Nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi nhánh Nghệ An - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*** Võ Thị Thu Hồng

Nâng cao khả năng cạnh tranh
của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển chi
nhánh Nghệ An

Chuyên ngành : Kinh doanh và quản lý
Mã số : 60 34 05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KIN DOANH VÀ QUẢN LÝ


1.3.5 Chất lượng nguồn nhân lực 25
1.4 Các công cụ cạnh tranh chủ yếu trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của
NHTM 26
1.4.1 Cạnh tranh bằng sản phẩm 26
1.4.2 Cạnh tranh bằng giá bán sản phẩm 29
1.4.3 Cạnh tranh bằng kênh phân phối 30
1.4.4 Cạnh tranh bằng các hoạt động xúc tiến quảng cáo 31
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
2
1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín
dụng ngắn hạn của NHTM 32
1.5.1 Nhóm nhân tố khách quan 32
1.5.2 Nhóm nhân tố chủ quan. 36
Chƣơng II: Phân tích khả năng cạnh tranh tại Ngân hàng đầu tƣ & phát
triển chi nhánh Nghệ An 43
2.1 Khái quát về Ngân hàng đầu tư & phát triển chi nhánh Nghệ An. 43
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng ĐT&PTNA 43
2.1.2 Bộ máy tổ chức của Ngân hàng ĐT&PTNA 47
2.2 Phân tích khả năng cạnh tranh của Ngân hàng đầu tư & phát triển chi
nhánh Nghệ An. 50
2.2.1 Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng qua các
chỉ tiêu phản ánh. 50
2.2.2 Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng thông
qua việc sử dụng các công cụ cạnh tranh. 64
2.3 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của ngân
hàng ĐT&PTNA trong hoạt động tín dụng ngắn hạn 70
2.3.1 Nhóm nhân tố khách quan 70
2.3.2 Nhóm nhân tố chủ quan 73

khi ngân hàng và các đối thủ cạnh tranh mở rộng danh mục dịch vụ. Các ngân
hàng, các quỹ đầu tư, các quỹ hưu trí, các hiệp hội tiết kiệm… đang cạnh
tranh để tìm kiếm các nguồn tiết kiệm và thị trường dịch vụ. Áp lực cạnh
tranh đóng vai trò như một lực đẩy tạo ra sự phát triển dịch vụ cho tương lai.
Cạnh tranh thúc đẩy các ngân hàng cung cấp các tiện ích ngày càng tốt
hơn cho khách hàng. Công chúng có một mức thu nhập khá hơn từ khoản tiết
kiệm của mình. Nhiều loại tài khoản tiền gửi mới được phát triển. Lãi suất
cho vay và điều kiện cho vay cũng thông thoáng hơn. Đầu năm 90, thời gian
xét duyệt cho vay có khi phải vài tuần, cho đến vài tháng, thời gian chuyển
tiền cũng hàng chục ngày. Hiện nay, chỉ sau khoảng 5-10 giây, ngân hàng
phải trả lời có cho vay hay không, chuyển tiền chỉ mất vài giờ hoặc vài ngày.
Cạnh tranh buộc các ngân hàng trong nước phải áp dụng công nghệ mới thay
đổi tư duy về tuyển dụng nhân sự, mức lương, quảng cáo và đặc biệt chú ý tới
chất lượng phục vụ.
Đặc biệt ngày nay trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế với xu thế
toàn cầu hoá và lĩnh vực ngân hàng - tài chính cũng nằm trong xu thế đó,
thậm chí nghành ngân hàng còn là một trong những lĩnh vực ưu tiên hàng
đầu, thì vấn đề cạnh tranh trong lĩnh vực này càng gay gắt hơn vì lúc đó các
ngân hàng trong nước không những cạnh tranh với nhau mà còn phải đối mặt
với các ngân hàng nước ngoài. Mà những ngân hàng nước ngoài thường có uy
tín, trình độ quản lý tốt, lại có lợi thế lớn về vốn và công nghệ, cách thức tiếp
thị rất bài bản vì thế ngay khi xâm nhập thị trường Việt Nam họ có thể thu hút
khách hàng.
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
5
Với vai trò phục vụ đầu tư phát triển thì ngân hàng đầu tư và phát triển
nói chung hay chi nhánh Nghệ An nói riêng đã và đang ngày càng nâng cao
được uy tín về cung ứng các sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế

