ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
*****
VĂN HOÀI HƢƠNG
NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ,
CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN CAO LỘC,
TỈNH LẠNG SƠN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH Hà Nội – 2014
Hà Nội – 2014 MỤC LỤC Danh mục các từ viết tắt i
MỞ ĐẦU 1
Chƣơng 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIẾN VỀ NÂNG CAO
CHẤT LƢỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 7
1.1. Khái niệm và vai trò của cán bộ, công chức cấp xã. 7
1.1.1. Khái niệm cán bộ, công chức cấp xã. 7
1.1.2. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã. 8
1. 2. Chất lƣợng cán bộ, công chức cấp xã. 12
1.2.1. Khái niệm chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. 12
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. . 14
1. 3. Nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã. 26
1.3.1. Nội dung nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã. 26
1.3.2. Những điều kiện đảm bảo nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ
công chức cấp xã. 31
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG ĐỘI
NGŨ CÁN BỘ CÔNG CHỨC CẤP XÃ CỦA HUYỆN CAO LỘC, TỈNH
LẠNG SƠN TỪ NĂM 2009 ĐẾN NAY. 39
2.1. Tổng quan điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện. 39
2.2. Thực trạng chất lƣợng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã của huyện
Cao Lộc. 40 2.3. Các hoạt động nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ công chức cấp xã
chức cấp xã của huyện Cao Lộc. 68
3.3.1. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công
tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức. 68
3.3.2. Nâng cao chất lƣợng và đổi mới công tác đánh giá cán bộ, công
chức. Error! Bookmark not defined.
3.3.3. Công tác quy hoạch cán bộ, tạo nguồn cán bộ, công chức gắn với
công tác đào tạo, bồi dƣỡng…………………………… ………… 68
3.3.4. Công tác bổ nhiệm, bố trí và sử dụng CBCC……………………70
3.3.5. Tăng cƣờng công tác đào tạo, kiểm tra, đánh giá CBCC……… 73
3.3.6. Chính sách đại ngộ, chế độ khuyến khích đối với CBCC………75
3.3.7. Nâng cao chất lƣợng tuyển dụng CBCC……………………… 75
KẾT LUẬN 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CBCC
Cán bộ, công chức
2
CNH, HĐH
114/2003/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công 2
chức xã, phƣờng, thị trấn; Thông tƣ số 03/2004/TT-BNV ngày 16 tháng 01
năm 2004 của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 114/2003/NĐ-CP
ngày 10 tháng 10 năm 2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức xã, phƣờng,
thị trấn; Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003 của Chính
phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng, thị trấn;
Thông tƣ liên tịch số 34/2004/TTLT-BNV-BTC-BLĐXH ngày 14 tháng 5 năm
2004 của Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính, Bộ Lao động - Thƣơng binh và Xã hội
hƣớng dẫn thực hiện Nghị định số 121/2003/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2003
của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phƣờng, thị
trấn; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính
phủ về công chức xã, phƣờng, thị trấn; Thông tƣ số 06/2012/TT-BNV ngày
30/9/2012 của Bộ Nội vụ hƣớng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm
vụ và tuyển dụng công chức xã, phƣờng, thị trấn và một số các văn bản khác
nhằm từng bƣớc chuẩn hoá, nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức cấp
xã. Tuy nhiên, một thực tế khách quan là chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức
cấp xã ở các vùng nông thôn, miền núi tƣơng đối thấp, không tƣơng xứng với
vai trò, vị trí của họ cũng nhƣ đáp ứng đầy đủ các chức danh theo quy định của
Nhà nƣớc. Điều này ảnh hƣởng không nhỏ đến hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
chính quyền cấp cơ sở, nghiêm trọng hơn là dẫn đến nhiều sai phạm, làm mất
lòng tin của nhân dân đối với Đảng, với Nhà nƣớc, gây ra tình trangk khiếu nại,
khiếu kiện đông ngƣời, mất ổn định cục bộ tại một số địa phƣơng nhƣ ở Đồ Sơn,
Thái Bình…Do đó, việc nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ
sở luôn là vấn đề quan tâm của các cấp, các ngành để đáp ứng tiêu chuẩn, chức
danh và đòi hỏi thực tế ngày càng cao là nhiệm vụ trọng tâm trong công tác cán
bộ cấp cơ sở.
