Quản lý hoạt động của trung tâm thông tin khoa học và tư liệu giáo khoa ở học viện chính trị công an nhân dân - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HỒNG

QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƢ LIỆU GIÁO KHOA
Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ CÔNG AN NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

NGUYỄN THỊ HỒNG

QUẢN LÝ HOA ̣T ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM
THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ TƢ LIỆU GIÁO KHOA
Ở HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ CÔNG AN NHÂN DÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 01 14

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Trần Hữu Hoan

HÀ NỘI - 2015

dụng thông tin khai thác hiệu quả nguồn thông tin sẵn có.
1


Hiện nay, yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đòi hỏi
các trường ĐH phải đổi mới cơ bản, toàn diện mục tiêu, nội dung chương
trình, phương pháp dạy - học, đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất và trang thiết
bị dạy học. Thư viện là một trong những yếu tố rất đáng được quan tâm vì đây
là trung tâm tri thức của một trường ĐH, là bộ phận không thể thiếu trong việc
cung cấp thông tin, tạo điều kiện cho người học phát triển toàn diện, là nơi mà
thầy và trò cùng phát huy tinh thần "tự học, học liên tục, học suốt đời". Bởi
vậy, trước sự đổi mới của nền giáo dục ĐH buộc các nhà quản lý thư viện ĐH
phải nắm bắt và kịp thời tự điều chỉnh hoạt động quản lý của mình để nhanh
chóng đón nhận và đáp ứng với sự đổi mới đó.
Với hoạt động chuyển giao tri thức và NCKH, một trong những nhân tố
đặc biệt quan trọng, quyết định chất lượng chuyển giao tri thức và NCKH là
khả năng cung cấp nguồn tin để thúc đẩy việc tự học, tự nghiên cứu trước hết
của các nhà quản lý, giảng viên, học viên trong trường ĐH. Đây chính là sứ
mệnh của hoa ̣t đô ̣ng TT-TV trong các trường ĐH. Vì vậy quá trình đổi mới
giáo dục ĐH phải đồng nghĩa với quá trình đổi mới hoa ̣t đ ộng TT-TV ở
trường ĐH nhằm thoả mãn tốt nhất như cầu thông tin cho người sử dụng thông
tin ở mọi lúc, mọi nơi.
Đối với Học viện Chính trị Công an nhân dân - cơ sở giáo dục ĐH công
lập trực thuộc Bộ Công an, được thành lập theo Quyết định số 315/QĐ-TTg
ngày 01 tháng 3 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở tiếp nhận toàn
bộ đội ngũ cán bộ và cơ sở vật chất của Trường Bồi dưỡng nghiệp vụ CAND;
đồng thời tiếp nhận nhiều cán bộ lãnh đạo chỉ huy và giảng viên từ các cơ sở
giáo dục ĐH trong và ngoài lực lượng CAND. Học viện Chính trị Công an
nhân dân có trách nhiệm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có trình độ ĐH, sau ĐH và
đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo chỉ huy thuộc lĩnh vực xây dựng lực lượng

hướng đi phù hợp đáp ứng các yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới.
Về mặt lý luận, quản lý hoạt động TT-TV thuộc một cơ sở giáo dục ĐH
đã có một số công trình nghiên cứu dưới những góc độ là một bộ phận của
biện pháp phát triển một cơ sở giáo dục ĐH. Tuy nhiên, chưa có công trình
nào nghiên cứu trực tiếp, cụ thể về quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và
3


TLGK ở Học viện Chính trị CAND nói riêng và trong một trường ĐH thuộc
BCA nói chung.
Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài: “Quản lý hoạt động của
Trung tâm Thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính tr ị
Công an nhân dân” làm luận văn thạc sĩ là thực sự cần thiết, có ý nghĩa cả về
mặt lý luận và thực tiễn.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý TT - TV trong cơ sở giáo dục
đại học, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của trung tâm TTKH và TLGK
của Học viện Chính trị CAND, luận văn đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt
động của Trung tâm TTKH và TLGK ở Học viện Chính trị CAND, góp phần
nâng cao hiệu quả hoạt động phục vụ của Trung tâm trong thời gian tới.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động của TT- TV
trong cơ sở giáo dục đại học nói chung.
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa
học và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính trị Công an nhân dân
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động của Trung tâm Thông tin khoa
học và Tư liệu giáo khoa ở Học viện Chính trị CAND.
- Tổ chức khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện
pháp đề xuất trong luận văn
4. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu

7.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp tổng kết kinh nghiệm
Tác giả tiến hành phân tích, tổng hợp tư liệu, số liệu về công tác quản lý
hoạt động Trung tâm TTKH và TLGK; các tài liệu chỉ đạo, văn bản của Đảng
và Nhà nước và Bộ Công an... về công tác TT- TV ở các trường Đại học nói
chung và trường Đại học ngành Công an nói riêng.

