ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THANH THẢO
NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH
VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế
Mã số: 60 31 07
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VÕ TRÍ THÀNH
Hà Nội - 2010 MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU iv
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ v
2.2.1. Năng lực cạnh tranh của đội tàu Việt Nam 53
2.2.2. Năng lực cạnh tranh của hệ thống cảng biển Việt Nam 58
2.2.3. Những hạn chế và tồn tại của ngành vận tải biển Việt Nam 65
2.2.4. Nguyên nhân những tồn tại, yếu kém của ngành vận tải biển Việt Nam 70
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM 78
3.1. DỰ BÁO NHU CẦU VẬN TẢI BIỂN TRONG THỜI GIAN TỚI 78
3.1.1. Bối cảnh trong nước 78
3.1.2. Nhu cầu vận tải biển tại Việt Nam 79
3.1.3. Xu thế phát triển của ngành vận tải biển ở các nước ASEAN tại khu vực và Việt
Nam 81
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH
VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM 86
3.2.1. Giải pháp về phía Nhà nước 86
3.2.3. Đối với Hiệp hội doanh nghiệp 96
KẾT LUẬN 100
TÀI LIỆU THAM KHẢO a
i DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Stt
Chữ viết tắt
Nghĩa của từ
BOT
Build - Operate -
Transfer
Xây dựng - Triển khai -
Chuyển giao
7.
CIF
Cost, Insurance and
Freight
Tiền hàng, bảo hiểm và cước
phí
8.
CIP
Carriage and Insurance
Paid To
Cước phí và bảo hiểm trả tới
9.
DOC
Document of Compliance
Giấy chứng nhận tuân thủ
10.
DWT
Dead weight tonnage
Tải trọng tổng cộng
11.
FOB
Free On Board
Giao hàng lên tàu
12.
FTA
KSA
Korea Shipbuilders
Association
Hiệp hội các nhà đóng tàu Hàn
Quốc
18.
NĐ
Nghị định
19.
OECD
Organization for
Economic Co-operation
and Development
Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế
20.
P&I
P&I Club Vepresentation
Dịch vụ đại diện cho hội bảo
hiểm
21.
TEU
Đơn vị tính của 1 container 20
feet
22.
TMS
Transport Management
System
Forwarders Association
Hiệp hội giao nhận kho vận
Việt Nam
30.
Vinamarine
Cục Hàng hải Việt Nam
31.
VOSA
Vietnam Ocean Shipping
Agency
Công ty cổ phần Đại lý hàng hải
Việt Nam
32.
VOSCO
Vietnam Ocean Shipping
Joint Stock Company
Công ty Cổ phần Vận tải biển
Việt Nam
33.
VPA
Hiệp hội cảng biển
iii DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
iv Bảng 2.1: Thống kê lượng tàu được đầu tư trong thời gian qua ………… 42
Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng hàng năm của đội tàu hàng rời/container… 43
Bảng 2.3: Sản lượng hàng hóa thông qua cảng 10 tháng năm 2005……… 63
Bảng 3.1 : Dự báo khối lượng hàng hóa vận tải nội địa 80
Bảng 3.2 : Dự báo khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và thị phần của đội
tàu Việt Nam 81
Bảng 3.3: Số liệu hàng hoá vận tải bằng đường biển của các nước trong khu
vực ASEAN (2000)………………………………………………………….82
Bảng 3.4: Thị phần hàng hoá vận tải bằng đường biển của các nước trong khu
vực ASEAN (2002)………………………………………………………….83
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Trong công cuộc hội nhập WTO, trao đổi thương mại ngày càng phát triển
mạnh mẽ, nhu cầu về giao thương giữa các nước trên thế giới tăng mạnh kéo nhu
cầu về vận tải biển tăng theo. Theo thống kê, vận tải biển chiếm khoảng 80% lưu
lượng hàng hoá xuất nhập khẩu của Việt Nam. Thời gian qua, ngành vận tải biển
Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể: đội tàu tăng lên nhanh chóng cả
về số lượng và chất lượng cũng như chủng loại, thị trường vận tải cũng mở rộng
