ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHÍ MẠNH LINH
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH
BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG
Chuyên ngàn:Quản lý Kinh tế
Mã số: 60 34 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TẠ ĐỨC KHÁNH
Hà Nội – 2014
MỤC LỤC
2.2.3. Tạo môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp BCVT 42
2.2.4. Quản lý giá cước Bưu chính Viễn thông 43
2.2.5. Kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh
doanh các dịch vụ Viễn thông 46
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN
QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG VIỄN THÔNG TRONG
THỜI GIAN TỚI 50
3.1. Quan điểm, mục tiêu phát triển Viễn thông đến năm 2015 và
định hƣớng đến năm 2020 50
3.1.1. Phát triển cơ sở hạ tầng mạng lưới viễn thông và công nghệ
thông tin. 50
3.1.2. Phát triển các mạng thông tin dùng riêng. 50
3.1.3. Phát triển dịch vụ. 51
3.1.4. Phát triển thị trường. 51
3.1.5. Phát triển khoa học công nghệ. 52
3.1.6. Phát triển công nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin. 52
3.1.7. Phát triển nguồn nhân lực. 53
3.2. Một số giải pháp chủ yếu và kiến nghị 55
3.2.1. Nhóm giải pháp cơ chế và chính sách quản lý kinh tế 55
3.2.1.1. Hoàn thiện các văn bản pháp luật 55
3.2.1.2. Chỉ đạo chiến lược quy hoạch ngành 55
3.2.1.3. Một số chính sách quản lý hoạt động doanh nghiệp nhà nước 57
3.2.2. Nhóm giải pháp tổ chức quản lý ngành 62
3.2.2.1. Tổ chức quản lý doanh nghiệp trong ngành 62
3.2.2.2. Kiểm tra, giám sát, điều tiết 63
3.2.3. Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế 64
3.2.4. Tăng cường xây dựng nguồn nhân lực ngành BCVT 65
KẾT LUẬN 66
TÀI LIỆU THAM KHẢO 69
CNTT
Công nghệ thông tin
9.
FPT
Công ty cổ phần viễn thông FPT
10.
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
11.
GSM
Hệ thống thông tin di động toàn cầu
12.
HTC
Công ty cổ phần viễn thông Hà Nội
13.
ISP
Nhà cung cấp dịch vụ Internet
14.
ITU
Hiệp Hội Liên minh Viễn thông quốc tế
15.
IXP
Điểm trung chuyển Internet
16.
Mobilefone
Công ty thông tin di động VMS
17.
OSP
Nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến
18.
2
Hình 2.2
Biểu đồ thị phần thuê bao di động 2G&3G
33
3
Hình 2.3
Biểu đồ thị phần thuê bao di động 3G
34
4
Hình 2.4
Biểu đồ thị phần thuê bao Internet
34
5
Hình 2.5
Biểu đồ tổng doanh thu Viễn thông qua các năm
35
6
Hình 2.6
Biểu đồ doanh thu dịch vụ di động qua các năm
36 iii
DANH MỤC BẢNG
Stt
Số hiệu
Tên bảng
Trang
1
chính sách và cơ chế quản lý một cách phù hợp, phát huy được các nguồn lực, khai
thác tối đa sự phát triển khoa học công nghệ, mở cửa thị trường trong nước, quản lý
điều hành các doanh nghiệp phát triển cơ sở vật chất, dịch vụ đáp ứng tối đa nhu
cầu của nền kinh tế và xã hội.