5


7.2.2. Điều tra, khảo sát
Tác giả tiến hành điều tra, khảo sát ý kiến của cán bộ quản lý, giảng
viên và học viên bằng bảng hỏi về công tác quản lý hoạt động của Trung tâm
đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp GD-ĐT và NCKH. Mục đích điều tra khảo sát
bằng phiếu hỏi là thu thập các thông tin, thực trạng quản lý hoạt động Trung
tâm TTKH và TLGK thông qua các câu hỏi.
7.2.3. Phỏng vấn, trao đổi
Tác giả tiến hành phỏng vấn, trao đổi và tranh thủ ý kiến đóng góp của
lãnh đạo, cán bộ quản lý, giảng viên và học viên về thực trạng trong công tác
quản lý hoạt động của Trung tâm TTKH và TLGK, những thuận lợi và khó khăn,
những quan điểm của các nhà quản lý để bổ sung, hoàn thiện đề tài luận văn.
7.3. Phương pháp thống kê phân tích số liệu
Tác giả tiến hành thống kê bằng bảng biểu số liệu, sử dụng các công
thức toán thống kê như trung bình cộng, hệ số tương quan, số trung vị, độ lệch
chuẩn để định lượng kết quả nghiên cứu cho đề tài luận văn.
8. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ
lục, luận văn được trình bày trong có 3 chương:
Chương l. Cơ sở lý luận về quản lý hoa ̣t đô ̣ng của Trung tâm TTKH &
TLGK ở trường đại học.

Ở các nước Phương Tây, đặc biệt là Mỹ, Anh có rất nhiều công trình
nghiên cứu của các tác giả: Ch. Dane, Đ.G. Phoxkét, S.Simsova; M.Macki về
“thư viện so sánh”. Theo các tài liệu Anh, Mỹ thì khái niệm “Thư viện học so
sánh và quốc tế” gồm những công việc sau: Tập hợp tư liệu sự kiện; Hoạt
động thư mục và dịch thuật; Hoạt động trong phạm vi quốc tế; Hoạt động
nghiên cứu khoa học và xuất bản.

7


1.1.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về thư viện, trong đó
có những công trình nghiên cứu, những bài báo của tác giả Lê Văn Viết đề cập
đến những vấn đề cơ bản của thư viện như: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ, các
yếu tố cấu thành thư viện, về cách tổ chức, vận hành các loại thư viện khác
nhau trên thế giới và trong nước.
Tác giả Nguyễn Huy Chương đã nghiên cứu “Lịch sử hình thành và
phát triển hệ thống TT - TV đại học Mỹ, định hướng vận dụng một số kinh
nghiệm vào thư viện đại học Việt Nam”. Trong công trình nghiên cứu này, tác
giả vận dụng một số kinh nghiệm của thư viện đại học Mỹ vào quá trình phát
triển và hoàn thiện hệ thống thư viện đại học Việt Nam. Đặc biệt tác giả đã
đưa ra một số giải pháp thúc đẩy và xây dựng mô hình tổ chức hoạt động
thông tin thư viện ở các trường đại học. [2, tr.24]
Tác giả Nguyễn Văn Hành đã nghiên cứu đề tài “Thực trạng và giải
pháp hoàn thiện mô hình quản lý trung tâm TT - TV, Đại học Quốc gia Hà
Nội” đã đưa ra những phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới mô hình
trung tâm TT-TV Đại học Quốc gia. [9, tr.18]
Như vậy, ở Việt Nam công tác thư viện đã được các nhà khoa học
nghiên cứu và vận dụng vào thực tiễn thư viện ở Việt Nam. Những công trình
này đóng góp đáng kể cho sự hình thành và phát triển của thư viện trong nước,