Cao Lộc là một huyện miền núi biên giới nằm ở phía Đông Bắc của
Nguyễn Thị Hải: Về đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp xã ở
Thái Bình trong điều kiện cải cách nền hành chính nhà nước, Hà Nội, 2001. 4
Trong điều kiện cải cách hành chính nhà nƣớc, vấn đề cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã đƣợc đặc biệt quan tâm. Một số đề tài khoa học, công trình
nghiên cứu đề cập trực tiếp đến vấn đề này và hoàn chỉnh hơn.
PGS, TS Bùi Tiến Quý: Một số vấn đề về tổ chức và hoạt động của chính
quyền địa phương trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 2000;
TS Thang Văn Phúc và TS Chu Văn Thành đồng chủ biên: Chính quyền
cấp xã và quản lý nhà nước cấp xã của Viện Khoa học Tổ chức Nhà nƣớc, Ban
Tổ chức Cán bộ chính phủ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000;
TS Nguyễn Ngọc Hiến chủ biên: Các giải pháp thúc đẩy cải cách hành
chính ở Việt Nam của Học viện Hành chính Quốc gia, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội 2001;
TS Nguyễn Văn Sáu và GS Hồ Văn Thông chủ biên: Thực hiện quy chế
dân chủ và xây dựng chính quyền cấp xã ở nước ta hiện nay, Học viện Chính trị
Quốc gia Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003;
Th.S Dƣơng Hƣơng Sơn, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức
chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004;
Ngoài ra, một số bài viết, nghiên cứu đƣợc đăng trên các Tạp chí Thông
tin Chính trị học, Tạp chí Quản lý nhà nƣớc, Nhà nƣớc pháp luật nhƣ:
TS Lê văn Hòe: Về hoàn thiện tổ chức bộ máy hệ thống chính trị ở các
tỉnh miền núi, Đề tài độc lập cấp nhà nƣớc: Các giải pháp đổi mới hoạt động của
hệ thống chính trị các tỉnh miền núi, Hà Nội, 2002;
PGS Hà Quang Ngọc: Đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở: Thực trạng và
giải pháp, Tạp chí Cộng sản số 2/1999;
Dự báo và xây dựng những tiêu chuẩn về cán bộ, công chức cấp xã ở
huyện Cao Lộc, đề xuất các giải pháp cụ thể có tính khả thi nhằm nâng cao chất
lƣợng cán bộ, công chức cấp xã đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp
quyền, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn huyện Cao Lộc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu.
- Đối tƣợng nghiên cứu của Luận văn là chất lƣợng đội ngũ CBCC cấp
xã theo quy định của Luật Cán bộ, công chức 2008 (có hiệu lực thi hành từ
01/01/2010). 6
- Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu đội ngũ CBCC cấp xã trên địa bàn
23 xã, thị trấn của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn từ năm 2009 đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
- Luận văn đƣợc nghiên cứu dựa trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ
nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác -
Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, của
Đảng và Nhà nƣớc ta về nhà nƣớc, pháp luật xã hội chủ nghĩa (XHCN), về đội
ngũ CBCC cấp xã.
- Luận văn sử dụng phƣơng pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, so
sánh, thống kê,
6. Kết cấu của Luận văn.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lƣợng đội
ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Chƣơng 2: Thực trạng công tác nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán bộ,
công chức cấp xã của huyện Cao Lộc, tỉnh Lạng Sơn từ 2009 đến nay.
Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng đội ngũ cán
bộ, công chức của huyện Cao Lộc, Lạng Sơn từ nay đến năm 2020.
Khoản 3: Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
a) Trƣởng ban công an;
b) Chỉ huy trƣởng Quân sự;
c) Văn phòng - thống kê;
d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc
địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng đối với xã);
đ) Tài chính - kế toán;
e) Tƣ pháp - hộ tịch;
g) Văn hóa - xã hội.
