ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*** Trần Dương Nâng cao năng lực cạnh tranh phần
mềm kế toán ACsoft của Viện Tin học
Doanh nghiệp - Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành : Kinh doanh và quản lý
Mã số : 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
2.1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ VIỆN TIN HỌC DOANH NGHIỆP 30
2.2. MỘT SỐ SẢN PHẨM PHẦN MỀM KẾ TOÁN HIỆN CÓ TRÊN THỊ
TRƯỜNG 45
2.3. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH PHẦN MỀM
KẾ TOÁN CỦA VIỆN 50
2.4. ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC CẠNH TRANH 59
2.5. ĐÁNH GIÁ TỔNG HỢP THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH,
NGUYÊN NHÂN VÀ NHỮNG TỒN TẠI 69
CHƯƠNG III. MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH
TRANH PHẦN MỀM KẾ TOÁN ACSOFT CỦA VIỆN TIN HỌC DOANH
NGHIỆP 72
3.1. NHỮNG THÁCH THỨC, THỜI CƠ VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN
CỦA VIỆN TIN HỌC DOANH NGHIỆP 72
3.2. NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ NGUỒN NHÂN LỰC 73
3.3. NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC, QUẢN LÝ KINH DOANH
THEO HƯỚNG HIỆN ĐẠI HOÁ 74
3.4. CHÍNH SÁCH SẢN PHẨM 83
3.5. CHÍNH SÁCH GIÁ 85
3.6. TỔ CHỨC HỆ THỐNG KÊNH PHÂN PHỐI 88
3.7. CHÍNH SÁCH XÚC TIẾN BÁN HÀNG 94
3.8. XÂY DỰNG VĂN HOÁ CÔNG TY 102
3.9. ĐẢM BẢO AN TOÀN TÀI CHÍNH 102
KẾT LUẬN 107
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
3
VCCI
Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt Nam
ITB
Chuẩn mực kế toán quốc tế
WTO
Tổ chức thƣơng mại thế giới DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Cơ cấu lao động của Viện tin học doanh nghiệp 31
Bảng 2.2: Tình hình doanh thu và hợp đồng mới giai đoạn 2005-2008 36
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
4
Bảng 2.3: So sánh doanh thu hợp đồng mới của các đại lý 37
Bảng 2.4: Giả định và kết quả dự báo tăng trƣởng GDP và lạm phát của Việt
Nam giai đoạn 2006-2010 38
Bảng 2.5: Doanh thu tiêu thụ theo từng phiên bản phần mềm 60
Bảng 3.1: Chi phí dự kiến cho quảng cáo tấm lớn 91
Bảng 3.2: Chi phí cho giải thƣởng của chƣơng trình khuyến mãi 94
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phần mềm là một ngành công nghiệp, phát triển trong một môi trƣờng
mới ở Việt Nam nên bƣớc đầu gặp rất nhiều khó khăn. Khó khăn đầu tiên là
do mới hình thành nên phần mềm Việt Nam phát triển chƣa có hệ thống, chƣa
có tên tuổi trong ngành công nghiệp phần mềm thế giới. Thị trƣờng tiêu thụ
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
6
phần mềm trong nƣớc nhỏ bé, manh mún, chậm phát triển, chậm đổi mới đã
không tạo đƣợc nhiều cơ hội thực hiện kỹ nghệ phần mềm cho nền công
nghiệp phần mềm trong nƣớc. Bên cạnh đó, nhân lực phần mềm nƣớc ta còn
nhiều hạn chế. Môi trƣờng để học hỏi, nâng cao tay nghề và phát triển năng
lực phần mềm chƣa tốt; nhân lực phần mềm hoạt động còn riêng lẻ; chi phí
nhân công phần mềm còn thấp nên chƣa khuyến khích đƣợc đội ngũ kỹ sƣ
phần mềm tận tâm, tận lực với nghề nghiệp.
Hiện nay, phần mềm ở Việt Nam tiếp tục đƣơng đầu với khó khăn khi
nạn sử dụng không bản quyền các phần mềm diễn ra rất phổ biến ở trong
đặt ra hiện nay đối với Viện tin học doanh nghiệp sao cho có thể nâng cao
năng lực cạnh tranh của phần mềm kế toán ACsoft trên thị trƣờng phần mềm
đáp ứng nhu cầu trong công tác quản lý tài chính kế toán của doanh nghiệp.