Yêu cầu đặt các mục tiêu, nhiệm vụ đến năm 2020 theo Nghị quyết Đại hội
Đảng lần thứ IX của Đảng, những năm tới “tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Ngành BCVT, với vị
2
trí vai trò của một ngành được quản lý, sử dụng hạ tầng cơ sở của quốc gia, đòi hỏi
phải được phát triển đi trước một bước tạo tiền đề và điều kiện cho sự phát triển của
nền kinh tế quốc dân và xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng. Ngành BCVT trong
quá trình phát triển và mở cửa thị trường, việc tạo ra môi trường kinh doanh cạnh
tranh, bình đẳng của các doanh nghiệp trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là
nhiệm vụ nặng nề và rất cần thiết với khoảng thời gian không dài. Từ những yêu
cầu phát triển nêu trên, những bài học kinh nghiệm trong thời gian qua, nghiên cứu
vận dụng các kinh nghiệm của quốc tế, đòi hỏi công tác quản lý nhà nước về kinh tế
đối với ngành BCVT phải đổi mới và cần có những chính sách, cơ chế, công cụ
quản lý nhà nước về kinh tế phù hợp. Đây là một nhiệm vụ hết sức nặng nề và cấp
thiết của Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông, các cơ quan quản lý nhà nước
có liên quan và mối quan tâm lớn của các tập đoàn kinh tế kinh doanh các dịch vụ
Bưu chính Viễn thông theo định hướng nhiệm vụ chiến lược cần phải thay đổi cho
phù hợp với thực tế. Từ tính cấp thiết đó, với những kiến thức đã được trang bị tại
trường Đại học Kinh tế, tác giả đã thực hiện Đề tài Luận văn cao học “Quản lý
hoạt động của ngành Bƣu chính Viễn thông”.
2. Tình hình nghiên cứu
Trên thực tế đã có nhiều vấn đề đã thuộc lĩnh vực bưu chính viễn thông đã
được nghiên cứu như: Chiến lược phát triển Bưu chính Viễn thông đến năm 2015,
định hướng đến năm 2020; Chiến lược phát triển CNTT và Truyền thông đến năm
2015 và định hướng đến năm 2020; Quy hoạch phát triển Bưu chính đến năm 2020;
Đề xuất một số nhóm giải pháp nhằm hoàn thiện nâng công tác quản lý nhà
nước về kinh tế đối với hoạt động Bưu chính Viễn thông đáp ứng yêu cầu phát triển
trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước đối
với hoạt động Bưu chính Viễn thông của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, khi mà
chúng ta đang mở rộng thị trường Viễn thông ra Quốc tế, nghiên cứu thực tiễn công
tác quản lý nhà nước về kinh tế trong thời gian qua của Bộ Thông tin Truyền thông
và các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan; nghiên cứu các công cụ, chính sách,
cơ chế quản lý kinh tế, điều hành hoạt động kinh doanh của Nhà nước đối với các
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Viễn thông.
4
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Quản lý nhà nước về kinh tế đối với hoạt động Bưu chính Viễn thông là một
đề tài luôn luôn mới và phạm vi bao trùm nhiều phân ngành như: Bưu chính, Viễn
thông, Công nghệ thông tin, Truyền hình, phát hành báo chí, truyền thông , chính vì
vậy trong đề tài này tác giả chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu về hoạt động Viễn thông
từ năm 2010 đến nay và chủ đề này hiện nay để tìm hiểu những thực trạng và kiến
nghị và đề xuất những điều chỉnh cho phù hợp nhằm hoàn thiện hơn trong Quản lý
nhà nước đối với lĩnh vực này.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận văn
đã sử dụng các phương pháp cụ thể như: phương pháp phân tích, so sánh tổng hợp,
phương pháp thống kê xuyên suốt từ chương 1 đến chương 2, phương pháp dự báo
chương 3 và phương pháp tổng hợp các ý kiến chuyên gia để hoàn thiện đề tài.
