ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ NGA CHẤT LƢỢNG CHO VAY
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN
SÀI GÒN THƢƠNG TÍN CHI NHÁNH THĂNG LONG LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hµ Néi - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
của ngân hàng thƣơng mại 8
1.1. Khái niệm, tiêu chí chất lượng cho vay của ngân hàng thương mại . 8
1.1.1 Khái niệm cho vay và chất lượng cho vay của Ngân hàng Thương
mại 8
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho vay đối với DNVVN 17
1.2. Những nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt động cho vay DNVVN
của NHTM 25
1.2.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng 25
1.2.2 Các nhân tố thuộc về DNVVN 32
1.2.3 Các nhân tố khác. 35
1.3. Kinh nghiệm nâng cao chất lượng cho vay DNVVN của một số
ngân hàng thương mại. 38
1.3.1 Kinh nghiệm của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam 38
1.3.2 Kinh nghiệm của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam 41
1.3.3 Bài học kinh nghiệm cho Sacombank Thăng Long 46
Chƣơng 2 :Thực trạng chất lƣợng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại
ngân hàng TMCP Sài Gòn Thƣơng tín chi nhánh Thăng Long 48
2.1 Khái quát về tình hình hoạt động của Sacombank Thăng Long 48
2.1.1 Quá trình hình thành, phát triển 48
2.1.2 Cơ cấu tổ chức 54
2.1.3. Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh của Sacombank Thăng
Long 57
2.2 Thực trạng chất lượng cho vay DNVVN tại Sacombank Thăng
Long 63
2.2.1 Tổng quan hoạt động cho vay của Sacombank 63
2.2.2 Chất lượng cho vay DNVVN tại Sacombank Thăng Long 70
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
CIC
Trung tâm Thông tin Tín dụng của Ngân hàng
Nhà nước
2
DNVVN
Doanh nghiệp vừa và nhỏ
3
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
4
NHNN
Ngân hàng Nhà nước
5
NHTM
Ngân hàng Thương mại
6
PGD
Phòng giao dịch
7
TMCP
Thương mại cổ phần
8
Sacombank
Ngân hàng Thương mại cổ phần Sài Gòn Thương
tín
9
Sacombank
Bảng 2.1
Kết quả hoạt động kinh doanh của Sacombank
Thăng Long
57
2
Bảng 2.2
Tình hình hoạt động cho vay
59
3
Bảng 2.3
Tình hình dư nợ theo đối tượng khách hàng
61
4
Bảng 2.4
Danh sách một số khách hàng là doanh nghiệp
lớn
62
5
Bảng 2.5
Tình hình dư nợ phân theo thời hạn cho vay
65
6
Bảng 2.6
Tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN
68
7
Bảng 2.7
Tỷ lệ nợ quá hạn đối với DNVVN
70
8
Vòng quay vốn tín dụng đối với cho vay
DNVVN
80
16
Bảng 2.16
So sánh hoạt động cho vay DNVVN giữa
Sacombank Thăng Long và MHB Hà Nội
82 iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Hình 2.1
Sơ đồ tổ chức của Sacombank Thăng
Long
52
doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tiếp cận được nguồn vốn một cách kịp thời,
từ đó nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Tổng doanh số cho vay, tổng dư
nợ và tỷ trọng cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của Sacombank chi nhánh
Thăng Long cũng không ngừng tăng trưởng trong các năm qua. Việc ngày
2
càng có nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng các sản phẩm, dịch vụ đã
giúp Sacombank chi nhánh Thăng Longgia tăng thu nhập thông qua các
khoản phí, lãi suất cho vay,
Mặc dù hoạt động cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ trong những năm
vừa qua của Sacombank chi nhánh Thăng Long đã đạt được những kết quả cụ
thể: Tổng dư nợ tăng dần, số lượng khách hàng mới ngày càng nhiều….