Đây là lý do tôi chọn vấn đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh phần
mềm kế toán ACsoft của Viện tin học doanh nghiệp - Phòng Thƣơng mại
và Công nghiệp Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình với
mong muốn đóng góp vào việc nâng cao năng lực cạnh tranh phầm mềm kế
toán ACsoft của Viện tin học doanh nghiệp trên thị trƣờng phần mềm.
2. Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nâng cao năng lực cạnh tranh công nghệ thông tin nói
chung và năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán nói riêng là một lĩnh vực
không xa lạ với các nhà nghiên cứu, hoạch định thị trƣờng nƣớc ngoài, song ở
nƣớc ta đây là một lĩnh vực khá mới mẻ.
Đã có rất nhiều bài báo, nghiên cứu nhỏ trên phƣơng tiện thông tin đề
cập đến vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán. Tuy nhiên
cho đến hiện nay chƣa có bài nào nghiên cứu cụ thể về khả năng cạnh tranh
phần mềm kế toán ACsoft của Viện tin học doanh nghiệp trên thị trƣờng phần
mềm. Nội dung của luận văn này là công trình đầu tiên nghiên cứu về nâng
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
8
cao năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán ACsoft của Viện tin học doanh
nghiệp.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Đề xuất với Viện tin học doanh nghiệp một số giải pháp nhằm nâng cao
năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán ACsoft và nâng cao vị thế cạnh tranh
của Viện trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt nhƣ hiện nay.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Quá trình nghiên cứu đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ sau:
- Phƣơng pháp luận đánh giá năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán
ACsoft của Viện tin học doanh nghiệp, tìm ra những ƣu, nhƣợc điểm trong
quá trình hoạt động kinh doanh có ảnh hƣởng trực tiếp tới năng lực cạnh
tranh.
- Đƣa ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh phần mềm
kế toán ACsoft của Viện tin học doanh nghiệp.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng:
Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận cơ bản về năng lực cạnh tranh
của sản phẩm phần mềm kế toán ứng dụng
Chƣơng II: Thực trạng năng lực cạnh tranh phần mềm kế toán
Chƣơng III: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh
phần mềm kế toán ACsoft của Viện tin học doanh nghiệp
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
10
CHƢƠNG I. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NĂNG LỰC
CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM PHẦN MỀM KẾ TOÁN ỨNG DỤNG
1.1. Một số khái niệm cơ bản
* Cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong nền kinh tế nói riêng là một khái
niệm có nhiều cách hiểu khác nhau. Khái niệm này đƣợc sử dụng cho cả
phạm vi doanh nghiệp, phạm vi ngành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu
vực liên quốc gia.
- K.Marx cho rằng cạnh tranh tƣ bản chủ nghĩa là sự ganh đua, sự đấu
tranh gay gắt giữa các nhà tƣ bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi
trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu đƣợc lợi nhuận siêu ngạch. K.Marx
đã trọng tâm nghiên cứu về cạnh tranh giữa ngƣời sản xuất và ngƣời tiêu
lĩnh thị trƣờng, giành lấy khách hàng cũng nhƣ các điều kiện sản xuất, thị
trƣờng có lợi nhất. Mục đích cuối cùng của các chủ thể kinh tế trong quá trình
cạnh tranh là tối đa hoá lợi ích, đối với ngƣời sản xuất - kinh doanh là lợi
nhuận, đối với ngƣời tiêu dùng là lợi ích tiêu dùng và sự tiện lợi.
Cạnh tranh là cố gắng giành lấy phần hơn, phần thắng về mình trong môi
trƣờng cạnh tranh. Cạnh tranh là một xu thế tất yếu trong nền kinh tế thị
trƣờng, hiện nay cạnh tranh xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của
nền sản xuất hàng hoá, cạnh tranh là động lực thúc đẩy sản xuất phát triển.
Trong nền sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị là quy luật kinh tế cơ bản và
cạnh tranh lấy quy luật giá trị làm tiền đề. Tác động của quy luật giá trị trong
việc kích thích sự phát triển của lực lƣợng sản xuất, đào thải các yếu tố lạc
hậu dựa trên cơ sở công bằng đó là sự trao đổi ngang giá. Để thắng đƣợc
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
12
trong cạnh tranh, chiếm lĩnh đƣợc thị phần, các doanh nghiệp, các ngành sản
xuất sản phẩm phải nâng cao đƣợc năng lực cạnh tranh của mình.