6. Những đóng góp của Luận văn
Luận văn đã nêu được những đặc điểm, vai trò, nội dung quản lý nhà nước về
kinh tế đối với hoạt động Bưu chính Viễn thông. Bên cạnh đó luận văn cũng đã khái
triển nền kinh tế, các ngành thuộc kết cấu hạ tầng nói chung và ngành BCVT
thông nói riêng, cần phải phát triển đi trước một bước để tạo điều kiện, tiền đề
cho phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất
nước. Theo thống kê hàng năm của vneconomy.vn trong những năm gần đây
nhóm ngành dịch vụ đều có tốc độ tăng cao nhất trong 3 nhóm ngành (Nông lâm,
thuỷ sản, Công nghiệp – xây dựng và Dịch vụ) và cao hơn tốc độ tăng chung
(bình quân 2006- 2012 cả nước tăng 6,15%/năm, nhóm ngành nông, lâm nghiệp-
thủy sản tăng 3,47%/năm, nhóm ngành công nghiệp- xây dựng tăng 6,33%/năm,
còn dịch vụ tăng 7,27%/năm). Trong 6 tháng đầu năm 2013, nhóm ngành dịch
vụ đã tăng 5,92%, cao nhất trong 3 nhóm ngành; tỷ trọng trong GDP đạt 43,12%,
cao hơn năm trước đặc biệt tỉ trọng của ngành Viễn thông trong khối ngành dịch
vụ bình quân là khoảng 41,4%. [10]
Thông tin liên lạc được ví như một phương tiện của hệ thống thần kinh
của quốc gia, giúp cho sự lãnh đạo, điều hành của Đảng, Quốc hội, Chính phủ
6
và chính quyền các cấp được thuận lợi và thông suốt từ trung ương đến địa
phương. Nhờ hệ thống mạng lưới BCVT mà sự chỉ đạo lãnh đạo điều hành ấy
được kịp thời và hiệu quả, tiết kiệm đáng kể chi phí cho xã hội. Ngoài ra
ngành BCVT còn góp phần tuyên truyền đường lối chủ chương chính sách
của Đảng và nhà nước.
Đối với bất kỳ quốc gia nào, việc bảo vệ an ninh, quốc phòng, trật tự và
an toàn xã hội cũng cần phải sử dụng mạng lưới thông tin liên lạc để chỉ đạo,
điều hành và do đó mà việc phối kết hợp giữa các lực lượng, kết hợp giữa tăng
trưởng kinh tế và bảo đảm an ninh, quốc phòng được vững chắc. Với đặc điểm
của nước ta, thông tin liên lạc và mạng lưới BCVT của các doanh nghiệp là rất
quan trọng trong công tác chỉ đạo điều hành của lãnh đạo các cấp và kết hợp
phục vụ an ninh quốc phòng, đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
Trong công cuộc đổi mới kinh tế của đất nước, sự phát triển đi đôi với
chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phát huy khai
- Sản phẩm BCVT là sản phẩm dịch vụ vì vậy khách hàng sẽ không nhìn thấy
được, mà chỉ cảm nhận được, đó chính là kết quả của quá trình truyền tin từ
người gửi đến người nhận. Quá trình sản xuất và quá trình tiêu thụ sản phẩm gắn
liền với nhau, không có sản phẩm tồn kho, đối với sản phẩm viễn thông kết thúc
quá trình sử dụng của khách hàng là kết thúc quá trình sản xuất, đối với sản
phẩm Bưu chính (trừ các sản phẩm lai ghép với Viễn thông) sản phẩm kết thúc
quá trình sử dụng là khi Bưu điện, các doanh nghiệp chuyển phát hoàn thành
chuyển phát sản phẩm đó tới người nhận.
Với đặc điểm này yêu cầu đối với doanh nghiệp BCVT về quy trình sản
xuất phải đồng bộ do tính chất mạng lưới rộng khắp, tiêu chuẩn chất lượng rất
cao và chính điều này ảnh hưởng rất lớn và quyết định chất lượng sản phẩm.
