i ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TRẦN ÚY UYÊN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC TẠI KHO BẠC NHÀ NƢỚC TỈNH
PHÚ THỌ LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH
NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC
TẠI KHO BẠC NHÀ NƢỚC TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành : Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƢƠNG TRÌNH ĐỊNH HƢỚNG THỰC HÀNH NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN NGỌC THANH Hà Nội – 2014
iii
MỤC LỤC
Trang
Danh mục các ký hiệu viết tắt i
Danh mục các bảng ii
TẠI KHO BẠC NHÀ NƢỚC TỈNH PHÚ THỌ 51
2.1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ ảnh
hƣởng đến công tác thu NSNN. 51
2.2. Hiệu quả công tác quản lý thu NSNN tại KBNN Phú Thọ 52
2.2.1. Kết quả công tác quản lý thu NSNN. 52
2.2.2. Đánh giá hiệu quả công tác quản lý thu NSNN 71
2.2.3. Đánh giá chung 74
Chƣơng 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN
LÝ THU NSNN TẠI KBNN TỈNH PHÚ THỌ TRONG THỜI GIAN TỚI 82
3.1. Phƣơng hƣớng đổi mới công tác công tác quản lý thu NSNN 82
3.2. Các giải pháp cụ thể 84
3.2.1. Hoàn thiện quy trình, thủ tục thu NSNN gắn với công tác cải cách hành chính
của KBNN Phú Th 84
3.2.2. Đẩy mạnh triển khai công tác phối hợp thu với các NHTM trên địa bàn 86
3.2.3. Nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ nhất là cán bộ làm công tác
quản lý thu NSNN 87
3.2.4. NHTM tích cực triển khai các hình thức thu nộp hiện đại theo chuẩn quốc tế
như internet banking, nộp thuế qua thẻ ATM và dịch vụ thu không chờ chấp thuận
của NHTM 88
3.3. Các điều kiện thực hiện 89 v
3.3.1. Đối với Bộ Tài chính 89
3.3.2. UBND các cấp, Cơ quan Thuế, Hải quan, Ngân hàng 90
3.3.3. Đối với KBNN 91
KẾT LUẬN 94
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC
CSDL
Cơ sở dữ liệu
2
KBNN
Kho bạc nhà nước
3
MLNS
Mục lục ngân sách
4
NNT
Người nộp thuế
5
NHTM
Ngân hàng thương mại
6
NSNN
Ngân sách nhà nước
7
TCS
Chương trình thu thuế trực tiếp
8
TCS-NHTM
Chương trình thu ngân sách nhà nước
ngân hàng thương mại
STT
SỐ HIỆU
NỘI DUNG PHẦN BẢNG BIỂU
TRANG
1
Biểu 2.1
Tổng hợp số liệu thu NSNN, trong đó có thu qua
Ngân hàng từ năm 2009 đến tháng 6/2013
68
8
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội và định hướng đến 2020 của
đất nước, đáp ứng các yêu cầu của cải cách tài chính công và hội nhập kinh tế quốc
tế, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 138/2007/QĐ-TTg ngày 21/8/2007 về
việc phê duyệt Chiến lược phát triển Kho bạc Nhà nước (KBNN) đến năm 2020 với
những cải cách mạnh mẽ về thể chế chính sách và quy trình nghiệp vụ, hoàn thiện
tổ chức bộ máy, hiện đại hoá công nghệ và phát triển nguồn nhân lực. Theo đó,
KBNN phải thực sự trở thành một trong những công cụ quan trng của Chính phủ
trong việc thực hiện công cuộc cải cách hành chính nhà nước, đặc biệt là cải cách
tài chính công theo hướng công khai, minh bạch, từng bước phù hợp với các thông
lệ và chuẩn mực quốc tế, góp phần thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng,
lãng phí nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực của Chính phủ,
chất lượng hoạt động quản lý tài chính vĩ mô, giữ vững ổn định và phát triển nền tài
chính quốc gia.