Nhưng chất lượng cho vay vẫn còn rất nhiều hạn chế. Trên thực tế, số lượng
các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu vay vốn tại Sacombank chi nhánh
Thăng Long là rất lớn. Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định hồ sơ thì chỉ có
khoảng 30% số doanh nghiệp trên là có đủ điều kiện tiếp cận được với nguồn
vốn vay của Sacombank chi nhánh Thăng Long. Những nguyên nhân chủ yếu
khiến các doanh nghiệp vừa và nhỏ không đủ điều kiện vay vốn tại
Sacombank chi nhánh Thăng Long là: Năng lực tài chính của các doanh
nghiệp còn hạn chế, nhiều doanh nghiệp đã kinh doanh vượt nhiều lần năng
lực tài chính của mình, một số doanh nghiệp có số nợ gần bằng tổng giá trị tài
sản; Ngoài ra, việc quản trị nội bộ doanh nghiệp chưa được quan tâm đúng
mức, sự thiếu hụt thông tin về thị trường khiến việc sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp dễ bị rủi ro, gây ảnh hưởng tới việc trả nợ ngân hàng khi
đến hạn; Doanh nghiệp có phương án kinh doanh không khả thi, tài sản đảm
bảo không đủ để đảm bảo cho khoản vay, sử dụng vốn vay sai mục đích. Bên
cạnh đó tỷ lệ nợ quá hạn của doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sacombank chi
nhánh Thăng Long đang có xu hướng tăng lên trong những năm gần đây.
Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc dân, đã đề cập đến chỉ số tài chính của
một doanh nghiệp. Nó phản ánh sức mạnh tài chính và sự an toàn trong hoạt
động của doanh nghiệp đó. Đó là mối quan tâm của nhiều đối tượng sử dụng
4
như: Chủ các doanh nghiệp, nhà đầu tư… Và đặc biệt là ngân hàng khi tiến
hành thẩm định để cấp tín dụng.
+ Nguyễn Minh Tuấn “Phát triển dịch vụ ngân hàng hỗ trợ doanh
nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam”, Luận án tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân đã phân tích thực trạng các sản phẩm dịch vụ của ngân
hàng cho DNVVN ở Việt Nam và đưa ra các giải pháp nhằm phát triển dịch
vụ ngân hàng hỗ trợ cho DNVVN ở Việt Nam
+ Nguyễn Thu Bình “Nâng cao chất lượng phân tích tài chính doanh
nghiệp trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
chi nhánh Hà Nội”, Luận văn thạc sỹ kinh tế. Trong đề tài tác giả đã tập trung
nghiên cứu nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp trong hoạt
động cho vay của ngân hàng và đã đưa ra các giải pháp để nâng cao chất
lượng thẩm định tài chính doanh nghiệp
Ngoài ra còn có các bài viết đăng tải trên các tạp chí khoa học chuyên
ngành như:
+ Trần Thị Hường “Vay vốn ngân hàng: thách thức lớn đối với doanh
nghiệp vừa và nhỏ”, Tạp chí Kinh Tế Hợp Tác Việt Nam, ngày 22 tháng 08
năm 2011 bài viết đã đề cập đến các nguyên nhân khiến các doanh nghiệp khó
tiếp cận được vốn của ngân hàng như: Các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có
phương án kinh doanh khả thi, tài sản đảm bảo, tình hình tài chính, nguồn vốn
tự có của các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế, uy tín của các doanh
nghiệp chưa cao. Do đó việc tiếp cận vốn của doanh nghiệp là rất khó.
+ TS. Nguyễn Đắc Hưng “Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho phát
lượng cho vay DNVVN tại Ngân hàng Sacombank chi nhánh Thăng
Long từ năm 2009 đến nay (vì Sacombank chi nhánh Thăng Long được
6
thành lập vào cuối năm 2007, trong năm 2008 dư nợ của chi nhánh còn
thấp và chủ yếu là cho vay khách hàng cá nhân).
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp duy vật biện
chứng, duy vật lịch sử, phương pháp phân tích, tổng hợp trong nghiên cứu về
chất lượng cho vay và kinh nghiệm quốc tế, trong nước về vay và chất lượng
cho vay của Ngân hàng thương mại đối với DNVVN; Phương pháp phân tích
SWOT trong đánh giá chung chất lượng cho vay DNVVN của Sacombank chi
nhánh Thăng Long, đồng thời chỉ ra những cơ hội và thách thức trong phân
tích triển vọng chất lượng cho vay DNVVN của Sacombank; Phương pháp
thống kê học để xử lý số liệu.
6. Những đóng góp mới của luận văn
+ Khái quát hóa một số vấn đề lý luận cơ bản về chất lượng cho vay của
Ngân hàng thương mại.