sang nhiều khu vực mới như Bắc Mỹ, Nam Mỹ, châu úc, tây Âu, tây Phi… Có
thể nói rằng Việt Nam có rất nhiều lợi thế trong việc phát triển ngành vận tải
biển. Tuy nhiên, so với một số nước trong khu vực và trên thế giới, ngành vận tải
biển của Việt Nam vẫn chưa thực sự phát triển. Hiện nay vận chuyển bằng
đường biển chiếm tới 80% tổng nhu cầu vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu của
Việt Nam, nhưng đội tàu trong nước nhận được hợp đồng vận tải rất ít. Trên thực
tế mới chỉ vận chuyển được khoảng trên dưới 13% khối lượng hàng hoá xuất
nhập khẩu, phần lớn còn lại do các đội tàu nước ngoài thực hiện. Hiện tại, đội
tàu biển quốc gia có 970 tàu, tổng trọng tải đạt 2,85 triệu USD, xếp thứ 60/152
quốc gia có tàu mang cờ quốc tịch và xếp thứ 4/11 nước ASEAN. Con số 970
tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam này không phải là nhiều song cũng không hẳn
là quá ít. Như vậy, tại sao các nhà xuất khẩu không chọn tàu Việt Nam mà chọn
tàu nước ngoài? Phải chăng nguyên nhân chính xuất phát từ năng lực cạnh tranh
công tác vận hành đoàn tàu. Kỹ thuật chọn tàu và phương pháp vận chuyển trong
tương lai.
- Đề tài “Tổ chức công tác xếp dỡ ở cảng” - Phan Nhiêm - NXB Giao thông
vận tải: công trình nghiên cứu vai trò, nhiệm vụ, tầm quan trọng của cảng với
3
việc vận chuyển hang hoá. Luận chứng kinh tế, kỹ thuật chọn phương án ở cảng.
Các cảng biển và sự phát triển của đội tàu biển thế giới.
- Sách “Vận tải và giao nhận trong ngoại thương” - NXB Lý luận chính trị:
đây là giáo trình giảng dậy của bộ môn “Vận tải và giao nhận trong ngoại
thương” trong chương trình đào tạo sinh viên và học viên cao học của trường
Đại học Ngoại thương. Giáo trình đã trình bày cho sinh viên những khái niệm về
vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu, các hình thức, phương thức và nghiệp vụ cơ
bản của quá trình vận chuyển, giao nhận hàng hoá trong ngoại thương…
Như vậy, có thể thấy rằng chưa có một công trình cụ thể nào nghiên cứu về
năng lực canh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam và đặc biệt là năng lực
cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế
quốc tế hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
3.1. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá và phân tích tình hình hoạt động của ngành
vận tải biển Việt Nam thời gian qua, đề tài đánh giá năng lực cạnh tranh của
ngành vận tải biển Việt Nam, đồng thời đề xuất một số giải pháp góp phần nâng
cao năng lực cạnh tranh của ngành này trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu ở trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của ngành, nghiên cứu cụ thể với
ngành vận tải biển Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng của ngành vận tải biển Việt Nam. Từ đó,
làm rõ năng lực cạnh tranh của ngành trong giai đoạn hiện nay.
WTO.
Nguồn thông tin được sử dụng trong chuyên đề được thu thập từ trang web
của Tổng cục Thống kê, Cục Hàng hải Việt Nam, các bài nghiên cứu khoa học,
các bài báo và tạp chí chuyên về dịch vụ vận tải biển và các tài liệu có liên quan.
6. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn có những đóng góp mới như sau:
- Làm rõ tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt
Nam.
- Phân tích thực trạng của ngành vận tải biển Việt Nam từ đó đánh giá năng
lực cạnh tranh của ngành trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tê.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của ngành
vận tải biển Việt Nam.