Thực hiện Chiến lược phát triển KBNN đến năm 2020, công tác quản lý, tập
trung thu ngân sách nhà nước (NSNN) cũng cần phải được cải cách theo hướng:
ứng dụng có hiệu quả công nghệ thông tin điện tử vào quy trình quản lý thu NSNN
nhằm đơn giản về thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian và thủ tục nộp tiền cho
không dùng tiền mặt trong khu vực công nói riêng và trong nền kinh tế nói chung.
Việc cải cách công tác quản lý thu NSNN theo hướng ứng dụng có hiệu quả
công nghệ thông tin điện tử vào quy trình quản lý thu NSNN, phát triển các hình
thức thu NSNN hiện đại nhằm đơn giản về thủ tục hành chính, giảm thiểu thời gian
và thủ tục nộp tiền cho người nộp thuế là chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ, Bộ
Tài chính. Đây là Dự án lớn, có nhiều bên tham gia, có phạm vi triển khai rộng và
có tác động lớn đến toàn thể xã hội nên việc triển khai thực hiện có nhiều khó khăn,
vướng mắc, phức tạp; công tác phối hợp thu NSNN với các NHTM cũng còn một
số tồn tại, vướng mắc cả về khuôn khổ pháp lý, quy trình nghiệp vụ và tổ chức triển
10
khai thực hiện; Ngân hàng Nhà nước chưa tham gia kết nối, trao đổi thông tin dữ
liệu thu NSNN nên chưa có sự điều chỉnh chuẩn thông tin của hệ thống thanh toán
điện tử liên ngân hàng phù hợp với chuẩn thông tin của hệ thống thu NSNN. Vì vậy
phần nào gây khó khăn cho các NHTM (đặc biệt là các NHTM cổ phần, nơi KBNN
không mở tài khoản) trong việc truyền, nhận dữ liệu thu NSNN từ ngân hàng phục
vụ người nộp thuế về ngân hàng phục vụ KBNN thông qua hệ thống thanh toán điện
tử liên ngân hàng, đồng thời cũng gây khó khăn cho các đơn vị trong việc tổ chức
phối hợp thu NSNN tại các địa bàn nơi KBNN tỉnh phải mở tài khoản tại chi nhánh
NHNN tỉnh; công nghệ của KBNN, cơ quan Tài chính, cơ quan thu không đồng
đều; chương trình ứng dụng thu NSNN tại các NHTM hiện mới chủ yếu phục vụ
cho các hình thức nộp NSNN bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản tại trụ sở chi nhánh
hoặc phòng giao dịch của NHTM, chưa chú trng phát triển các hình thức thu nộp
NSNN khác như internet banking, uỷ nhiệm thu không chờ chấp thuận, thu qua
ATM,… Những vấn đề này đòi hỏi cần được khắc phục, hoàn thiện để nâng cao
hơn nữa hiệu quả công tác quản lý thu NSNN trong thời gian tới.
Xuất phát từ thực tế đó, tôi chn đề tài “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý
thu NSNN tại KBNN Phú Thọ” nhằm trả lời các câu hỏi sau: 1. Công tác quản lý thu
NSNN tại KBNN Phú Th giai đoạn vừa qua có cải thiện hay không? 2. Cần có giải
pháp gì để cải thiện công tác này tại KBNN tỉnh trong thời gian sắp tới?
các hình thức thu NSNN hiện đại nhằm đơn giản về thủ tục hành chính, giảm thiểu
thời gian và thủ tục nộp tiền cho người nộp thuế; thông qua việc triển khai phối hợp
thu hình thành cơ sở dữ liệu tập trung, tạo thuận lợi cho cơ quan Thuế, Kho bạc,
NHTM và các cơ quan quản lý nhà nước khai thác số liệu.