* Năng lực cạnh tranh
Trong môi trƣờng cạnh tranh, từng chủ thể kinh tế thể hiện vị thế của
mình so với các chủ thể khác. Vị thế đó, dựa trên những ƣu thế nhất định về
các điều kiện sản xuất, tiêu thụ hàng hoá và các yếu tố quản lý. Sức cạnh
tranh, năng lực cạnh tranh, khả năng cạnh tranh đều phản ánh vị thế cạnh
tranh của các chủ thể kinh tế, vị thế đó là những điều kiện để các chủ thể kinh
tế tham gia vào hoạt động cạnh tranh.
Theo từ điển thuật ngữ chính sách thƣơng mại: Năng lực cạnh tranh là
năng lực của một doanh nghiệp hoặc một ngành, thậm chí một quốc gia
không bị doanh nghiệp khác, ngành khác hoặc nƣớc khác đánh bại về năng
lực kinh tế.
Năng lực cạnh tranh quốc gia đƣợc định nghĩa là năng lực của một nền
kinh tế đạt đƣợc tăng trƣởng bền vững, thu hút đƣợc đầu tƣ, bảo đảm ổn định
phần của sản phẩm tăng lên so với thị phần của đối thủ cạnh tranh.
* Các lý thuyết cạnh tranh
- Lý thuyết cạnh tranh của trường phái cổ điển:
Lý luận về cạnh tranh do nhà kinh tế học ngƣời Anh Adam Smith (1723-
1790) khởi xƣớng và dựa trên quan điểm tự do cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cũng nhƣ sự tự do lựa chọn tiêu dùng của hộ gia đình, không cần có sự
can thiệp của Nhà nƣớc. Điểm xuất phát trong lý luận của ông là nhân tố “con
người kinh tế ”, trong đó loài ngƣời là một liên minh trao đổi. Trong quá trình
trao đổi sản phẩm và lao động cho nhau, con ngƣời luôn chỉ biết tƣ lợi và chỉ
làm theo tƣ lợi. Song nhờ sự sắp đặt của “bàn tay vô hình” mà “con người
kinh tế ” trong khi theo đuổi lợi ích riêng đồng thời thực hiện nhiệm vụ không
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
14
nằm trong dự kiến là đáp ứng lợi ích xã hội nên lợi ích cá nhân và lợi ích xã
hội thống nhất với nhau. Một loạt các học thuyết kinh tế ra đời sau đó đã kế
thừa và phát triển học thuyết của Adam Smith lên một bƣớc phát triển mới.
Trong tác phẩm “Những nguyên lý chính trị kinh tế học”, John Stuart Mill đã
bổ sung lý luận cạnh tranh của Adam Smith khi cho rằng chỉ khi con đƣờng
dẫn tới thành công của cá nhân thì mâu thuẫn với lợi ích xã hội, tức là thành
công do sử dụng thủ đoạn lừa đảo, ức hiếp thì Chính phủ mới cần can thiệp để
bảo vệ chính nghĩa xã hội. Ông cho rằng, có ba trƣờng hợp không cần sự can
thiệp của Chính phủ, đó là: can thiệp vào các việc mà lẽ ra để cá nhân làm thì
tốt hơn; những việc tuy để cá nhân làm chƣa hẳn đã tốt nhƣng sẽ khuyến
khích tính chủ động và tăng năng lực cá nhân của họ và những việc không cần
thiết để gia tăng quyền lực có thể gây ra tai họa.
David Ricardo (1772-1823) cũng đề cao tự do cá nhân, coi đó là tiêu
chuẩn của tiến bộ xã hội. Ông cho rằng, quá trình phát triển kinh tế bao giờ
cũng bị sự chi phối của các quy luật khách quan và phản đối sự can thiệp của
Chính phủ vào các hoạt động kinh tế.
tranh hoàn hảo. Vấn đề trọng tâm của những nghiên cứu này là hàng hóa tạp
chủng, độc quyền nhóm, và bổ sung những hình thức cạnh tranh không qua
giá cả, chẳng hạn qua kênh phân phối, qua quảng cáo. Mô hình cạnh tranh
không hoàn hảo hoặc cạnh tranh mang tính độc quyền là phạm trù thứ ba giữa
hai cực là độc quyền và cạnh tranh hoàn hảo. So với hai phạm trù kia, sự khác
biệt của nó do nó thiếu một số nhân tố hoàn hảo hoặc nhân tố độc quyền của
thị trƣờng. Sự khởi đầu của quá trình phân tích này là việc nhận thấy rằng rõ
ràng không bao giờ có thể tồn tại cạnh tranh hoàn hảo bởi vì những giả thiết
về sự tồn tại tất cả những nhân tố hoàn hảo của thị trƣờng là điều gần nhƣ
không tƣởng.
