cường vai trò tích cực của các đại sứ quán vàlãnh sự quán Việt Nam tại
nước ngoài trong việc xúc tiến xuất khẩu, thành lậpmột uỷ ban phát triển thương
mại để hỗ trợ các Công ty Việt Nam phát triển thị trường nước ngoài, tổ chức
các hoạt động xúc tiến thương mại, cung cấpthông tin và các loại hình dịch vụ
khác. Chính sách tỷ giá là một công cụ mạn h thúc đẩy phát triển xuất khẩu
.Chính nhu cầu phải nghiên cứu duy trì một mức tỷ giá thực tế và có khả
năngcạnh tranh, nhờ đó tăng cường khả năng và nâng cao năng lực cạnh
tranhquốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động xuất khẩu. g. Tổ chức hệ

quantrọng theo thời gian. Tuy nhiên qua quá trình đó lợi thế so sánh biến thành
lợithế cạnh tranh không thể mang tính chất tự nhiên và những động lực thúc
đẩycác doanh nghiệp và các ngành nâng cao các yếu tố cạnh tranh đã được
xácđịnh rõ. Các yếu tố như địa lý và tài nguyên không mang tính chất quyết
địnhxét trên giác đ dài hạn. Thay vào đó cần lựa chọn cách tổ chức quản lý
ộdoanh nghiệp như thế nào và lựa chọn các thiết chế thích hợp, các hình thứcđầu
tư sẽ quyết định sức cạnh tranh, phát triển và sự phồn vinh mỗi quốc giavà doanh
nghiệp.
1.1.1.6. Các yếu tố có liên quan đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh
củasản phẩm Các công cụ phổ biến đang được các doanh nghiệp sử dụng trong
quátrình cạnh tranh sôi động hiện nay là: Thứ nhất, chất lượng hàng hoá. Trên
thương trường nếu nhiều hàng hoácó công dụng như nhau giá cả bằng nhau thì
người tiêu dùng sẽ sẵn sàng muahàng hoá nào có chất lượng cao hơn. Do đó, đây
là công cụ đầu tiên và quan trọng mà các doanh nghiệp sử dụng để thắng đối thủ
cạnh tranh. Tuy nhiên,chất lượng của hàng hoá phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật
của từng đơn vị sảnxuất, từng ngành, từng vùng và từng quốc gia. Thứ hai, giá cả
hàng hoá. Hai hàng hoá có cùng công dụng, chất lượngnhư nhau thì người tiêu
dùng sẽ mua hàng hoá nào có giá rẻ hơn. Giá cả hànghoá được quyết định bởi
giá trị hàng hoá. Song sự vận động của giá còn phụthuộc vào khả năng thanh
toán của người tiêu dùng. Mức sống còn thấp,người tiêu dùng tìm mua những
hàng hoá có giá r . Thực tế cho thấy hàng ẻtiêu dùng của Trung Quốc được tiêu
thụ mạnh tại Việt Nam. Các nhà sản xuấtđã thực hiện một chiến lược kinh doanh
là làm ra hàng hoá có khả năng thanhtoán thấp về phía mình. Trong kinh doanh
để cạnh tranh về giá, một số doanhnghiệp chấp nhận ít lời, bán giá thấp nhưng
dùng số nhiều để thu lại. Ngượclại, khi mức sống cao hơn người tiêu dùng sẽ
quan tâm nhiều đến hàng hoá cóchất lượng tốt, chấp nhận mức giá cao. Thứ ba,
áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại. Sức cạnh tranhcủa hàng hoá của
doanh nghiệp sẽ tăng lên khi giá cả hàng hoá cá biệt của họthấp hơn giá trung
bình trên thị trường. Để có lợi nhuận đòi hỏi các doanhnghiệp phải tập trung các
nguồn lực để tăng năng suất lao động, hạ chi phíđầu vào, nâng cao chất lượng