7. Kết cấu, nội dung của luận văn
Luận văn có kết cấu 3 chương và nội dung tổng như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành vận
tải biển Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt
Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
ngành vận tải biển Việt Nam 6
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH CỦA NGÀNH VẬN TẢI BIỂN VIỆT NAM TRONG BỐI
CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ
1.1. LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH
những nhân tố cơ bản của cơ chế thị trường, còn cạnh tranh là động lực của
nền kinh tế. Ngày nay hầu hết các nước trên thế giới đều thừa nhận rằng cạnh
tranh không những là môi trường và động lực của sự phát triển mà còn là yếu
tố quan trọng góp phần lành mạnh hoá các quan hệ sản xuất, một quy luật tất
yếu để một nền kinh tế phát triển. “Cạnh tranh là cuộc đấu tranh quyết liệt gay
gắt mà ở đó các chủ thể kinh doanh ganh đua nhau trong một thị trường hàng
hoá cụ thể nào đó với mọi biện pháp, kể cả nghệ thuật và thủ đoạn nhằm đạt
được mục tiêu kinh tế của mình. Mục tiêu đó có thể là giành giật khách hàng
và thị trường hoặc các điều kiện sản xuất hay thị trường có lợi nhất, thông qua
đó đạt đến mục đích cuối cùng là tối đa hoá lợi ích, thu được lợi nhuận cao”
(1)
Tính chất và mức độ cạnh tranh được phân nhiều loại, quá trình toàn cầu
hoá càng diễn ra mạnh mẽ thì cạnh tranh càng diễn ra gay gắt vì trình độ phát
triển của cạnh tranh không đều và lợi ích kinh tế khác nhau giữa nhóm nước
công nghiệp phát triển với nhóm nước đang phát triển. Cạnh tranh không phải
là sự triệt tiêu lẫn nhau của các chủ thể tham gia, mà là động lực cho sự phát
triển của doanh nghiệp. Cạnh tranh góp phần cho sự tiến bộ của khoa học,
cạnh tranh giúp cho các chủ thể tham gia biết quý trọng hơn những cơ hội và
lợi thế mà mình có được, cạnh tranh mang lại sự phồn thịnh cho đất nước…
8
Thông qua cạnh tranh, các chủ thể tham gia xác định cho mình những
điểm mạnh, điểm yếu cùng với những cơ hội và thách thức trước mắt và trong
tương lai, để từ đó có những hướng đi có lợi nhất cho mình khi tham gia vào
quá trình cạnh tranh.
Như vậy, có thể định nghĩa cạnh tranh là sự tranh đua giữa những cá
nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có chức năng như nhau thông qua các hành động,
nổ lực và các biện pháp để giành phần thắng trong cuộc đua, để thỏa mãn các
mục tiêu của mình. Các mục tiêu này có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả,
an toàn, danh tiếng….
động, giảm chi phí. Kết quả cạnh tranh trong nội bộ ngành làm cho kỹ thuật
phát triển, điều kiện sản xuất trong một ngành thay đổi, giá trị hàng hóa được
xác định lại, tỷ suất sinh lời giảm xuống và sẽ làm cho một số doanh nghiệp
thành công và một số khác phá sản, hoặc sáp nhập.
Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác
nhau trong nền kinh tế nhằm tìm kiếm mức sinh lợi cao nhất, sự cạnh tranh
này hình thành nên tỷ suất sinh lời bình quân cho tất cả mọi ngành thông qua
sự dịch chuyển của các ngành với nhau.
- Căn cứ vào tính chất của cạnh tranh trên thị trường thì cạnh tranh gồm
có cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo.