- Sản phẩm của ngành BCVT đa dạng và phong phú và gồm 3 nhóm chính: Bưu
chính & Phát hành báo chí, Viễn thông và Công nghệ thông tin. Mỗi nhóm sản
phẩm lại rất nhiều sản phẩm, Ví dụ nhóm sản phẩm Bưu chính bao gồm: thư (thư
thường, thư ghi số, thư máy bay, chuyển phát nhanh), ấn phẩm, học phẩm của
8
người mù, chuyển tiền, Bưu kiện, v.v… mỗi loại sản phẩm phục vụ một nhu cầu
khác nhau, có khả năng thay thế cho nhau, nhưng đồng thời phải tồn tại mà
ngành phải tổ chức sản xuất kinh doanh và phục vụ. Nhiều loại sản phẩm phải
cung ứng mặc dù nhu cầu rất ít, đầu tư ban đầu cao và với kỹ thuật hiện đại - do
điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
- Sản phẩm có những đặc điểm và thuộc tính của dịch vụ công cộng. Đặc
điểm này đặt ra đối với công tác quản lý nhà nước ngành BCVT là phải đảm bảo
có đủ các loại dịch vụ, phục vụ tất cả các đối tượng khách hàng trong xã hội, cần
đặc biệt quan tâm và phải phục vụ các sản phẩm là nhu cầu thiết yếu của người
dân, trên phạm vi toàn quốc, các sản phẩm mang tính kích cầu, thúc đẩy và là
điều kiện tiền đề phát triển kinh tế - xã hội. Như vậy, một mặt Nhà nước phải có
chiến lược phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật, mạng lưới, phát triển các dịch vụ
mới, mặt khác phải đảm bảo các dịch vụ thiết yếu mà mọi người dân được sử
doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ viễn thông.
- Trường hợp, sản phẩm có chiều đi xuất phát từ một doanh nghiệp, chiều
đến lại là của doanh nghiệp khác, thậm chí việc truyền dẫn phải qua khâu truyền
dẫn của doanh nghiệp khác, vậy hoàn thành một sản phẩm phải qua hai, hoặc ba
doanh nghiệp, hoặc có thể nhiều hơn.
- Với các sản phẩm dịch vụ quốc tế: Nếu tính cả Việt Nam là một đầu đi
hoặc đầu đến hoặc đầu qua của một sản phẩm là một sản phẩm, các sản phẩm
dịch vụ này cũng không phải chỉ do một doanh nghiệp hoàn thành mà phải qua
một hoặc hai hoặc ba thậm trí bốn doanh nghiệp cùng thời gian truyền đưa mới
hoàn thành sản phẩm hoàn chỉnh. Trường hợp bốn doanh nghiệp hoàn thành một
sản phẩm, đó là: Khâu đi (hoặc đến) do một doanh nghiệp hoặc hai doanh nghiệp
đảm nhận khâu nội hạt, một doanh nghiệp khác đảm nhận khâu truyền dẫn liên
tỉnh, một doanh nghiệp khác đảm nhận khâu truyền dẫn đi quốc tế. Theo quy
định và thực tế, chỉ có doanh nghiệp làm đầu mối thanh toán với các đối tác
nước ngoài. (thông qua cước thương lượng đối với các dịch vụ viễn thông hoặc
cước bản cảnh đối với các dịch vụ Bưu chính).
10
Đặc điểm này đặt ra rất nhiều nhiệm vụ và yêu cầu với công tác quản lý
nhà nước về kinh tế đối với ngành BCVT trong việc: quy định về việc kết nối, sự
phối hợp giữa các doanh nghiệp đảm bảo đáp ứng nhu cầu của người dân; quy
định các tiêu chuẩn về tính đồng bộ đối với thiết bị, mạng lưới, định tuyến các
luồng liên lạc để đảm bảo chất lượng dịch vụ, đồng thời phải có các chính sách,
chế độ nhằm đảm bảo các quyền lợi, kinh tế và nghĩa vụ của các doanh nghiệp
khi cùng tham gia hoàn chỉnh một dịch vụ. Cần quản lý và điều hành các mối
quan hệ kinh tế trong kết nối giữa các doanh nghiệp tham gia hoàn thành một
dịch vụ.
c. Cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành BCVT gắn liền với cuộc cách mạng khoa
học kỹ thuật và tin học của thế giới, là một bộ phận của mạng lưới BCVT khu
vực và toàn cầu.