- Dự án Hiện đại hóa thu NSNN và tổ chức phối hợp thu với các NHTM:
giảm thiểu thời gian và thủ tục cho NNT của ThS Lê Thị Diệu Huyền, tạp chí Quản
lý Ngân quỹ Quốc gia số 106 (tháng 4/2011). Công trình nghiên cứu việc triển khai
dự án Hiện đại hóa thu NSNN và phối hợp thu toàn hệ thống KBNN đến thời điểm
hiện tại, những kết quả đã đạt được của việc triển khai đồng thời đưa ra vướng mắc
12
về khuôn khổ pháp lý, quy trình nghiệp vụ và hạ tầng công nghệ kỹ thuật, về tổ
chức điều hành triển khai. Bên cạnh đó tác giả đưa ra một số ý kiến để nâng cao hơn
nữa hiệu quả của công tác trên: Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, Hoàn thiện quy trình
nghiệp vụ và hạ tầng công nghệ kỹ thuật, nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực
hiện.
- Ủy nhiệm thu NSNN cho NHTM: Diện cung ứng dịch vụ hành chính công
được mở rộng của ThS Vĩnh Sang, tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 122
(tháng 8/2012). Nghiên cứu hiệu quả ủy nhiệm thu NSNN cho NHTM và tiếp tục
mở rộng phối hợp thu đề suất NHTM triển khai hình thức thu hiện đại.
- Hiệu quả từ việc thực hiện dự án Hiện đại hóa thu NSNN của Nguyễn Hạnh
Thảo Nguyên, tạp chí Quản lý Ngân quỹ Quốc gia số 127+128 (tháng 1+2/2013).
Công trình nghiên cứu hiệu quả công tác Hiện đại hóa thu NSNN, công tác tổ chức
phối hợp thu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng từ thời điểm năm 2009 đến năm 2013:
đối với người nộp thuế, đối với cơ quan thu, đối với Kho bạc, đối với NHTM.
Các công trình nghiên cứu ở trên mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu một vài
khía cạnh về công tác quản lý thu NSNN qua KBNN như: thực trạng, kết quả triển
khai, ảnh hưởng của công tác triển khai dự án Hiện đại hóa thu NSNN và phối hợp
thu qua NHTM đối với tổ chức bộ máy kho quỹ, kết quả triển khai góp phần vào
công tác cải cách hành chính tại Kho bạc, đề xuất giải pháp trong phạm vi nghiên
Phú Th từ năm 2009-2013 và đề xuất giải pháp, kiến nghị cho những năm tiếp
theo.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử trong quá trình thực hiện đề tài, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn;
phương pháp tiếp cận hệ thống. Luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như phân tích, thống kê, so sánh, tổng hợp,… để làm rõ những đánh giá,
nhận định và đưa ra những đề xuất cần thiết. Luận văn dựa trên cơ sở đường lối,
chủ trương của Đảng và Nhà nước trong quản lý nhà nước về lĩnh vực ngân sa
́
ch,
14
mà cụ thể là quản lý thu NSNN.
Số liệu sử dụng: Nghị quyết của Tỉnh ủy, báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh;
các báo cáo thu NSNN của KBNN Phu
́
Tho
̣
năm 2009 - 2013. Sử dụng số liê
̣
u so
sánh để làm tăng tính trực quan và sức thuyết phục của đề tài.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản lý thu NSNN
tại KBNN tỉnh.
- Trên cơ sở hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả công tác quản lý thu NSNN,
áp dụng để phân tích, đánh giá thực trạng của công tác quản lý thu NSNN tại
KBNN tỉnh Phú Th từ năm 2009 - 2013. Chỉ ra nguyên nhân làm hạn chế công tác
quản lý thu NSNN tại KBNN tỉnh Phú Th.
hiện mục tiêu KT-XH. NSNN được lập và thực hiện cho một thời gian nhất định,
thường là một năm và được Quốc hội phê chuẩn thông qua.