Từ những phân tích trên có thể khái quát khái niệm CBCC cấp xã nhƣ sau:
CBCC cấp xã là công dân Việt Nam, trong biên chế, đƣợc hƣởng lƣơng từ
ngân sách Nhà nƣớc, có quan hệ chặt chẽ với nhau trên địa bàn hành chính
lãnh thổ cấp xã, đƣợc bầu để giữ chức vụ hoặc đƣợc tuyển dụng giao giữ các
chức danh chuyên môn, nghiệp vụ, hoạt động theo sự phân công, phối hợp
nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ về
kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh, văn hoá, xã hội ở cơ sở theo quy định
của pháp luật.
1.1.2. Vị trí, vai trò của cán bộ, công chức cấp xã.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -Lênin đã từng nêu cao vai trò
của ngƣời cán bộ. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chƣa hề có một giai cấp nào
giành đƣợc quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra đƣợc hàng ngũ của mình
những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và
lãnh đạo phong trào" [16, tr.473].
Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến cán bộ, coi đây là vấn đề
then chốt. Ngƣời khẳng định: "Cán bộ là những ngƣời đem chính sách của
Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời 9
đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt
Vốn quý nhất của Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân ta là cán bộ. Cán bộ là
một trong những nhân tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của
sự nghiệp cách mạng. Lênin chỉ rõ: "Trong lịch sử chƣa hề có một giai cấp
nào giành đƣợc quyền thống trị nếu không đào tạo ra đƣợc trong hàng ngũ của
mình những lãnh tụ chính trị, ngƣời đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ
chức và lãnh đạo phong trào” [16, tr.478]. Năm 1922, khi đã giành đƣợc
chính quyền, Lênin khẳng định: "Nghiên cứu con ngƣời, tìm ra những cán bộ
có bản lĩnh. Hiện nay đó là then chốt, nếu không thế thì tất cả mệnh lệnh và
quyết định chỉ là mớ giấy lộn" [17, tr.449].
Để xây dựng đất nƣớc Việt Nam độc lập có chủ quyền với mục tiêu
dân giàu, nƣớc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hồ Chí Minh cũng đã
khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc và công việc thành công
hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém" [21, tr.273].
Đảng ta luôn coi cán bộ có vai trò quyết định đối với sự nghiệp cách
mạng. Nghị quyết Hội nghị Trung ƣơng 3 (khóa VII) khẳng định trong công
cuộc đổi mới đất nƣớc thì:
Cán bộ hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm tiến trình đổi mới. Cán bộ nói
chung có vai trò rất quan trọng, cán bộ cơ sở nói riêng có vị trí nền tảng cơ sở.
Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trƣơng đƣờng lối của
Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc. Chất lƣợng và hiệu quả thực thi pháp luật
một phần đƣợc quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp
gắn với quần chúng; tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng. Cơ sở xã,
phƣờng, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào chất lƣợng
đội ngũ cán bộ xã, phƣờng, thị trấn [13, tr.21]. 11
Do địa bàn hoạt động, tính chất công việc và nhiệm vụ đƣợc giao nên
ngƣời CBCC cấp xã phải thƣờng xuyên tiếp xúc với nhân dân để triển khai các
chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc cũng nhƣ trực tiếp lắng
năng lực, phẩm chất và uy tín, có những biểu hiện về tham ô, tham nhũng,
lãng phí, hống hách, cửa quyền với dân thì ở đó tình hình sẽ khó khăn, dân
mất niềm tin vào Đảng, thậm chí còn bị kẻ xấu kích động, gây rối, trở thành
những điểm nóng phức tạp, kéo dài.
Do đó, để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp
cơ sở thì trƣớc hết phải nâng cao chất lƣợng hoạt động của đội ngũ CBCC cấp
xã. Họ không chỉ là ngƣời có nhiệt tình cách mạng, có phẩm chất đạo đức tốt
mà cần phải có tri thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có năng lực công tác
để hoàn thành nhiệm vụ Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân giao phó. Vì thế, xây
dựng đội ngũ CBCC cấp xã vững vàng về chính trị, gƣơng mẫu về đạo đức,
trong sạch về lối sống, trong đó nâng cao trình độ của đội ngũ này để học có
trí tuệ, kiến thức và năng lực hoạt động là yếu tố quan trọng nhất trong việc
nânng cao chất lƣợng hoạt động của chính quyền cấp cơ sở.
1. 2. Chất lƣợng cán bộ, công chức cấp xã.