Như vậy, bản chất của quản lý là sự tác động có định hướng của chủ thể
quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các
cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Quản lý có ý nghĩa quan trọng
trong sự phát triển hay trì trệ của tổ chức mặc dù quản lý vừa khó khăn lại vừa
phức tạp. Nếu quản lý một cách đúng đắn sẽ giúp cho các tổ chức có thể khắc
phục những hạn chế của mình, liên kế gắn bó mọi người trong tổ chức, tạo
niềm tin, sức mạnh của tổ chức.
+ Chức năng quản lý
Trong quá trình quản lý, chức năng quản lý có vai trò và vị trí quan
trọng trong việc duy trì và phát triển của tổ chức. Có nhiều cách phân chia các
chức năng quản lý giáo dục đối với mỗi cấp độ khác nhau, vì vậy chức năng
quản lý giáo dục và tầm quan trọng của mỗi chức năng cũng không hoàn toàn
giống nhau bao gồm bốn chức năng chủ yếu, cơ bản sau: Kế hoạch hóa, tổ
chức, chỉ đạo - lãnh đạo và kiểm tra.
10


- Kế hoạch hóa
Kế hoạch hóa là một trong những nội dung được quy định trong chức
năng quản lý, là khâu đầu tiên của một chu trình. Mọi hoạt động quản lý đều
được bắt đầu từ khâu xây dựng kế hoạch. “Kế hoạch hóa là xác định mục tiêu,
mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp,
cách thức để đại được mục tiêu, mục đích đó”.
Kế hoạch hóa là việc đưa toàn bộ hoạt động quản lý vào công tác kế
hoạch và chỉ rõ các mục tiêu, bước đi, biện pháp thực hiện để đảm bảo đạt
mục tiêu đã đề ra.
- Tổ chức
Là quá trình phân phối và sắp xếp nguồn lực hợp lý để đảm bảo thực
hiện tốt các mục tiêu kế hoạch đề ra. Đồng thời tổ chức có nghĩa là tạo nên
mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm thực hiện thành công kế

đến sự kiện hoặc hoàn cảnh đặc biệt.
K.E.Shennon nhà toán học người Mỹ định nghĩa thông tin “Thông tin là
quá trình liên hệ nhằm loại bỏ sự bất định”
Trong từ điển Bách khoa toàn thư Xô Viết của Liên Xô trước đây, thông
tin được định nghĩa là “Tin tức được truyền từ người này qua người khác bằng
lời nói, chữ viết hay bằng một phương tiện nào đó”.
Đối với thông tin trong công tác thư viện được hiểu là công tác thông
tin - thư mục, là tổng hợp các quá trình biên soạn thư mục và phục vụ thông
tin - thư mục nghĩa là tạo ra và phổ biến các thông tin về tài liệu.
1.2.3. Khái niệm thư viê ̣n
Thư viện được xuất phát từ chữ Hy Lạp “bibliotheca” được cấu thành bởi
hai từ “Biblion – sách và “theca - nơi bảo quản”. Như vậy nghĩa ban đầu có
nghĩa là nơi bảo quản sách, là nơi tàng trữ sách. Trong từ điển Tiếng việt, thư
viện được định nghĩa là “nơi tàng trữ, giữ gìn sách báo, tài liệu và tổ chức cho
bạn đọc sử dụng”. Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thư viện:
Ở Liên Bang Nga, thư viện được định nghĩa như sau: “Thư viện là cơ quan
tư tưởng, văn hóa và TTKH, tổ chức việc sử dụng sách có tính chất xã hội”.
Ở Mỹ, thư viện được định nghĩa: “Thư viện - một sưu tập những tài liệu
đã được tổ chức để đáp ứng nhu cầu của một nhóm người mà thư viện có bổn
12


phận phục vụ, để cho học có thể sử dụng cơ sở của thư viện, truy dụng thư
tịch, cũng như trau dồi kiến thức của họ”.
UNESCO năm 1970 đã định nghĩa: “Thư viện không phụ thuộc vào tên
gọi của nó, là bất cứ bộ sưu tập có tổ chức nào của sách, ấn phẩm định kỳ hoặc
các tài liệu khác, kể cả đồ họa, nghe - nhìn và nhân viên phục vụ có trách
nhiệm tổ chức cho bạn đọc sử dụng các tài liệu đó nhằm mục đích thông tin,
NCKH, giáo dục hoặc giải trí”.
Ở nước ta khái niệm thư viện được định nghĩa như sau: Thư viện là nơi