NSNN là quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước. Quỹ này thể hiện lượng tiền
huy động từ thu nhập quốc dân để đáp ứng cho các khoản chi tiêu của Nhà nước, có
hai mặt đó là: mặt tĩnh và mặt động. Mặt tĩnh thể hiện các nguồn tài chính được tập
trung vào NSNN mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt
động thể hiện các quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ
tập trung vào NSNN và từ NSNN phân bổ các nguồn tài chính cho các ngành, các
lĩnh vực, các địa phương của nền kinh tế quốc dân.
Thu NSNN phản ánh các quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình Nhà nước
dùng quyền lực chính trị để thực hiện phân phối các nguồn tài chính dưới hình thức
giá trị nhằm hình thành quỹ tiền tệ của Nhà nước. Thu NSNN bao gồm toàn bộ các
khoản tiền được tập trung vào tay Nhà nước để hình thành quỹ NSNN đáp ứng cho
các yêu cầu chi tiêu xác định của Nhà nước.
16
Trong bất cứ xã hội nào, cơ cấu các khoản thu NSNN đều gắn liền với chức
năng, nhiệm vụ và quyền lực chính trị của Nhà nước. Sự ra đời, tồn tại và phát triển
của Nhà nước là điều kiện xuất hiện các khoản thu NSNN. Ngược lại, các khoản thu
NSNN là tiền đề vật chất không thể thiếu để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của
Nhà nước.
Thu ngân sách nhà nước trước hết và chủ yếu gắn liền với các hoạt động kinh
tế trong xã hội. Mức độ phát triển kinh tế, tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm là tiền
đề đồng thời là yếu tố khách quan hình thành các khoản thu NSNN và quyết định
mức độ động viên các khoản thu của NSNN.
Thu ngân sách nhà nước ảnh hưởng lớn đến tốc độ, chất lượng và tính bền
vững trong phát triển của một quốc gia. Thu NSNN bao gồm thuế, các khoản phí, lệ
phí, thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước, thu đóng góp của các tổ chức và cá
nhân, các khoản viện trợ và các khoản thu khác theo quy định của pháp luật.
Cơ quan Thuế, Hải quan và các cơ quan khác được Chính phủ, Bộ Tài chính
KBNN nơi giao dịch trực tiếp với đối tượng nộp.
Chứng từ thu NSNN
- Lệnh thu NSNN:
Lệnh thu NSNN (mẫu C1-01/NS kèm theo) là chứng từ do cơ quan thu phát
hành, yêu cầu KBNN, ngân hàng, tổ chức tín dụng nơi người có nghĩa vụ nộp
NSNN mở tài khoản thực hiện trích tài khoản của người nộp để nộp NSNN (hoặc
nộp vào tài khoản tạm thu, tạm giữ của cơ quan thu trước khi nộp vào NSNN) theo
quy định của Luật NSNN và Luật Quản lý thuế.
- Giấy nộp tiền vào NSNN:
Giấy nộp tiền vào NSNN là chứng từ thu NSNN, do Bộ Tài chính quy định
mẫu thống nhất; Giấy nộp tiền vào NSNN được sử dụng trong các trường hợp:
18
+ Các đối tượng có nghĩa vụ nộp thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác (sau đây
gi chung là người nộp thuế) nộp tiền vào KBNN, ngân hàng thương mại, tổ chức
tín dụng khác và cơ quan được uỷ nhiệm thu NSNN.
+ Cơ quan thu hoặc tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu, nộp số tiền đã thu vào
KBNN hoặc ngân hàng nơi KBNN mở tài khoản.
+ Người nộp thuế nộp tiền vào tài khoản tạm thu, tạm giữ của cơ quan thu (trước
khi xử lý nộp NSNN theo quy định).
Giấy nộp tiền vào NSNN được phát hành theo các hình thức:
+ Đối tượng nộp NSNN tự in.
+ KBNN in và cấp cho người nộp thuế khi đến nộp tiền tại KBNN.