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
16
Theo nghĩa rộng, có thể hiểu cạnh tranh mang tính độc quyền là cạnh
tranh giữa nhiều đơn vị cung với những hàng hóa khác biệt (khác biệt theo
giá, địa dƣ, chất liệu, thời gian và con ngƣời) cạnh tranh lẫn nhau trên thị
trƣờng với một số ít đơn vị cung.
Theo nghĩa hẹp (sau khi những lý thuyết về hình thái thị trƣờng độc
quyền nhóm ra đời và phát triển), đến nay ngƣời ta hiểu khái niệm cạnh tranh
mang tính độc quyền chỉ là: cạnh tranh giữa nhiều ngƣời cùng với những
hàng hóa khác biệt.
Lý thuyết cạnh tranh mang tính độc quyền đã tạo cơ sở cho các doanh
nghiệp có thêm những phƣơng pháp để xây dựng chiến lƣợc Marketing khác
nhau phù hợp với vị thế của doanh nghiệp trên thị trƣờng đồng thời phù hợp
với hình thái thị trƣờng trong từng thời kỳ nhất định.
- Lý thuyết cạnh tranh hiệu quả:
Vào đầu những năm 40 của thế kỷ XX, lý thuyết cạnh tranh hiệu quả đƣợc
hình thành dựa trên luận điểm: “Lấy độc trị độc” của nhà kinh tế học Mỹ
Maurice Clack. Nội dung của luận điểm này là: những nhân tố không hoàn hảo
trên thị trƣờng có thể đƣợc sửa chữa bằng những nhân tố không hoàn hảo khác.
phát triển, phù hợp với điều kiện thực tế nên hiện nay nhiều nhà kinh tế học
cũng nhƣ Chính phủ và doanh nghiệp đang rất quan tâm đến học thuyết của
trƣờng phái tự do.
Dựa trên luận điểm của Schumpter, Clack đã nhanh chóng tiếp thu và
gắn nó với lý thuyết cạnh tranh trong tác phẩm “Cạnh tranh như là một quá
trình động” (Competition as a Dynamic Process). Theo đó, siêu lợi nhuận mà
các doanh nghiệp tiên phong thu đƣợc dựa trên cơ sở lợi thế nhất thời vừa là
hệ quả, vừa là tiền đề của cạnh tranh. Các khoản lợi nhuận này không nên
giảm ngay lập tức mà chỉ nên giảm dần để doanh nghiệp có đủ điều kiện và
thời gian tạo ra một sự đổi mới, cải tiến khác. Theo Clark, sự vận hành của
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
18
cạnh tranh đƣợc đo lƣờng bằng sự giảm giá và tăng chất lƣợng hàng hóa cũng
nhƣ sự hợp lý hóa trong sản xuất.
Tóm lại, qua nghiên cứu trên có thể nhận thấy nội dung cơ bản của lý
thuyết cạnh tranh hiệu quả là phân biệt rõ những nhân tố không hoàn hảo nào
là có ích, nhân tố không hoàn hảo nào là có hại cho cạnh tranh và nhận biết
đƣợc điều kiện nào là điều kiện cần và đủ đảm bảo tính hiệu quả của cạnh
tranh trong nền kinh tế.
1.2. Các nhân tố của môi trƣờng kinh doanh và tác động của nó tới thị
trƣờng phần mềm kế toán
Có rất nhiều yếu tố chi phối đến năng lực cạnh tranh của sản phẩm -
hàng hoá - dịch vụ nhƣ: giá cả, chất lƣợng, nhu cầu thị trƣờng, lao động, công
nghệ, môi trƣờng kinh doanh,… Vì thế muốn nâng cao năng lực cạnh tranh
bất cứ một sản phẩm nào cũng cần phải kết hợp tất cả những yếu tố nói trên
trong điều kiện có thể. Đồng thời phải thực hiện hàng loạt các biện pháp và
duy trì ở mức tối ƣu các mối quan hệ đa tầng và đa chiều. Tuy nhiên, xem xét
tất cả các yếu tố nói trên, chúng ta có thể nhận thấy rằng việc áp dụng chúng
đều hƣớng tới mục tiêu: nâng cao chất lƣợng và hạ thấp giá thành sản phẩm
trình kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Những quá trình này làm thay
đổi môi trƣờng kinh tế và ảnh hƣởng đến chiến lƣợc kinh doanh của doanh
nghiệp. Nhà quản trị doanh nghiệp cần phải quan tâm đến môi trƣờng dân số
ở các mặt: tổng dân số xã hội, mật độ dân số, tỷ lệ gia tăng dân số, kết cấu và
xu hƣớng thay đổi kết cấu dân số về tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, mức thu
nhập, tuổi thọ trung bình, sự chuyển dịch dân cƣ từ nông thôn lên thành thị.