Cạnh tranh hoàn hảo: là loại hình cạnh tranh mà ở đó không có người sản
xuất hay người tiêu dùng nào có quyền hay khả năng khống chế thị trường,
làm ảnh hưởng đến giá cả. Cạnh tranh hoàn hảo được mô tả là tất cả các hàng
hóa trao đổi được coi là giống nhau; tất cả những người bán và người mua
10
đều có hiểu biết đầy đủ về các thông tin liên quan đến việc mua bán, trao đổi;
không có gì cản trở việc gia nhập hay rút khỏi thị trường của người mua hay
người bán. Để chiến thắng trong cuộc cạnh tranh các doanh nghiệp phải tự
tìm cách giảm chi phí, hạ giá thành hoặc tạo nên sự khác biệt về sản phẩm của
mình so với các đối thủ khác.
Cạnh tranh không hoàn hảo: là một dạng cạnh tranh trong thị trường khi
các điều kiện cần thiết cho việc cạnh tranh hoàn hảo không được thỏa mãn.
Các loại cạnh tranh không hoàn hảo gồm: Độc quyền; Độc quyền nhóm; Cạnh
tranh độc quyền; Độc quyền mua; Độc quyền nhóm mua. Trong thị trường
cũng có thể xảy ra cạnh tranh không hoàn hảo do những người bán hoặc
người mua thiếu các thông tin về giá cả các loại hàng hóa được trao đổi.
1.1.1.3. Khái niệm về năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ năng lực cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong phạm vi toàn
cầu nhưng cho đến nay vẫn chưa có sự nhất trí cao giữa các học giả, các nhà
Là khả năng doanh nghiệp tạo ra được lợi thế cạnh tranh, có khả năng tạo
ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị phần
lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững.
* Năng lực cạnh tranh cấp ngành
Năng lực cạnh tranh cấp ngành thường được xem xét qua các chỉ số định
lượng, như : tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu và lợi thế so sánh. Một ngành sẽ là có năng
12
lực cạnh tranh nếu có năng lực duy trì được lợi nhuận, thị phần trên các thị
trường trong và ngoài nước.
Có 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cấp ngành như sau:
- Nhóm các yếu tố thuộc về ngành: chiến lược phát triển; sản phẩm chế
tạo; lựa chọn công nghệ; đầu tư nghiên cứu công nghệ; đào tạo cán bộ, quan
hệ với bạn hàng…
- Nhóm các yếu tố thuộc quyền quyết định của Chính phủ: là nhóm yếu
tố tạo môi trường kinh doanh, gồm: thuế, lãi suất ngân hàng; tỷ giá hối đoái,
chi ngân sách nghiên cứu; hệ thống luật pháp điều chỉnh quan hệ thị trường…
- Nhóm các yếu tố mà ngành và chính phủ chỉ tác động một phần: nhân
lực sản xuất, nhu cầu người tiêu dùng, môi trường thương mại quốc tế…
* Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia
Năng lực cạnh tranh cấp quốc gia bao gồm hệ thống chỉ số - chỉ số năng
lực cạnh tranh tổng hợp (GCI). Chỉ số này được WEF công bố trong Báo cáo
năng lực cạnh tranh toàn cầu, lần đầu tiên vào năm 2005. Theo đó, chỉ số này
được đánh giá theo 9 yếu tố, cũng là 9 nhóm cho thấy năng suất cũng như
năng lực cạnh tranh của quốc gia, bao gồm: thể chế; kết cấu hạ tầng; hiệu quả
thị trường; kinh tế vĩ mô; y tế và giáo dục cơ bản; đào tạo và giáo dục bậc
cao; trình độ kinh doanh; mức độ sẵn sàng về công nghệ; đổi mới và sáng tạo.
Báo cáo về cạnh tranh toàn cầu năm 2002, định nghĩa cạnh tranh đối với
một quốc gia là: “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và
bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao,
14
nghiệp tìm được nhà cung cấp thiết bị, nguyên vật liệu đầu vào lâu dài với giá
rẻ; được các tổ chức tín dụng cho vay vốn với lãi suất thấp; hoặc tìm được
nguồn cung lao động dồi dào, được đào tạo bài bản thì doanh nghiệp sẽ tiết
kiệm được chi phí đầu vào, qua đó có thể giảm giá thành, đồng thời nâng cao
chất lượng được sản phẩm chất lượng. Còn nếu các nhà cung cấp lại gây sức
ép tăng giá đầu vào thì doanh nghiệp sẽ phải tăng giá bán, khiến cho tính cạnh
tranh của sản phẩm giảm sút, hoặc phải chấp nhận giảm lợi nhuận để giữ
được khách hàng.