chúng ta có VTL phong phú, có CBTV, có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại,
cũng giống như trong nhà trường có thầy, có cơ sở trường học nhưng không
có học sinh thì cũng không thể được coi là trường học. Vì thế, bạn đọc, độc
giả có vị trí vô cùng quan trọng, giúp cho mọi hoạt động trở nên hiệu quả,
khoa học hơn. Nói cách khác thì tất cả các yếu tố trên nhằm phục vụ nhu cầu
và lợi ích của bạn đọc. Chúng có mối quan hệ gắn bó, khăng khít với nhau để
tạo thành một thư viện hoàn chỉnh.
Cơ sở vật chất - kỹ thuật: Là yếu tố vô cùng quan trọng của thư viện.
Đó là diện tích và những trang thiết bị phục vụ công tác thư viện. Đối với tài
liệu, nó là nơi chứa đựng, tàng trữ và bảo quản tài liệu; đối với bạn đọc, nó là
nơi bạn đọc có thể làm việc với tài liệu, tiếp xúc các nguồn thông tin ở khắp
mọi nơi; là nơi trao đổi, giao lưu, gặp gỡ về những vấn đề mà các bạn đọc
quan tâm; đối với CBTV, đây là ngôi nhà thứ hai của họ, là nơi họ thể hiện vai
trò CBTV, những ước mơ, hoài bão, những kiến thức đã học được trong
trường và trong thực tiễn, cơ sở vật chất - kỹ thuật khang trang thể hiện sức
mạnh của nhà trường và của tất cả con người trong đó, đồng thời cũng tạo
được uy tín, vị thế của nhà trường với xã hội.
Như vậy, mặc dù có rất nhiều định nghĩa khác nhau về thư viện nhưng
tổng kết lại thì thư viện là nơi lưu giữ và bảo tồn những giá trị văn hóa của
loài người, là tòa lâu đài trí tuệ của nhân loại, được lưu giữ và truyền từ thế hệ
này sáng thế hệ khác, là kho tàng quý giá của dân tộc cần phải giữ gìn và phát
triển nó.

14


1.2.4. Khái niệm tư liệu giáo khoa
Là các nguồn sách giáo khoa được tổng hợp, chọn lọc đến người dùng
tin. Nó cũng là thông tin về các tài liệu có trong chương trình giảng dạy, học
tập. Các tài liệu được tổng hợp lại qua chương trình sách giáo khoa và được

phát triển chậm. Thư viện trong giai đoạn này chủ yếu phục vụ trong các
trường học, chùa chiền, nhà thờ và các thế lực tôn giáo.
Ở thế kỷ VII, thư viện được xuất hiện đầu tiên ở các trường ĐH như: Thư
viện trường ĐH Tổng hợp Xoocbon-năm 1253, Thư viện ĐH Tổng hợp Pari năm 1150. Ở Đức, thế kỷ XV đã phát minh kỹ thuật in (tipo) của Gutenberg
lượng sách báo đã tăng nhanh chóng, vì vậy thư viện mới phát triển mạnh và có
những đóng góp tích cực, đem lại nhiều hữu ích cho xã hội.
+ Thời kỳ cận đại (Từ thế kỉ XVIII – sau Thế chiến II)
Thời kỳ này khoa học kỹ thuật trên thế giới phát triển như vũ bão, cùng
với sư phát triển của xã hội, kéo theo con người cũng phải được đào tạo và
nâng cao trình độ, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khoa học, công
nghệ. Điều đó cũng tạo nên sự phát triển của giáo dục, thư viện góp phần làm
tốt vai trò giáo dục trong nhà trường và thư viện cũng đạt được những thành
tựu to lớn như:
Thời kỳ này đã xuất hiện các loại hình thư viện bao gồm: Thư viện công
cộng, Thư viện Quốc gia, thư viện chuyên ngành...
Xuất hiện nhiều văn bản mang tính pháp lý thư viện, trong Hiến pháp
bang Michigan 1835 có những thư viện không thu tiền. Năm 1845 bang
NewYork ban hành luật về thư viện công cộng.
Thế kỷ XIX thư viện được hình thành và phát triển như một môn khoa
học, có đối tượng nghiên cứu, có hệ thống chương trình giáo dục riêng, CBTV
được đào tạo và phát triển mạnh ở một số nước điển hình như trường thư
viện đầu tiên được thành lập ở Mỹ vào năm 1887, tại trường ĐH Columbia
ban đầu chỉ có 20 sinh viên, sau đó có nhiều nước trên thế giới cũng mở các
trường thư viện như: Liên Xô, Mỹ... và đào tạo cả trình độ thạc sỹ, tiến sỹ.
Năm 1892 lần đầu tiên thuật ngữ “Thư viện học” được nhà khoa học người
Đức là M.Sretinger nêu ra.
16