+ Phân tích kinh nghiệm nâng cao chất lượng cho vay DNVVN của một
số Ngân hàng thương mại trong nước và bài học kinh nghiệm cho Sacombank
Thăng Long.
+ Phân tích đánh giá thực trạng chất lượng cho vay DNVVN tại
Sacombank Thăng Long từ năm 2009 đến nay.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
được kết cấu gồm ba chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ của
8
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY DOANH NGHIỆP VỪA VÀ
NHỎ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
1.1. Khái niệm, tiêu chí chất lƣợng cho vay của ngân hàng thƣơng mại
1.1.1 Khái niệm cho vay và chất lƣợng cho vay của Ngân hàng thƣơng mại.
1.1.1.1 Ngân hàng thương mại và chức năng của ngân hàng thương mại
Một nền kinh tế khỏe mạnh và năng động đòi hỏi hệ thống tài chính
phải luân chuyển thông suốt nguồn vốn từ những người tiết kiệm đến những
người có nhu cầu đầu tư. Nhưng để nguồn vốn trên được luân chuyển một
cách hiệu quả thì lại phụ thuộc rất nhiều vào các trung gian tài chính trong đó
đặc biệt phải kể đến hệ thống các ngân hàng thương mại.
Để đưa ra được một định nghĩa về NHTM, người ta thường phải dựa
vào tính chất mục đích hoạt động của nó trên thị trường tài chính và đôi khi
còn kết hợp tính chất, mục đích và đối tượng hoạt động.
Luật Ngân hàng của Pháp, năm 1941 định nghĩa: “NHTM là những xí
nghiệp hay cơ sở nào hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới
hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào
các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. Luật ngân hàng của
ấn Độ 1950, được bổ sung năm 1959 đã nêu: “Ngân hàng là cơ sở nhận các
khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”. Những định nghĩa đại loại
như vậy là căn cứ vào tính chất và mục đích hoạt động.
Một loại định nghĩa khác lại căn cứ vào sự kết hợp với đối tượng hoạt
động. Ví dụ như Luật Ngân hàng của Đan Mạch năm 1930 định nghĩa: “Những
nhà băng thiết yếu gồm các nghiệp vụ nhận tiền ký thác, buôn bán vàng bạc,
hành nghề thương mại và các giá trị địa ốc, các phương tiện tín dụng và hối
phiếu, thực hiện các nghiệp vụ chuyển ngân, đứng ra tạo bảo hiểm v.v ”
10
Đối với người gửi tiền thì thu được lợi từ khoản tiền tạm thời nhàn dỗi
của mình do ngân hàng trả lãi đồng thời ngân hàng còn đảm bảo an toàn về
khoản tiền gửi và cung cấp dịch vụ thanh toán tiện lợi.
Đối với NHTM thì kiếm được lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cho vay
và lãi suất tiền gửi hoặc hoa hồng mua giới.
Đối với người đi vay thoả mãn được nhu cầu vay vốn để kinh doanh.
Đối với nền kinh tế, chức năng này có vai trò quan trọng trong việc
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc cung ứng vốn để đảm bảo quá
trình tái sản xuất được thực hiện liên tục với quy mô ngày một mở rộng. Thực
hiện chức năng này, NHTM đã biến vốn tạm thời nhàn dỗi chưa tham gia hoạt
động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy sản
xuất kinh doanh phát triển.
Trung gian tín dụng là chức năng phản ảnh đúng bản chất của ngân
hàng thương mại là huy động để cho vay, đây cũng là chức năng quyết định
đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời cũng tạo ra cơ sở để thực
hiện các chức năng khác của ngân hàng.
Chức năng trung gian thanh toán: việc đưa ra một cơ chế thanh toán, hay
nói một cách khác, sự vận động của vốn là một trong những chức năng quan trọng
do các NHTM thực hiện và nó càng trở nên quan trọng khi được sự tín nhiệm trong
việc sử dụng séc và thẻ tín dụng.Các Ngân hàng đã và đang trang bị máy tính và các
phương tiện kỹ thuật nhằm làm cho quá trình thanh toán bù trừ được thực hiện
nhanh chóng, giảm bớt chi phí và đạt độ chính xác cao. Trong những năm gần đây
đã có những đổi mới quan trọng và được đưa vào sử dụng như nghiệp vụ ngân hàng
không séc hoặc xã hội không séc, nghĩa là sử dụng một vài hình thức chuyển tiền
bằng điện tử và chính điều này, có thể dẫn đến việc huỷ bỏ séc ngân hàng đã từng
sử dụng lâu nay và phần lớn công việc có liên quan. Điều này có thể mạng hoá các
kinh tế. Tuy nhiên, cho vay mà chúng ta đề cập ở đây là một nghiệp vụ tín
dụng, một hình thức cấp tín dụng của ngân hàng.