* Các doanh nghiệp trong ngành
Các đối thủ cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các doanh
nghiệp đang kinh doanh cùng ngành nghề, cùng khu vực thị trường. Số lượng,
quy mô, sức mạnh của từng đối thủ cạnh tranh đều ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Theo Michael Porter, 8 vấn đề sau sẽ ảnh hưởng
đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp so với các đối thủ: “Số lượng đối
thủ cạnh tranh là nhiều hay ít? Mức độ tăng trưởng của ngành là nhanh hay
chậm? Chi phí cố định là cao hay thấp? Các đối thủ cạnh tranh có đủ ngân
sách có đủ khả năng khác biệt hóa sản phẩm hay chuyển hướng kinh doanh
hay không? Năng lực sản xuất của các đối thủ có tăng hay không và nếu tăng
thì tăng ở tốc độ nào? Tính chất đa dạng sản xuất kinh doanh của các đối thủ
cạnh tranh ở mức độ nào? Mức độ kỳ vọng của các đối thủ cạnh tranh vào
chiến lược kinh doanh của họ và sự tồn tại của rào cản rời bỏ ngành”.
* Đối thủ tiềm ẩn
Các doanh nghiệp sẽ tham gia vào thị trường là đối thủ mới xuất hiện
hoặc sẽ xuất hiện trên khu vực thị trường mà doanh nghiệp đang và sẽ hoạt
động. Tác động của các doanh nghiệp này đối với hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp đến đâu hoàn toàn phụ thuộc vào sức mạnh cạnh
15
ngoài vòng quay của thị trường thế giới và đi đến thua lỗ, phá sản.
Vấn đề chất lượng các sản phẩm hàng hoá nói chung đã được rất nhiều
học giả quan tâm nghiên cứu, song tuỳ theo mức độ khảo sát khác nhau mà có
những quan niệm khác nhau:
John Locke (nhà triết học Anh) cho rằng: chất lượng của sản phẩm có
tính chủ quan và chia làm hai bậc: ban đầu và thứ cấp. J. Locke đã chú ý đến
những tính chất quyết định chất lượng tồn tại trong sản phẩm nhưng những
thuộc tính ấy lại phụ thuộc vào nhận thức của thế giới vật chất. Chất lượng là
một khái niệm tương đối, phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tự nhiên, kỹ thuật, môi
trường và những thói quen của từng người. Theo ngôn ngữ kinh doanh, đó là
cường độ ý muốn đối với một sản phẩm, từng hoàn cảnh khác nhau.
Emanuel Kant (nhà triết học Đức) lại cho rằng: “Chất lượng là hình thức
quan toà của sự việc”.
Nhờ những tiến bộ về triết học, về khoa học - kỹ thuật, khái niệm về chất
lượng ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện. Dựa vào các công trình nghiên
cứu về tư bản và hàng hoá (1867), Các Mác (1818 - 1883) đã bắt đầu nêu rõ
hơn khái niệm về chất lượng sản phẩm hàng hoá. Ông viết: “Người tiêu dùng
mua hàng không phải hàng có giá trị mà vì hàng có giá trị sử dụng và thoả
mãn những mục đích nhất định”. Điều đó nói lên, giá trị sử dụng được đánh
giá thông qua chất lượng.
Nền kinh tế thị trường có đặc trưng cơ bản là tập trung vào cạnh tranh,
đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng do cả xã hội và nền kinh tế đều đã phát
triển, hàng hoá được tiêu thụ mạnh hay yếu phụ thuộc rất nhiều vào sự đánh