Nghệ An.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu các lý luận cơ bản về khả năng cạnh tranh của ngân hàng
- Nghiên cứu về thực trạng khả năng cạnh tranh của ngân hàng
ĐT&PTNA
- Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của
ngân hàng ĐT&PTNA.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề khả năng cạnh tranh trên thị trường của
ngân hàng của ngân hàng ĐT&PTNA.
Phạm vi nghiên cứu: Trong hoạt động tín dụng ngắn hạn.
Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2005 - 2007.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Dựa trên việc thu thập thông tin thực tế và xử lý thông tin bằng máy
tính để tính toán, phân tích và so sánh năng lực cạnh tranh của ngân hàng
ĐT&PTNA so với các đối thủ cạnh tranh chính trong khu vực.
- Dựa vào ý kiến của các chuyên gia kinh tế, các khách hàng bằng cách
dùng “phiếu điều tra” để đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng
ĐT&PTNA so với các ngân hàng khác trên địa bàn Tỉnh Nghệ An.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá một số lý luận cơ bản về cạnh tranh và khả năng cạnh
tranh của ngân hàng.
- Đưa ra các chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh trong ngân hàng.
- Đưa ra các công cụ cạnh tranh của ngân hàng.
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
7
- Đánh giá năng lực cạnh tranh và đề xuất một số giải pháp nhằm năng
cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng ĐT&PTNA.

đời sống sản xuất – kinh doanh – tiêu dùng và không ngừng khẳng định vai
trò quan trọng nhất trong hệ thống tài chính nói riêng và nền kinh tế nói
chung.
Cách tiếp cận thận trọng nhất và có thể xem xét tổ chức này trên phương
diện những loại hình dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Ngân hàng là tổ chức
tài chính, cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc biệt
là tín dụng, tiết kiệm, các dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
Theo luật các tổ chức tín dụng số 02/1997/QH10 ngày 12/12/1997, sửa
đổi năm 2001. Thì “Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức kinh doanh
tiền tệ và dịch vụ với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng
với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền này để cung cấp tín dụng và cung
ứng dịch vụ thanh toán”.
* Các hoạt động cơ bản của ngân hàng thƣơng mại
- Hoạt động huy động vốn.
Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy
động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Huy động vốn - hoạt
động tạo nguồn vốn cho ngân hàng thương mại, hoạt động này đóng vai trò
rất quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động của ngân hàng. Các ngân
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
9
hàng thương mại đã tìm mọi cách để huy động được tiền bởi nguồn tiền huy
động này là điều kiện cần để có thể thực hiện các hoạt động sử dụng vốn cho
ngân hàng. Một trong những nguồn quan trọng nhất của ngân hàng thương
mại là các khoản tiền gửi thanh toán và tiết kiệm của khách hàng. Ngân hàng
mở dịch vụ nhận tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ khách hàng, bằng cách
đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư. Để
gia tăng nguồn tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền

Khi thực hiện hoạt động này, ngân hàng đóng vai trò trung gian, cung
cấp dịch vụ khác như: bảo quản tài sản hộ, cho thuê thiết bị…
1.1.2 Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại
* Khái niệm
Tín dụng là quan hệ vay mượn, gồm cả cho vay và đi vay. Tuy nhiên, khi
gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặc các trung gian khác),
ví dụ như: tín dụng ngân hàng thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng cho vay.
Việc xác định như thế này là rất cần thiết để định lượng tín dụng trong các
hoạt động kinh tế.
Như vậy có thể rút ra khái niệm về tín dụng một cách đơn giản: Tín dụng
là quan hệ vay mượn dựa trên nguyên tắc có hoàn trả.
Từ khái niệm về tín dụng có thể rút ra khái niệm về tín dụng ngân hàng
như sau: Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng giữa các ngân hàng, các tổ
chức tín dụng khác với các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư được thực hiện
dưới hình thức vốn tín dụng bằng tiền bao gồm tiền mặt và bút tệ.
* Hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại bao gồm:
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
11
- Tín dụng thương mại: Ngay ở thời kỳ đầu, các ngân hàng đã chiết khấu
thương phiếu mà thực tế là cho vay đối với những người bán, người bán
chuyển các khoản thu cho ngân hàng để lấy tiền trước. Sau đó, ngân hàng cho
vay trực tiếp đối với các khách hàng (người mua), giúp họ có vốn để mua
hàng dự trữ nhằm mở rộng sản xuất kinh doanh.
- Tín dụng tiêu dùng: Trong giai đoạn đầu, hầu hết các ngân hàng thương
mại không tích cực cho vay đối với cá nhân và hộ gia đình bởi vì họ cho rằng
các khoản cho vay tiêu dùng thường nhỏ lẻ và rủi ro mất vốn tương đối cao.
Song sự gia tăng thu nhập của người tiêu dùng và sự cạnh tranh trong hoạt
động cho vay đã hướng các ngân hàng tới người tiêu dùng như một khách

lại rất thấp.
- Tín dụng phân chia theo đảm bảo:
+ Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là việc cho vay vốn của tổ chức tín
dụng mà theo đó nghĩa vụ trả nợ của khách hàng được cam kết bảo đảm thực
hiện bằng tài sản cầm cố, thế chấp, tài sản hình thành từ vốn vay được bảo
lãnh bằng tài sản của bên thứ ba. Tín dụng có tài sản đảm bảo được chia thành
tín dụng thế chấp và tín dụng cầm cố.
Tín dụng thế chấp là hình thức mà người nhận tài trợ phải chuyển các
giấy tờ chứng nhận sở hữu hoặc sử dụng các tài sản đảm bảo sang cho ngân
hàng nắm giữ trong thời gian cam kết. Tín dụng cầm cố: Là hình thức mà
người nhận tài trợ của ngân hàng phải chuyển quyền kiểm soát tài sản đảm
bảo sang cho ngân hàng trong thời gian cam kết.
+ Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Loại tín dụng này thường được
cấp cho khách hàng có uy tín, làm ăn thường xuyên, tình hình tài chính vững
mạnh, ít xảy ra tình trạng nợ dây dưa khó đòi hoặc cũng có thể cấp theo chỉ
định của chính phủ. Tổ chức tín dụng có thể lựa chọn khách hàng vay để cấp
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
13
tín dụng không có đảm bảo bằng tài sản khi cho vay vốn ngắn hạn, trung hạn,
dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển phương án sản xuất kinh
doanh, dịch vụ và đời sống đối với khách hàng vay đủ các điều kiện sau:
. Sử dụng vốn vay có hiệu quả và trả nợ gốc, lãi vốn vay đúng hạn
trong quan hệ vay vốn với tổ chức tín dụng cho vay hoặc các tín dụng khác.
. Có dự án đầu tư, phương án sản xuất kinh doanh, dịch vụ khả thi, có
hiệu quả, hoặc có dự án đầu tư, phương án phục đời sống khả thi, phù hợp với
quy định của pháp luật
. Có khả năng tài chính để thực hiện nghĩa vụ trả nợ
. Cam kết thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản theo yêu cầu của

Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ
khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra song ngân hàng đã cho
khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi. Bảo lãnh được ghi vào tài sản
ngoại bảng, đó là phần giá trị mà ngân hàng cam kết trả thay khách hàng của
mình. Phần bảo lãnh ngân hàng phải thực hiện chi trả được ghi vào nội bảng.
1.1.3 Tín dụng ngắn hạn của ngân hàng thƣơng mại
* Khái niệm
Theo quyết định 1627/2001/QĐ – NHNN ngày 31/12/2001 thì: Tín dụng
ngắn hạn được hiểu một cách đơn giản là: Tín dụng ngắn hạn là loại tín dụng
có thời hạn dưới 12 tháng.
* Đặc điểm của tín dụng ngắn hạn
- Vốn vay ngắn hạn luân chuyển cùng chu kỳ sản xuất kinh doanh của
khách hàng. Tín dụng ngắn hạn chủ yếu để đáp ứng nhu cầu thiếu hụt tạm
thời vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
15
cho vay và thu nợ luôn diễn ra lúc bắt đầu và kết thúc của chu kỳ sản xuất
kinh doanh. Ngân hàng thường cho vay khi phát sinh nhu cầu vốn để mua vật
tư, nguyên vật liệu, hoặc trang trải các chi phí sản xuất và khi hàng hoá được
tiêu thụ, khách hàng có thu nhập, cũng là lúc ngân hàng thu hồi nợ. Xuất phát
từ đặc điểm này, các ngân hàng thường quy định thời hạn cho vay trên cơ sở
chu kỳ sản xuất của người vay. Do vậy, thời gian thu hồi vốn trong cho vay
ngắn hạn nhanh.
- Rủi ro của khoản tín dụng ngắn hạn thấp hơn khoản tín dụng trung và
dài hạn do thời hạn thu hồi vốn nhanh, cũng vì vậy là mức lãi suất tín dụng
ngắn hạn thấp hơn mức lãi suất trung và dài hạn.
- Hình thức cấp tín dụng phong phú: Ngân hàng cung cấp ngày càng đa
dạng các loại hình thức cấp tín dụng ngắn hạn như: Cho vay mua hàng dự trữ,

một ngành chỉ có duy nhất một nhà cung cấp, Độc quyền mua khi chỉ có duy
nhất một nhà tiêu thụ, Độc quyền nhóm (một ngành do một số ít nhà cung cấp
chi phối).
Cùng với khái niệm cạnh tranh, “ Lợi thế cạnh tranh” đã trở thành một
nội dung quan trọng đối với bất cứ cá nhân hay tổ chức nào đang hoạt động
trong nền kinh tế.
Lợi thế cạnh tranh được hiểu như là các đặc điểm hay các biến số của
sản phẩm hoặc nhãn hiệu, mà nhờ có chúng doanh nghiệp tạo ra một số tính
trội hơn, ưu việt hơn so với những người cạnh tranh trực tiếp.
Lợi thế cạnh tranh được coi là bên ngoài khi chúng dựa trên chiến lược
phân biệt sản phẩm, hình thành nên giá trị cho người mua hoặc bằng cách
giảm chi phí sử dụng hoặc bằng cách tăng khả năng sử dụng. Lợi thế này tạo
cho doanh nghiệp “quyền lực thị trường”.
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
17
Lợi thế cạnh tranh bên trong dựa trên tính ưu việt của doanh nghiệp
trong việc làm chủ chi phí sản xuất. Nó tạo nên giá trị thấp hơn so với người
cạnh tranh trực tiếp.
Các loại lợi thế cạnh tranh có thể kể đến: Chất lượng của hàng hoá, giá
cả của hàng hoá, áp dụng khoa học - kỹ thuật và quản lý hiện đại, lợi thế về
thông tin, phương thức phục vụ và thanh toán của ngân hàng, tính độc đáo của
sản phẩm, chữ tín của công cụ cạnh tranh, lợi thế của các yếu tố mới sáng tạo.
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp được đánh giá như một chỉ tiêu
tổng hợp phản ánh khả năng kết hợp các lợi thế cạnh tranh mà ngân hàng
đang có để biến chúng thành những công cụ cạnh tranh hữu hiệu trong việc
chiếm lĩnh thị trường, tăng lượng khách hàng sử dụng sản phẩm, khẳng định
vị trí của ngân hàng trên thị trường.
Doanh nghiệp nào có khả năng cạnh tranh cao, doanh nghiệp đó sẽ chiến