ếnhàng hoá Những dịch vụ này tạo ra sự tin tưởng, uy tín của doanh nghiệpđối
với người tiêu dùng. Sau nữa, phương thức phục vụ trên sẽ phát huy tácdụng khi
đảm bảo được các yêu cầu các dịch vụ phải nhanh, chính xác phương thức
thanh toán phải linh hoạt, đa dạng bao gồm các loại như: thanhtoán một lần,
thanh toán chậm, bán trả góp, bán có thưởng, thanh toán linhhoạt khi trả bằng
ngoại tệ. Thứ sáu, tính độc đáo của sản phẩm. Mọi sản phẩm khi xuất hiện
trênthương trường đều mang một chu kỳ sống nhất định, đặc biệt vòng đời của
nórút ngắn khi xuất hiện sự cạnh tranh. Để kéo dài chu kỳ sống của sản
phẩm,các doanh nghi p dùng nhiều biện pháp trong đó có biện pháp là thường
ệxuyên cải tiến mọi mặt sản phẩm, tạo ra nét độc đáo riêng, liên tiếp tung ra
thịtrường những sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ. Trong điều kiện
doanhnghiệp chưa đủ sức tạo ra tính độc đáo của sản phẩm mới thì có thể sử
dụngnhãn hiệu của một sản phẩm đang được uy tín trên thị trường thông qua
hìnhthức liên doanh. Sự thay đổi thường xuyên về mẫu mã nhãn hiệu hàng
hoácũng như việc không ngừng nâng cao chất lượng, tính năng hàng hoá sẽ
tạođiều kiện cho sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp hiện nay. Thứ bảy,
chữ tín là công cụ cạnh tranh của các doanh ngh iệp. Trongquá trình kinh doanh
các doanh nghi p sử dụng nhiều biện pháp nhằm giành ệgiật khách hàng về phía
mình, đặc biệt thực hiện linh hoạt trong khâu hợpđồng, thanh toán như: qui ước
về giá cả, số lượng, kích cỡ, mẫu mã bằng vănbản hoặc bằng miệng, hay việc
thanh toán với các hình thức như bán trả góp,bán chịu, bán gối đầu Những
hành vi này sẽ thực hiện tốt hơn khi giữadoanh nghiệp và khách hàng có lòng tin
với nhau. Do vậy chữ tín trở thànhcông cụ sắc bén trong cạnh tranh, giúp cho
quá trình buôn bán diễn ra nhanhchóng tiện lợi.
Mặt khác, công cụ này còn tạo cơ hội cho nhiều người ít vốncó điều kiện
tham gia kinh doanh, do đó mở rộng được thị phần hàng hoá tạo sức mạnh cho
doanh nghiệp. Những ưu điểm đó giải thích vì sao trongcạnh tranh giữa các
doanh nghiệp nhà nước với các doanh nghiệp ngoài quốdoanh thì các doanh nghi
ngoài quốc doanh linh hoạt hơn, có nhiều bạn hàng hơn. Tuy nhiên sử dụng công
cụ này đòi hỏi các chủ thể cạnh tranh phảicó bản lĩnh. Bởi vì có nhiều vấn đề

* Thao túng lũng đoạn thị trường: Đây là th đoạn mà các doanh ủnghiệp
tìm kiếm những cơ hội đầu tư tạo ra những điều kiện đặc biệt thuận lợitrong sản
xuất kinh doanh thông qua hành vi mua chuộc hối lộ các quan chứcnhà nước.
VD: Vụ Tân Trường Sanh và Minh Phụng Epco.
* Lợi dụng kẽ hở của pháp luật: Pháp luật nhà nước dù được xây
dựngđồng bộ, đầy đủ nhưng vẫn còn những kẽ hở. Ở lĩnh vực thiếu luật hoặc
luậtchưa hoàn thiện thì ở đó xuất hiện tình trạng tiêu cực hay luật rừng. Khi
vănbản không đồng bộ hoặc chồng chéo thì các doanh nghiệp tìm kiếm cách
thứctạo ra lợi nhuận, lợi thế nhằm tháo gỡ khó khăn đưa doanh nghiệp vươn
lên.Các thủ đoạn hiện nay thường thấy là lợi dụng sơ hở trong qui định mức
thuếđối với các nhóm hàng, đặc biệt là đối với những qui ưu đãi các mặt ịnhhàng
xuất nhập khẩu, các mặt hàng tái xuất tạm nhập. Lợi dụng sơ hở trongnghiệp vụ
ngân hàng để thế chấp cho vay, bảo hiểm Các thủ đoạn trên được sử dụng
mạnh mẽ hơn nhất là ở những nước vừa mới bước vào nền kinh tế thịtrường với
một hành lang pháp lý còn lỏng lẻo.
* Sử dụng các thủ đoạn phi kinh tế khác: Ở nước ta mấy năm gần đâycác
thủ đoạn phi kinh tế trong cạnh tranh diễn ra theo mức độ từ thấp đến caothể
hiện ở các hoạt động sau đây: thứ nhất, thông tin sai lệch về nguồn gốcxuất xứ,
chất lượng, tính năng của sản phẩm hàng hoá của bên đối thủ cạnhtranh. Thông
tin sai lệch này thực hiện qua hai kênh: kênh không chính thức,bằng cách tung
tin đồn thất thiệt được rỉ tai một cách có chủ ý đến người tiêu dùng và kênh
chính thức thông qua quảng cáo rầm rộ, một mặt vừa khuyếch trương hàng hoá c
a mình, mặt khác quảng cáo so sánh bôi nhọ sản phẩm ủcạnh tranh. Thứ hai, làm
giả sản phẩm của đối thủ cạnh tranh với chất lượngthấp, tạo ra những khuyết tật
mà hàng thật không có để làm mất uy tín sảnphẩm tiến tới loại trừ đối phương.
Thứ ba, sử dụng gián điệp kinh tế để ăn cắpmột công nghệ, chiến lược đầu tư
phát triển của đối phương nhằm tạo ra lợithế trong cạnh tranh. Thứ tư, dùng
bạo lực để loại trừ đối thủ cạnh tranh từ bỏquyết định kinh doanh nào đó, ở mức
thấp là đe doạ, gây khó khăn trong cạnhtranh, ở mức cao hơn là phá huỷ tài sản
doanh nghiệp đối phương, thậm chíthủ tiêu đối phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status