* Môi trường tự nhiên
Môi trƣờng tự nhiên luôn luôn là yếu tố đặc biệt quan trọng không chỉ
đối với đời sống của con ngƣời, mà còn là yếu tố đầu vào hết sức quan trọng
của các ngành kinh tế. Môi trƣờng tự nhiên bao gồm: vị trí địa lý, đất đai,
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
20
sông biển, tài nguyên khoáng sản, rừng, môi trƣờng sinh thái,… Nhận biết
đƣợc các yếu tố ngoại cảnh tự nhiên đó sẽ giúp cho doanh nghiệp hƣớng
những hoạt động nhằm khai thác tốt nhất các lợi thế của vị trí địa lý, khí hậu
tài nguyên, có chiến lƣợc hành động đúng trong việc nghiên cứu phát triển
công nghệ chế tạo sản phẩm, dịch vụ phù hợp.
Từ những năm 1990 điều kiện của môi trƣờng tự nhiên ngày càng xấu đi
đã trở thành một trong những vấn đề quan trọng đặt ra trƣớc các doanh nghiệp
và công chúng. Ở nhiều thành phố trên thế giới tình trạng ô nhiễm không khí
và nƣớc đã đạt tới mức độ nguy hiểm. Một mối lo rất lớn là các hoá chất công
nghiệp đã tạo ra lỗ thủng trên tầng ozone gây nên hiệu ứng nhà kính, tức là
làm cho trái đất nóng lên đến mức độ nguy hiểm.
Vật chất của trái đất có loại vô hạn, loại hữu hạn, có thể tái tạo đƣợc và
loại hữu hạn không tái tạo đƣợc. Nguồn tài nguyên vô hạn, nhƣ không khí,
không đặt ra vấn đề cấp bách, mặc dù có một số nhóm đã thấy có mối nguy
hiểm lâu dài. Các nhóm bảo vệ môi trƣờng đã vận động cấm sử dụng một số
chất tẩy nhất định trong các bình xịt, vì chúng có khả năng phá huỷ tầng
ozone của khí quyển. Ở một số khu vực trên thế giới, nƣớc đã là một vấn đề
chất gây ô nhiễm khác trong đất và thực phẩm và việc vứt bừa bãi trong môi
trƣờng những chai lọ, các vật liệu bao bì bằng nhựa và chất khác không bị
phân huỷ sinh học.
Mối lo lắng của công chúng đã tạo ra một cơ hội marketing cho những
công ty nhạy bén. Nó đã tạo ra một thị trƣờng lớn cho các giải pháp kiểm soát
ô nhiễm, nhƣ tháp lọc khí, các trung tâm tái sinh và hệ thống bãi thải. Nó dẫn
đến chỗ tìm kiếm những phƣơng án sản xuất và bao gói hàng hoá không huỷ
hoại môi trƣờng. Những công ty khôn ngoan, thay vì để bị chậm chân, đã chủ
động có những chuyển biến theo hƣớng bảo vệ môi trƣờng để tỏ ra là mình có
quan tâm đến tƣơng lai của môi trƣờng thế giới. [9, 182-185]
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
22
* Môi trường khoa học - công nghệ
Một lực lƣợng quan trọng nhất, tác động đến cuộc sống của con ngƣời là
công nghệ. Công nghệ đã tạo ra những điều kỳ diệu nhƣ penicillin, mổ tim
mở. Nó cũng đã gây ra những nỗi kinh hoàng nhƣ bom khinh khí, khí độc đối
với hệ thần kinh và súng tiểu liên. Nó đã đem lại cho ta những thứ vừa lợi vừa
hại, nhƣ ô tô, trò chơi video, bánh mì trắng. Thái độ của ngƣời ta đối với công
nghệ tuỳ thuộc vào chỗ ngƣời đó nghĩ nhiều đến những điều kỳ diệu hay
những điều kinh hoàng mà nó đem lại.