1.2.1. Khái niệm chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Nxb Đà Nẵng
xuất bản năm 2000 định nghĩa: "Chất lƣợng: Cái tạo nên phẩm chất, giá trị
của một con ngƣời, một sự vật, sự việc" [46, tr. 144].
Khi đánh giá chất lƣợng đội ngũ cán bộ chính quyền cấp xã, một vấn
đề đặt ra là hiểu cho đúng thế nào là chất lƣợng của đội ngũ cán bộ. Chất
lƣợng của đội ngũ cán bộ đƣợc xem xét dƣới nhiều góc độ khác nhau: 13
Chất lƣợng của đội ngũ cán bộ đƣợc thể hiện thông qua hoạt động của
bộ máy chính quyền cấp xã, ở việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của
chính quyền cấp xã.
Chất lƣợng của đội ngũ cán bộ đƣợc đánh giá dƣới góc độ phẩm chất
đạo đức, trình độ năng lực và khả năng hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao cũng
nhƣ hiệu quả công tác của họ.
nghiệp vụ cũng như khả năng thích ứng, đáp ứng yêu cầu thực hiện có hiệu
quả nhiệm vụ được giao trong các mặt lĩnh vực công tác ở cơ sở.
1.2.2. Các tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã.
1.2.2.1. Phẩm chất chính trị:
Phẩm chất chính trị là tiêu chí quan trọng nhất, quyết định đến năng lực
quản lý nhà nƣớc của cán bộ, công chức. Phẩm chất chính trị là động lực tinh
thần thúc đẩy cán bộ, công chức các cấp vƣơn lên hoàn thành xuất sắc nhiệm
vụ đƣợc giao hay nói cách khác là hoàn thành nhiệm vụ với hiệu quả cao
nhất. Phẩm chất chính trị cũng chính là yêu cầu cơ bản nhất đối với ngƣời cán
bộ, công chức.
Phẩm chất chính trị là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành
tuyệt đối với lý tƣởng của Đảng, với Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ tƣởng Hồ
Chí Minh, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng hết sức vì sự nghiệp của
nhân dân; là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con
đƣờng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Phẩm chất chính trị đòi hỏi ngƣời cán bộ, công chức phải thấm nhuần
chủ nghĩa Mác - Lênin, Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, quán triệt đƣờng lối, chủ
trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc, có tinh thần cƣơng
quyết đấu tranh chống lại các hiện tƣợng lệch lạc, những biểu hiện mơ hồ, sai 15
trái đƣờng lối, chủ trƣơng chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nƣớc và
các hành vi xâm phạm quyền lợi chính đáng của nhân dân.
Ngƣời cán bộ, công chức chính quyền cấp xã có phẩm chất chính trị tốt
là ngƣời tích cực tuyên truyền, vận động gia đình, bà con nhân dân thực
hiện tốt đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà
nƣớc. Là ngƣời luôn luôn trăn trở băn khoăn và tìm cách tháo gỡ những
khó khăn ở cơ sở, từng bƣớc nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho
nhân dân. Ngƣời có phẩm chất chính trị tốt là ngƣời một lòng phục vụ Nhà
Làm cách mạng với khát vọng giải phóng dân tộc, điều mà Hồ Chí
Minh quan tâm trƣớc hết ở ngƣời cán bộ cách mạng là vấn đề đạo đức. Ngƣời
cho rằng, đạo đức chính là cái gốc quan trọng hàng đầu của ngƣời cách mạng
"Ngƣời cách mạng phải có đức, không có đức thì dù tài giỏi mấy cũng không
lãnh đạo đƣợc nhân dân"[21, tr.252]. Đối với ngƣời cán bộ, nếu thiếu hoặc
yếu về đạo đức cách mạng thì không thể làm tốt những công việc đƣợc giao.
Đạo đức là hết sức cần thiết cho tất cả mọi ngƣời, và đặc biệt cần thiết cho
ngƣời cán bộ, công chức. "Ngƣời cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm
nền tảng mới hoàn thành đƣợc nhiệm vụ cách mạng vẻ vang "[23, tr.283]. Ngƣời
đòi hỏi cán bộ, công chức phải giữ đƣợc đạo đức cách mạng, đó mới là ngƣời
cán bộ chân chính. Chỉ khi có đầy đủ đạo đức cách mạng thì cán bộ, công chức
mới có đủ điều kiện làm cách mạng. "Muốn giải phóng dân tộc, giải phóng cho
loài ngƣời là một công việc to tát, mà tự mình không có đạo đức, không căn bản,
tự mình đã hủ hóa, xấu xa thì còn làm nổi việc gì" [21, tr.253].