tài nguyên viễn thông quốc gia. Tài nguyên viễn thông quốc gia phải do Nhà
nước quản lý để đảm bảo sử dụng có hiệu quả cao nhất vì lợi ích quốc gia và
quyền lợi của các doanh nghiệp. Tài nguyên viễn thông có ảnh hưởng đến số
lượng các doanh nghiệp kinh doanh, quy mô của mỗi doanh nghiệp và các dịch
vụ được cung cấp. Tài nguyên viễn thông quốc gia phải được quy hoạch, sử
dụng hợp lý tiết kiệm, công khai minh bạch, cụ thể:
- Tần số vô tuyến điện: Đây là tài nguyên quốc gia quý hiếm và có hạn, có vai trò
quan trọng trong tổ chức thông tin và kinh doanh các dịch vụ viễn thông không
dây (bằng phương thức vô tuyến). Kinh doanh các dịch vụ viễn thông không dây
là ưu thế và xu hướng phát triển mạnh trong kinh doanh các dịch vụ viễn thông
và truyền thông. Mức độ quý hiếm, hiệu quả sử dụng ở những băng tần, dải băng
tần khác nhau đối với các doanh nghiệp viễn thông khác nhau ảnh hưởng rất lớn
đến chi phí đầu tư, chi phí khai thác và là nguồn thu lớn của Nhà nước về tài
nguyên. Ví dụ ở những băng tần khác nhau dùng cho thông tin di động (cả với
công nghệ khác nhau: GSM, CDMA) giá các thiết bị đầu tư ban đầu là khác
nhau, sẽ dùng cho số lượng thuê bao phát triển khác nhau, vùng lặp sử dụng lại
12
tần số khác nhau. Mỗi băng tần, thường chỉ cấp được cho giới hạn số doanh
nghiệp kinh doanh dịch vụ, nếu cấp quá nhiều doanh nghiệp, sẽ không đảm bảo
điều kiện kỹ thuật, gây nhiễu, giảm chất lượng dịch vụ, thậm trí gây nghẽn thông
tin và ảnh hưởng lớn đến lợi thế kinh doanh của doanh nghiệp. [2]
Một số nước trên thế giới tổ chức đấu thầu giữa các doanh nghiệp về việc
sử dụng các băng tần để thực hiện việc kinh doanh viễn thông di động, thông qua
đấu thầu nhà nước thu được một khoản tiền đáng kể cho ngân sách quốc gia và
cũng chính hình thức này đã làm hạn chế việc phát triển nhiều doanh nghiệp
muốn tham gia kinh doanh khi mà khả năng tài chính không cho phép, thậm chí
hạn chế số doanh nghiệp viễn thông nước ngoài vào đầu tư kinh doanh.
- Kho số viễn thông: Việc quy hoạch sử dụng kho số viễn thông cho mỗi
nhà khai thác trong tổng số các nhà khai thác để đảm bảo sử dụng có hiệu quả
sách nhiều hay ít, điều quan trọng là tạo điều kiện cho các ngành kinh tế nâng
cao năng suất lao động, tạo ra nhiều sản phẩm xã hội, tăng thu nhập quốc dân,
tăng tổng sản phẩm quốc nội. Theo báo cáo của Hiệp Hội Liên minh Viễn thông
quốc tế (ITU), hàng năm, các dịch vụ BCVT đóng góp ít nhất 1,5 % trong GDP
của mỗi nước. Đầu tư vào lĩnh vực BCVT 1 USD sẽ sinh ra 3 USD trong các
lĩnh vực kinh tế khác. Thế giới và khu vực đã có những nền kinh tế “cất cánh” từ
BCVT, đi lên từ BCVT. Tại các nước phát triển, nền kinh tế tượng trưng còn lớn
gấp nhiều lần so với nền kinh tế thực của nước họ, đó là họ biết cách kinh doanh
và có một hệ thống thông tin BCVT hiện đại. [3]
Hai là, tạo điều kiện và thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế - xã hội khác.