+ Thời kỳ hiện đại


Thời Lê – Trịnh năm 1762, Quốc Tử Giám khôi phục lại và lấy tên là
“Thư viện Thái học” do nhà bác học Lê Quý Đôn phụ trách.
Vào thế kỷ XIX đã xây dựng “Tàng thư lầu” và “Từ khuê thư viện” bởi
nhà Nguyễn.
+ Giai đoạn từ 1858 đến 1954
Thời kỳ này nước ta bị thực dân Pháp xâm lược, chữ quốc ngữ được sử
dụng chủ yếu, vì vậy thư viện đã bổ sung những cuốn được viết bằng chữ
quốc ngữ và chữ Pháp. Thời kỳ này thư viện đã được xây dựng như thư viện
trung ương xứ Đông Dương, Thư viện Hội nghiên cứu Đông Dương... ví dụ
như “Bibliographie Annamte (1867), Bibliotheca Indosinica (1912-1915) của
Henri Cordier...
+ Giai đoạn từ 1954 đến nay
Từ năm 1954, sau khi miền Bắc hòa bình, sự nghiệp thư viện Việt Nam
mới có điều kiện phát triển, số lượng thư viện tăng lên đáng kể với nhiều loại
hình thư viện khác nhau như thư viện công cộng, hệ thống thư viện khoa học,
hệ thống thư viện trường học... và số lượng đội ngũ cán bộ tăng lên nhanh
chóng, nhiều cán bộ không những được đào tạo trong nước mà còn ra cả nước
ngoài học tập về chuyên ngành thư viện.
Trong thời kỳ này, thư viện Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn bởi thư viện
học Xô Viết và tiếp nhận những thành tựu đó vào thư viện của Việt Nam. Họ
đã cử cán bộ, chuyên gia về thư viện để hướng dẫn, chỉ đạo và xây dựng hệ
thống thư viện ở Việt Nam. Hiện nay, nước ta có khoảng 27.000 thư viện với
các loại hình khác nhau để phục vụ nhu cầu đọc, nghiên cứu của con người
1.3. Hoạt động Thông tin - Thƣ viện trong trƣờng đại học
1.3.1. Những quan điểm về hoạt động Thông tin - Thư viện
+ Quan điểm của V.I. Lênin
Hiện nay, chúng ta còn lưu giữ hơn 500 tác phẩm do Lê Nin viết về
công tác thư viện. Trong những tác phẩm này đã thể hiện đầy đủ các quan
điểm của ông về công tác thư viện.

kế hoạch đồng thời yêu cầu nhân dân phải tham gia tích cực vào việc xây
dựng và phát triển của thư viện.
19


+ Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoạt động thông tin - thư viện.
Ngay sau khi thành lập, Đảng ta rất quan tâm đến công tác sách báo, coi đó
là công cụ để giáo dục cách mạng cho người dân bằng những việc làm cụ thể như:
mua sách, phê bình sách, hướng dẫn đọc sách. Chỉ thị đầu tiên về công tác sách
báo, thư viện ngày 30/03/1937 của Trung ương Đảng đã chỉ rõ: “Vấn đề tuyên
truyền cổ động, mỗi một chi bộ phải lập một chỗ “bình dân thư xã” hay một cơ
quan tương đương để mua sách báo công khai và làm tài liệu nghiên cứu...”.
Chỉ thị số 109-TT-TW ngày 21/10/1958 “Về tăng cường công tác văn hóa”
của Ban Bí thư Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam nêu rõ: “Phải biết sử dụng
mọi hình thức, mọi phương pháp của công tác văn hóa như chú ý đến phong trào
sinh hoạt văn hóa quần chúng, đến nhà văn hóa... đến công tác đọc sách, công tác
thư viện” để đẩy mạnh văn hóa, hưởng thụ văn hóa trong nhân dân.
Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng năm 1960
chỉ rõ: “Về công tác thư viện, cần mở rộng các thư viện hiện có, xây dựng
thêm một số thư viện ở các khu công nhân, các thị xã và mở rộng phong trào
quần chúng đọc sách”.
Nghị quyết Đại hội Đảng khóa VIII: “Tích cực xây dựng trường sở,
tăng thêm các thiết bị và thư viện, tủ sách cho các trường bổ túc văn hóa và
trường phổ thông”.
Nghị quyết Trung ương 2 – Khóa VIII: “Tất cả các trường phổ thông
đều có tủ sách, thư viện và các trang thiết bị tối thiểu để thực hiện các thí
nghiệm trong chương trình. Sớm chấm dứt tình trạng “dạy chay”...”.
Điều 1- Quy chế thư viện kèm theo Quyết định 61/1998/QĐ-BGD&ĐT
ngày 6/11/1998 của Bộ GD& ĐT cũng đã xác định: “Thư viện trường phổ
thông là một bộ phận cơ sở vật chất trọng yếu, trung tâm sinh hoạt văn hóa và