Tốc độ tăng trƣởng của nền kinh tế chịu ảnh hƣởng của số lƣợng công
nghệ mới quan trọng đƣợc khám phá ra. Đáng tiếc là những phát triển về công
nghệ không xuất hiện đều đặn theo thời gian, ngành đƣờng sắt đã tạo ra rất
nhiều vốn đầu tƣ, rồi sau đó bẵng đi cho đến khi xuất hiện ngành ô tô, rồi
radio cũng đã tạo ra rất nhiều vốn đầu tƣ và sau đó bẵng đi cho đến khi xuất
hiện truyền hình. Trong khoảng thời gian giữa hai sự kiện đổi mới quan trọng,
nền kinh tế có thể đình đốn. Một số nhà kinh tế tin chắc rằng tình trạng phẳng
lặng hiện tại về kinh tế thế giới sẽ còn tiếp tục cho đến khi xuất hiện đủ số
lƣợng những sự kiện đổi mới quan trọng mới. Trong khoảng thời gian đó,
hoá xâm nhập vào thị trƣờng các nƣớc. Điều này đồng nghĩa với việc hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp chịu ảnh hƣởng bởi các quy định, luật
pháp, thủ tục của nƣớc sở tại. Mọi sự biến động về môi trƣờng luật pháp,
chính sách của một nƣớc trên thế giới đều có khả năng ảnh hƣởng đến các
doanh nghiệp phần mềm kế toán trong nƣớc và thị trƣờng phần mềm kế toán
của các doanh nghiệp đó. Trong điều kiện đó, sự thấu hiểu thông lệ và luật
pháp quốc tế, cơ chế chính sách của nƣớc sở tại là cơ sở quan trọng giúp
doanh nghiệp tránh đƣợc những tổn thất không đáng có trong nỗ lực chiếm
lĩnh thị trƣờng.
* Môi trường văn hoá - xã hội
Luận văn thạc sỹ
Trần Dương Lớp cao học QTKD - K14
24
Ở tầm chiến lƣợc trung và dài hạn, môi trƣờng văn hoá - xã hội là một
trong những nhân tố thay đổi lớn nhất. Những lối sống tự thay đổi nhanh
chóng theo hƣớng du nhập những lối sống mới luôn là cơ hội và cũng là thách
thức cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng phải nghiên cứu thái độ tiêu dùng,
sự thay đổi của tháp tuổi, tỷ lệ kết hôn và sinh đẻ, vị trí vai trò của ngƣời phụ
nữ tại nơi làm việc và gia đình. Sự xuất hiện của hiệp hội những ngƣời tiêu
dùng là một thách thức đòi hỏi các doanh nghiệp phải quan tâm, đặc biệt là
phải đảm bảo chất lƣợng sản phẩm, dịch vụ theo cam kết vì lợi ích ngƣời tiêu
dùng. Trình độ dân trí ngày càng cao đã, đang và sẽ là một thách thức đối với
các nhà kinh doanh. Văn hoá truyền thống và văn hoá tiếp nhận qua các hình
thức giao lƣu hình thành nền tảng văn hoá của mỗi quốc gia, có tính hệ thống,
có giá trị theo các mức độ khác nhau, có tính lịch sử, có mặt tích cực, có mặt
tiêu cực, … ảnh hƣởng đến tƣ duy và hành động của con ngƣời trong các hoạt
động thuộc các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.
Những ngƣời sống trong một xã hội cụ thể có rất nhiều niềm tin và giá
trị cốt lõi có khuynh hƣớng tồn tại lâu bền. Những niềm tin và giá trị thứ yếu
của con ngƣời dễ thay đổi hơn. Mọi xã hội đều chứa đựng nhiều nhánh văn
dùng. Do đó, muốn giành đƣợc vị trí xứng đáng trên thƣơng trƣờng, bất cứ
doanh nghiệp nào cũng phải bƣớc vào thị trƣờng với một sản phẩm hấp dẫn
và khi cần thiết phải biết thay thế bằng một sản phẩm mới kịp thời.
Việc tung vào thị trƣờng một sản phẩm mới, chất lƣợng cao, mẫu mã đẹp
và hơn hẳn sản phẩm của đối thủ cạnh tranh luôn là vấn đề sống còn trong
kinh doanh của một doanh nghiệp. Mỗi chiến lƣợc sản phẩm bao giờ cũng
phải giải đáp đƣợc hai câu hỏi lớn:
- Toàn bộ sản phẩm đang có của doanh nghiệp đƣợc thị trƣờng chấp
nhận đến mức độ nào và có cần phải sửa đổi, thêm bớt, hoặc loại bỏ cái gì cho
phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của ngƣời tiêu dùng không?