Thông tin BCVT tạo ra những điều kiện cần thiết cho tất cả các hoạt động
kinh tế - xã hội, có chức năng phục vụ tất cả các ngành kinh tế quốc dân, thoả
mãn nhu cầu về truyền đưa tin tức của xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, chức
năng truyền tin ngày càng quan trọng, các cơ sở sản xuất kinh doanh muốn nắm
được nhu cầu của thị trường chính xác, nhanh chóng để quyết định phương án
kinh doanh đúng đắn và hợp lý đều dựa vào mạng lưới thông tin. Thông tin
14
chính xác, kịp thời luôn được coi là một trong những yếu tố hết sức quan trọng
đảm bảo cho sự thành công trong môi trường cạnh tranh quốc tế mà trong đó
thông tin BCVT đóng vai trò hàng đầu vì sự nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm
thời gian. Mặt khác, thông tin BCVT còn có ý nghĩa lớn cho việc tiết kiệm chi
phí sản xuất cho từng doanh nghiệp vì sẽ giảm được đáng kể chi phí đi lại, giao
dịch trong hoạt động sản xuất, mua bán sản phẩm. [3]
Ba là, góp phần tăng cường việc trao đổi thông tin thiết yếu của nhân dân.
Đối với người dân thông tin BCVT là chiếc cầu nối trao đổi tin tức và
giao lưu tình cảm không thể thiếu được. Bằng các phương tiện thông tin BCVT
(Điện thoại, thư, điện báo, fax, internet, thư điện tử…) là công cụ giao lưu tình
cảm cho nhân dân. Trong một xã hội, nhìn vào mức độ sử dụng dịch vụ BCVT
hàng ngày của người dân mà có thể nhận biết được trình độ phát triển, văn minh
nối” thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. [3]
Tóm lại, khi đánh giá vai trò cũng như đánh giá hiệu quả kinh doanh dịch
vụ BCVT không chỉ lấy tiêu chí lợi nhuận để đo lường mà cần xác định tính lợi
ích xã hội mà nó đem lại. Phải đánh giá một cách toàn diện, phải tính đến hiệu
quả của các ngành kinh tế do thành quả phục vụ của ngành BCVT mang lại.
1.2. Nội dung quản lý Nhà nƣớc về Kinh tế đối với hoạt động BCVT
1.2.1. Quản lý nhà nước về kinh tế đối với ngành Bưu chính Viễn thông
Quản lý nhà nước về kinh tế (QLNN về KT) là sự tác động có tổ chức và
pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế quốc dân nhằm sử dụng có hiệu quả
nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước, các cơ hội có thể có, để đạt được
các mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra, trong điều kiện hội nhập và
mở rộng giao lưu quốc tế. Quản lý kinh tế là nội dung cốt lõi của quản lý xã hội
nói chung và nó phải gắn chặt với các hoạt động quản lý khác của xã hội. Quản
lý nhà nước về kinh tế được thể hiện thông qua các chức năng kinh tế và quản lý
kinh tế của Nhà nước.
Cơ chế quản lý nhà nước về kinh tế có quan hệ rất chặt chẽ giữa các chính
sách và cơ chế quản lý, thông thường cơ chế quản lý phải phù hợp với chính
16
sách quản lý ; trong chính sách thể hiện cơ chế và ngược lại, trong cơ chế thể
hiện chính sách.
Các cơ quan quản lý Nhà nước đại diện cho sở hữu tài sản quốc gia và lợi
ích chung toàn xã hội, sử dụng các công cụ và biện pháp của Nhà nước như hành
chính, pháp chế, tổ chức, đòn bẩy kinh tế, tuyên truyền giáo dục…để điều tiết tất
cả các hoạt động kinh tế - xã hội tối ưu trên phạm vi toàn quốc. Quản lý nhà
nước về kinh tế là quản lý kinh tế vĩ mô, nghĩa là quản lý toàn bộ nền kinh tế
quốc dân với tính cách một hệ thống lớn, phức tạp do nhiều phần tử nhỏ hơn, với
nhiều cấp độ khác nhau hợp thành trong mối quan hệ hữu cơ. Đó là tổng thể các
ngành kinh tế, các vùng, địa phương và các cơ sở kinh tế. Thực chất của chức
năng quản lý Nhà nước về kinh tế là Nhà nước tạo ra và thực hiện một cơ chế
kinh doanh các dịch vụ BCVT, có thể bao gồm: Giấy phép thiết lập mạng và
cung cấp dịch vụ; Giấy phép cung cấp dịch vụvà các giấy phép nghiệp vụ: Giấy
phép thiết lập mạng viễn thông dùng riêng; giấy phép lắt đặt mạng viễn thông
thuộc vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam; giấy phép thử nghiệm
mạng và dịch vụ viễn thông. Đối với các giấy phép thiết lập mạng và kinh doanh
dịch vụ có liên quan đến sử dụng tài nguyên thông tin, chỉ được cấp phép nếu
việc phân bổ tài nguyên thông tin là khả thi.