Cạnh tranh giữa các ngân hàng là hoạt động cung ứng cho khách hàng
những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao nhằm giành khách hàng, chiếm
lĩnh thị trường, khẳng định vị trí của ngân hàng trên thị trường và vượt lên các
ngân hàng khác trong cùng lĩnh vực hoạt động.
Do đặc thù của lĩnh vực ngân hàng là trung gian tài chính lớn trong nền
kinh tế, các ngân hàng vừa là nhà cung ứng vừa là khách hàng của nhau. Do
đó, hoạt động của một ngân hàng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các
ngân hàng khác, đến nền kinh tế. Vậy thì, cạnh tranh giữa các ngân hàng có
cần thiết hay không và cạnh tranh giữa các ngân hàng là tốt hay xấu.
Trước đây, quan điểm chủ đạo là duy trì sự ổn định trong ngành ngân
hàng tài chính, cạnh tranh là xấu phải giới hạn. Quan điểm này đã tồn tại ở
các quốc gia khá lâu, nó gắn với thời kì đầu phát triển nền kinh tế. Người ta
tin rằng, độc quyền hay việc phân chia rõ ràng thị phần giữa các ngân hàng có
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
19
thể khiến các ngân hàng thu được nhiều lợi nhuận, tạo ra sự ổn định cho bản
thân các ngân hàng nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung, không ai phải
cạnh tranh với ai để làm mất thế ổn định đã định sẵn. Công cụ chủ yếu để
quản lý, tránh cạnh tranh là trần lãi suất, quy định một mức lãi suất cao nhất
được phép cho hoạt động tín dụng, mức lãi suất này được quy định bởi ngân
hàng trung ương.
Việt Nam thời kì trước những năm 1990, hệ thống ngân hàng chưa phát
triển, chủ yếu là các NHTM quốc doanh, việc phân chia thị trường khá rõ
ràng 4 mảng công nghiệp, nông nghiệp, ngoại thương và đầu tư cho 4 NHTM
quốc doanh lớn, chịu nhiều sự can thiệp trực tiếp của Ngân hàng nhà nước
Việt Nam. Nhưng cùng với sự phát triển của nền kinh tế, của thị trường, ngày
càng có nhiều ngân hàng mới ra đời cùng với các sản phẩm dịch vụ mới mẻ
và đa dạng. Thực tế đã cho thấy, cung về sản phẩm dịch vụ ngân hàng là rất

không mong đợi: thị phần bị chiếm lĩnh, mất khách hàng, thu nhập giảm thậm
chí phá sản là những điều ngân hàng nhận được khi bị đối thủ cạnh tranh chèn
ép, chiếm mất thị phần.
Nếu không muốn lâm vào tình thế đó, các ngân hàng phải vận động,
thậm chí là vận động quyết liệt để giành lại thị phần, đáp ứng nhu cầu của thị
trường, thu hút lại được khách hàng đã mất cũng như giành được các khách
hàng mới. Như vậy, đôi khi các ngân hàng đã tham gia vào quá trình cạnh
tranh một cách tự phát và tất yếu. Tuy nhiên, để đạt được hiệu quả như mong
đợi các ngân hàng phải đánh giá được đúng tình hình thị trường, bản thân
ngân hàng và đối thủ cạnh tranh, từ đó nhận thức được đúng ý nghĩa của cạnh
tranh, tận dụng những lợi thế cạnh tranh của mình đưa ra những chính sách
cạnh tranh phù hợp để nâng cao khả năng cạnh tranh.
Như vậy theo quan điểm hiện đại, cạnh tranh là tốt, nó buộc các NHTM
phải vận động, đổi mới về tổ chức bộ máy, hệ thống công nghệ thông tin,
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
21
trình độ nghiệp vụ của cán bộ nhân viên, đưa ra các sản phẩm mới và tính hữu
ích của sản phẩm, tạo dựng hình ảnh của ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thị
trường, chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Điều đó không chỉ đem lại lợi ích cho
bản thân ngân hàng mà còn cho khách hàng của ngân hàng và cho nền kinh tế.
Tuy nhiên, cạnh tranh sẽ là xấu nếu nó trở thành độc quyền: Sử dụng tiềm lực
của mình để thâu tóm thị trường, áp đặt giá, thông đồng, sát nhập để thâu tóm
thị trường cuả một nhóm ngân hàng. Đó là cạnh tranh không lành mạnh, thiệt
thòi cho khách hàng, không tạo được động lực cho thúc đẩy nền kinh tế. Do
đó, cần thiết có sự quản lý chặt chẽ của chính phủ và Ngân hàng Trung ương
để đảm bảo tính công bằng và sự cạnh tranh lành mạnh trên thị trường.
1.2.3 Cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của các
NHTM