+ Ngân hàng, cơ quan được uỷ nhiệm thu in và cấp cho người nộp tiền.
- Giấy nộp tiền vào NSNN gồm các loại:
+ Giấy nộp tiền vào NSNN (mẫu C1-02/NS kèm theo).
+ Giấy nộp tiền vào NSNN bằng ngoại tệ (mẫu C1-03/NS kèm theo).
+ Giấy nộp tiền vào NSNN chuyển đổi từ chứng từ điện tử (mẫu C1-09/NS kèm
theo).
- Bảng kê nộp thuế:
thu tiền từ người nộp, thì KBNN tổ chức in biên lai, quản lý, sử dụng biên lai theo
quy định của Bộ Tài chính.
- Chứng từ phục hồi
Chứng từ phục hồi trong quản lý thu NSNN là chứng từ giấy được in ra bằng
chương trình máy tính trên cơ sở dữ liệu điện tử được truyền, nhận (thông qua hệ
thống mạng, vật mang tin, ) giữa các cơ quan, đơn vị tham gia trao đổi dữ liệu thu
20
NSNN. Chứng từ phục hồi phải đảm bảo chính xác và đầy đủ nội dung thông tin
theo đúng mẫu quy định.
Chứng từ phục hồi có giá trị pháp lý như chứng từ gốc. Đối với các chứng từ
phục hồi yêu cầu có chữ ký, dấu của cơ quan, đơn vị thì trên chứng từ phục hồi phải
có chữ ký của người có thẩm quyền để xác nhận tính pháp lý của chứng từ và dấu
của cơ quan, đơn vị in chứng từ phục hồi. Bộ Tài chính uỷ quyền cho các cơ quan
tham gia hệ thống trao đổi dữ liệu điện tử về thu NSNN (Thuế, Hải quan, KBNN)
quy định cụ thể loại chứng từ phục hồi phải có chữ ký xác nhận và dấu của đơn vị
in chứng từ phục hồi.
Các nhân tố ảnh hƣởng đến thu NSNN
Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước song nhìn
chung, có một số nhân tố cơ bản như:
- GDP bình quân đầu người.
- Tỷ suất lợi nhuận bình quân trong nền kinh tế.
- Khả năng khai thác và xuất khẩu nguồn tài nguyên thiên nhiên.
- Mức độ trang trải các khoản chi phí của Nhà nước.
- Tổ chức bộ máy thu nộp.
- Nhân tố khác.
1.1.2. Các hình thức thu NSNN
- Thu bằng chuyển khoản:
Thu bằng chuyển khoản từ tài khoản của người nộp tại ngân hàng, ngân hàng
chuyển tiền vào tài khoản của KBNN để ghi thu NSNN.
22
của ngân sách xã để chi theo chế độ quy định (trường hợp các xã miền núi, ở vùng
sâu, vùng xa chưa có điều kiện giao dịch thường xuyên với KBNN).
Thời điểm xác định người nộp thuế đã thực hiện nghĩa vụ nộp NSNN là thời
điểm KBNN, cơ quan thuế hoặc tổ chức, cá nhân được uỷ nhiệm thu xác nhận trên
chứng từ thu bằng tiền mặt.
1.2. Quy trình quản lý thu NSNN theo dự án hiện đại hóa thu, nộp NSNN
1.2.1 Các quy định chung
- Quy định các quy trình, thủ tục thu, nộp tiền thuế và các khoản thu khác vào
NSNN tại KBNN, tạo thuận lợi cho NNT và hỗ trợ công tác kế toán thu ngân sách
nhanh chóng, chính xác.
- Thống nhất dữ liệu số thu về thuế và các khoản thu khác của từng NNT giữa cơ
quan Thuế, KBNN, Hải quan và Tài chính.
- Hỗ trợ việc theo dõi tình trạng thu, nộp tiền thuế và các khoản thu khác đảm bảo
xác định nợ thuế nhanh chóng, chính xác.