Căn cứ vào đặc điểm, tính chất, hình thức thể hiện thông tin, người ta
phân chia NLTT thành 2 loại:
- Nguồn lực thông tin truyền thống (còn gọi là NLTT dạng in ấn) là các
dạng tài liệu in ấn như: sách, báo, tạp chí, sách chuyên khảo, đề tài, luận án,
luận văn, các văn bản... về các lĩnh vực kinh tế, chính trị, đời sống, xã hội.

21


- Nguồn lực thông tin điện tử (còn gọi là NLTT số hoá): Các sản phẩm
thông tin được thể hiện nhờ vào ứng dụng CNTT như: tài liệu âm thanh, hình
ảnh, cơ sở dữ liệu mà người sử dụng thông tin có thể tiếp cận thông qua các
thiết bị tin học trong môi trường phát triển CNTT. Trong thời đại ngày nay,
NLTT điện tử là NLTT tích cực của xã hội hiện đại.
- Đối với thư viện trường ĐH, nguồn lực thông tin chủ yếu là các tài liệu
tham khảo, sách giáo trình, báo, tạp chí, CSDL về các lĩnh vực thuộc chuyên
ngành đào tạo của trường ĐH. Bên cạnh đó, NLTT còn dưới dạng các đồ án,
luận văn tốt nghiệp, luận án tiến sỹ, các đề tài cấp Bộ, cơ sở, báo cáo khoa học,
các bài giảng, hội nghị, hội thảo khoa học, kỷ yếu... đây là NLLT phong phú, có
giá trị vô cùng quan trọng, phản ánh sức mạnh của các trường ĐH.
1.3.3. Đặc điểm đối tượng sử dụng thông tin trong trường đại học
Trong trường đại học, với chức năng và nhiệm vụ là GD - ĐT và
NCKH, đây là nơi đào tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu
của xã hội. Tuy nhiên để đáp ứng nhu cầu thông tin cũng như người sử dụng
thông tin là yếu tố vô cùng quan trọng, tác động đến sự phát triển và tồn tại
mọi hoạt động của thư viện. Vì vậy, thư viện thường xuyên phải có sự thay
đổi, nắm bắt được nhu cầu, thị hiếu của bạn đọc để đa dạng hóa và nâng cao
chất lượng các sản phẩm và dịch vụ của thư viện trên cơ sở những đặc điểm
sau của người sử dụng thông tin:
Người sử dụng thông tin là người trực tiếp sử dụng nguồn thông tin và

trong khuôn khổ trường ĐH, nó không giống các thư viện công cộng là phục vụ tất
cả những ai có nhu cầu thông tin. Vì thế, nghiên cứu người đặc điểm người sử
dụng thông tin để cung cấp nhu cầu thông tin một cách có hiệu quả và phù hợp với
điều kiện thực tế của nhà trường, góp phần xây dựng thư viện ngày càng phát triển
hơn, lôi cuốn bạn đọc hứng thú vào hoạt động chung của thư viện.
1.3.4. Nguyên tắc quản lý hoạt động Thông tin - Thư viện
Nguyên tắc quản lý là những quy tắc chỉ đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà
công tác quản lý bất kỳ cấp nào đều phải tuân theo khi thực hiện chỉ đạo và điều
hành công việc quản lý của mình. Các nguyên tắc quản lý một tổ chức gồm:
23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status