- Các văn bản quy định chính sách phát triển ngành BCVT, bao gồm:
Ưu tiên đầu tư phát triển BCVT đối với nông thôn, vùng sâu, vùng xa,
biên giới hải đảo; có chính sách ưu đãi, hỗ trợ các doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ BCVT công ích và thực hiện các nhiệm vụ công ích khác theo yêu
cầu của Nhà nước ;
Khuyến khích tạo điều kiện các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh
dịch vụ BCVT trong môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch do Nhà
nước quản lý với đầy đủ các loại hình dịch vụ đảm bảo chất lượng và giá
cả hợp lý ;
Tạo điều kiện ứng dụng và thúc đẩy phát triển công nghệ và công nghiệp
BCVT ;
Mở rộng hợp tác quốc tế về BCVT trên cơ sở tôn trọng độc lập chủ quyền,
18
bình đẳng, cùng có lợi, phù hợp với pháp luật Việt Nam và Điều ước quốc
tế mà Việt Nam ký kết hoặc gia nhập ;
Tôn trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân tham
gia hoạt động BCVT.
- Chính sách và cơ chế quản lý giá cước BCVT.
- Hệ thống tiêu chuẩn, chất lượng và quản lý tiêu chuẩn chất lượng.
- Quy định về quản lý, phân bổ, sử dụng các nguồn lực tài nguyên viễn
thông như kho số, tần số, tên miền địa chỉ. Nguồn tài nguyên này vừa có khả
năng tạo hiệu quả chung cho toàn xã hội và các doanh nghiệp, vừa là yếu tố điều
lượng dịch vụ phải đảm bảo, cơ sở vật chất mạng lưới phải phù hợp tiên tiến
ngang bằng các nước khu vực và thế giới.
c. Tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch và kế hoạch.
Nhiệm vụ của Nhà nước là định hướng các doanh nghiệp hoạt động và
phát triển theo một chiến lược, quy hoạch và kế hoạch nhất định để đạt mục tiêu
chung phát triển của ngành trong tổng thể phát triển chung của nền kinh tế quốc
dân và xã hội. Mặt khác tạo điều kiện để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu qủa
trên thương trường.
Với ngành BCVT, nội dung này cần phải nghiên cứu để ban hành sớm các
lộ trình mở cửa theo pháp luật, chiến lược đã quy định, định hướng, đặc biệt là
phải phù hợp với lộ trình tham gia và phải thực hiện các Điều ước của Tổ chức
Thương mại quốc tế (WTO).
Một doanh nghiệp BCVT ra đời, định hướng công nghệ, lộ trình cấp phép
kinh doanh các dịch vụ là vấn đề quan trọng trong quá trình mở cửa thị trường
và hội nhập. Trong điều kiện vốn trong nước còn hạn chế, đặc biệt là đầu tư trực
tiếp của nhà nước, việc cấp phép cung cấp dịch vụ cho các doanh nghiệp cần
quan tâm để đảm bảo đồng bộ về chính sách.
d. Tổ chức xây dựng các doanh nghiệp khi cần thiết.
Do đặc điểm phát triển, tổ chức kinh doanh ngành BCVT hiện nay, do vậy
nhiệm vụ của Nhà nước trong giai đoạn này cần tập trung xây dựng các doanh