1.2.2 Quy trình nghiệp vụ thu NSNN tại KBNN
1.2.2.1. Thu bằng chuyển khoản đối với trƣờng hợp NNT mở tài khoản tại
KBNN
- Bước 1: NNT lập Bảng kê nộp thuế (mẫu số 01/BKNT kèm theo Thông tư số
128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính) chuyển cho Kế toán thu của
KBNN nơi mở tài khoản, cụ thể:
+ Đối với NNT đến nộp lần đầu, hoặc trong trường hợp chưa có dữ liệu về số phải
thu của cơ quan thu gửi sang, hoặc cơ sở dữ liệu (CSDL) không đầy đủ KBNN
hướng dẫn NNT ghi đầy đủ các nội dung trên Bảng kê nộp thuế.
+ Đối với các lần nộp thuế tiếp theo, KBNN hướng dẫn NNT chỉ ghi tên người nộp
và mã số thuế trên Bảng kê nộp thuế.
23
- Bước 2: Căn cứ Bảng kê nộp Thuế, Kế toán thu nhập thông tin trên Bảng kê nộp
đẩy đủ thông tin lập Giấy đề nghị điều chỉnh thu NSNN (mẫu số C1-07/NS ban
hành kèm theo Thông tư số 128/2008/TT-BTC ngày 24/12/2008 của Bộ Tài chính)
và thực hiện thu theo trình tự nợ, chuyển lại cho KBNN để KBNN điều chỉnh, đảm
bảo dữ liệu giữa các cơ quan thống nhất, chính xác và đầy đủ.
+ Trường hợp NNT kê nộp cho nhiều tờ khai hải quan trên một Bảng kê nộp thuế
thì cán bộ Kho bạc hướng dẫn người nộp chỉ lập mỗi tờ khai hải quan trên một
Bảng kê nộp thuế. Nếu NNT nộp qua ngân hàng được KBNN ủy quyền thu thì ngân
hàng đó có trách nhiệm yêu cầu NNT lập một Bảng kê nộp thuế cho một tờ khai hải
quan.
+ Khi nhập mã số thuế vào chương trình nếu không hiện thông tin gì thì nhập theo
Bảng kê nộp thuế của NNT đã kê khai. Trường hợp thông tin hiện ra có sai khác so
với NNT kê khai thì xử lý:
Nếu số tiền NNT kê khai không giống với số tiền hiển thị trên chương trình máy
tính: cán bộ Kho bạc sửa lại số tiền theo NNT đã kê khai.
Nếu sai về mã số thuế, MLNS (Chương, Khoản): lấy theo thông tin cơ quan thu
gửi sang.
Nếu sai về MLNS (Tiểu mục): lấy theo kê khai của NNT vì doanh nghiệp tự chịu
trách nhiệm về việc kê khai, nộp thuế.
Nếu sai các thông tin khác như tên, địa chỉ, … thì lấy theo thông tin NNT kê khai
trên Bảng kê nộp thuế, đồng thời hướng dẫn NNT đến cơ quan Thuế làm thủ tục bổ
sung, thay đổi thông tin để lần sau được cập nhật. Cán bộ Kho bạc phải ghi lại các
thông tin này và thông báo cho cơ quan thu biết để kiểm tra, đối chiếu, bổ sung kịp
thời.
Cơ quan Hải quan khi nhận được chứng từ sai các thông tin về tên, địa chỉ, … thì đề
nghị NNT xuất trình Giấy chứng nhận đăng ký thuế để kiểm tra, đối chiếu. Nếu
khớp đúng thì chấp nhận Giấy nộp tiền vào NSNN đó và cho thông quan hàng hóa
25
nhưng không hạch toán thanh khoản nợ thuế, đồng thời yêu cầu NNT đến cơ quan
thuế làm thủ tục thay đổi thông tin về đăng ký thuế để cơ quan Thuế cập nhật, sửa