Nội dung đạo đức cách mạng trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh đƣợc thể
hiện một cách dễ hiểu, thiết thực nhƣng cũng đầy đủ và toàn diện. Tiêu chí
đạo đức ngƣời cán bộ cách mạng đƣợc Hồ Chí Minh chỉ ra hết sức cụ thể, đó
là nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm; mỗi ngƣời cán bộ phải hội đủ các phẩm chất
cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tƣ. 17
Bên cạnh việc chỉ ra những tiêu chí đạo đức ngƣời cán bộ cách mạng, Hồ
Chí Minh còn chỉ ra những căn bệnh mà cán bộ phải phòng tránh, sửa chữa. Đó
là óc địa phƣơng chủ nghĩa, bè phái, quân phiệt, hẹp hòi, chuộng hình thức, lối
làm việc bàn giấy, vô kỷ luật, tham lam, lƣời biếng, kiêu ngạo, lãng phí…
Nhƣ vậy, vấn đề đạo đức đƣợc Hồ Chí Minh coi là cái nền, cái gốc của
ngƣời cán bộ cách mạng. Tƣ tƣởng ấy của Hồ Chí Minh trƣớc sau cơ bản là
nhất quán, thể hiện ở mấy điểm: Trung với nƣớc, hiếu với dân, ngƣời cán bộ
phải là đầy tớ của nhân dân, dũng cảm hy sinh, không sợ khó khăn, gian khổ,
luyện càng trong" [23, tr.293].
Đây là phẩm chất rất quan trọng đối với cán bộ, công chức chính quyền
cấp xã, nó là cái gốc của ngƣời cán bộ. Ngƣời cán bộ, công chức phải có đầy
đủ đạo đức cách mạng thì mới có đủ điều kiện để phục vụ nhân dân, phục vụ
Tổ quốc, phục vụ Đảng. Nếu thiếu hoặc yếu kém đạo đức cách mạng sẽ
không thể làm tốt công việc đƣợc giao và nó là nguyên nhân của tệ quan liêu,
tham nhũng tạo nên nguy cơ đe dọa đến sự tồn vong của Đảng, sự sống còn
của chế độ.
1.2.2.3. Trình độ năng lực: (lãnh đạo, quản lý, trình độ học vấn, trình
độ lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ quản lý hành
chính nhà nƣớc).
Năng lực cũng là yếu tố rất quan trọng đối với ngƣời cán bộ. Chính
năng lực quyết định hiệu quả công việc của ngƣời cán bộ. Năng lực của chủ
thể bao gồm nhiều yếu tố nhƣng trong đó có hai yếu tố quan trọng cơ bản tạo
thành hai điều kiện cần và đủ cho chủ thể: đó là năng lực pháp luật và năng
lực hành vi. Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Năng lực của con ngƣời không
phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có"
[33, tr.40]. Năng lực là kết quả của quá trình học tập, rèn luyện, hoạt động
thực tiễn của con ngƣời. 19
Trong đó năng lực đầu tiên mà Hồ Chí Minh đòi hỏi ở ngƣời cán bộ
cách mạng là năng lực lãnh đạo, quản lý, là khả năng tổ chức động viên quần
chúng thực hiện tốt đƣờng lối, chủ trƣơng của Đảng, chính sách, pháp luật của
Nhà nƣớc. Vì cán bộ chính là cầu nối, là ngƣời đem chính sách của Đảng, của
Chính phủ đến với nhân dân, nên đòi hỏi cán bộ phải có năng lực này, nếu
không thì không xứng đáng là cán bộ cách mạng. Và để tuyên truyền thực
hiện tốt đƣợc đƣờng lối của Đảng và Nhà nƣớc trong quần chúng, đòi hỏi cán
bộ phải có năng lực thực hành dân chủ, nghĩa là phải có mối liên hệ mật thiết