khảo học hỏi thêm kinh nghiệm về sản phẩm dịch vụ, thậm chí là “sao chép”
sản phẩm của đối thủ cạnh tranh. Điều này giúp các NHTM tiết kiệm chi phí,
tham gia đầu tư, hạn chế rủi ro và phát triển sản phẩm mới nhanh chóng.
Để thực sự phát triển, chiếm thị phần lớn trong mảng tín dụng ngắn hạn,
các NHTM phải thực sự nhanh nhạy, năng động, biến nhu cầu thị trường
thành các thuộc tính sản phẩm dịch vụ tín dụng ngắn hạn của mình, tạo ra sản
phẩm mới với việc xác định: Cung cấp dịch vụ cho ai, cung cấp cái gì, cung
cấp bằng cách nào, nhằm mục đích gì. Đó là quá trình sử dụng lợi thế cạnh
tranh để chiếm lĩnh thị trường, vượt lên trên đối thủ. Cạnh tranh trong hoạt
động tín dụng ngắn hạn giữa các NHTM vô cùng khốc liệt, nhưng phần
thưởng to lơn xứng đáng cho những ai dành được lợi thế.
1.3 Hệ thống các chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh của các
ngân hàng trong hoạt động tín dụng ngắn hạn
Nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng ĐT&PT chi nhánh Nghệ An

Vâ ThÞ Thu Hång K14 QTKD – §HKT- §HQGHN
23
Trong quá trình đánh giá hiệu quả kinh doanh, lãnh đạo ngân hàng không
thể bỏ qua việc đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng mình với các
ngân hàng và tổ chức tài chính khác. Tuỳ theo các mục đích phân tích mà
người lãnh đạo lựa chọn các chỉ tiêu khác nhau.
Với loại chỉ tiêu này, các con số thu thập được từ chính hoạt động kinh
doanh của ngân hàng như doanh số, thị phần tín dụng hay từ việc thu thập trên
thị trường như số lượng khách hàng cả về số tương đối và tuyệt đối sẽ giúp
ngân hàng đánh giá được khả năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắn
hạn của ngân hàng như thế nào so với các đối thủ.
1.3.1 Tổng dƣ nợ cho vay ngắn hạn (DNNH)
% Dư nợ cho vay ngắn hạn = (Dư nợ ngắn hạn/ tổng dư nợ)*100
Đây là một chỉ tiêu định lượng, xác định cơ cấu ngắn hạn (phân theo tiêu
chí thời hạn cho vay (ngắn, trung, dài hạn)) so với tổng mức tín dụng của

một tổng thể các ngân hàng (ví dụ các ngân hàng quốc doanh, các ngân hàng
ngoài quốc doanh). Với một sản phẩm tín dụng ngắn hạn tung ra được thị
trường đón nhận, nếu sản phẩm của ngân hàng đó được phần lớn khách hàng
sử dụng thì ngân hàng chiếm được thị phần lớn. Dù thị phần lớn nhưng chưa
thể nói lên ảnh hưởng của ngân hàng đối với thị trường có lớn hay không
nhưng qua đó cũng thấy được vị thế và tính ổn định của ngân hàng đó trên thị
trường.
Đối với các nhà quản trị ngân hàng trong hoạt động tín dụng ngắn hạn,
thị phần tín dụng ngắn hạn là một chỉ tiêu không thể thiếu để đánh giá khả
năng cạnh tranh trong hoạt động tín dụng ngắn hạn của ngân hàng mình với
đối thủ cạnh tranh.

Trích đoạn Nhóm nhân tố chủ quan Bộ máy tổ chức của Ngân hàng ĐT&PTNA Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng qua các Phân tích và đánh giá khả năng cạnh tranh của ngân hàng thông Kiến nghị với chính phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status