Nhìn chung, trên thế giới cho vay là hoạt động trong đó người cho vay
cam kết giao cho ngườiđi vay một khoản tiền và người này cam kết sẽ hoàn
trả sau một thời hạn nhất định. Giá trị hoàn trả lớn hơn giá trị khoản vay một
phần được gọi là lãi cho vay. Phần tiền lãi này tỷ lệ với số lượng tiền và thời
hạn vay. Thực chất, cho vay của ngân hàng thương mại là hoạt động chuyển
giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng - người đi vay với điều kiện sau một
thời gian, họ phải hoàn trả cho ngân hàng khoản vay ban đầu cộng với tiền lãi
theo một tỷ lệ nhất định gọi là lãi suất của khoản vay theo như thoả thuận với
ngân hàng trước khi vay. Thông thường, lãi suất ghi trên hợp đồng cho vay
mà ngườiđi vay phải trả là lãi suất danh nghĩa nên nó không phản ánh giá trị
thực tế của số tiền cho vay. Thời hạn cho vay là khoảng thời gian từ khi khách
hàng nhận được vốn vay cho đến khi họ phải trả hết vốn gốc và các điều kiện
khác theo đúng cam kết với ngân hàng.
Để đảm bảo tính an toàn và tính sinh lời trong hoạt động Ngân hàng,
các ngân hàng tiến hành hoạt động cho vay dựa trên một số nguyên tắc chính.
Những nguyên tắc nàyđược quy định cụ thể trong quyết định 1627/2001/QĐ-
NHNN. Theo đó, khách hàng muốn vay vốn Ngân hàng cần đảm bảo:
Thứ nhất, tiền vay phải được hoàn trả đúng hạn cả vốn lẫn lãi. Đây là
nguyên tắc quan trọng hàng đầu vì phần lớn vốn của Ngân hàng là nguồn vốn
huy động (gồm tiền gửi của khách hàng và các khoản vay mượn khác) từ
khách hàng. Nếu các khoản cho vay không hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ
ảnh hưởng xấu đến khả năng thanh khoản của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng
luôn yêu cầu người đi vay thực hiện đúng cam kết này.
13
Thứ hai, khách hàng phải sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã thoả
Đối tượng cho vay
Căn cứ vào tiêu thức này người ta chia cho vay thành 2 loại:
Cho vay vốn lưu động: là hình thức cho vay được sử dụng để hình
thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, có ý nghĩa cho vay để bù đắp vốn
lưu động thiếu hụt tạm thời. Cho vay vốn lưu động bao gồm: cho vay dự trữ
hàng hoá, cho vay chi phí sản xuất, cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới
hình thức chiết khấu kỳ phiếu.
Cho vay vốn cố định: là loại cho vay được sử dụng để hình thành tài
sản cố định có nghĩa là đầu tư mua sắm tài sản cố định cải tiến và đổi mới kỹ
thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng xí nghiệp và công trình mới.
Mục đích sử dụng vốn
Căn cứ vào tiêu thức này người ta chia cho vay thành 2 loại:
Cho vay sản xuất lưu thông hàng hoá: là loại hình cho vay cấp cho các
doanh nghiệp, các chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng
hoá.
Cho vay tiêu dùng: là loại hình cho vay cấp cho các cá nhân để đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng như: Mua sắm nhà, xe cộ, các loại hàng hóa lâu bền như tủ
lạnh. điều hoà.máy giặt.
Mức độ bảo đảm
Căn cứ vào tiêu thức này người ta chia cho vay thành 2 loại:
Cho vay có đảm bảo: là hình thức cho vay có tài sản hoặc người bảo
lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản vay.
15
Cho vay không có đảm bảo: là hình thức cho vay không có tài sản hoặc
người bảo lãnh đứng ra làm đảm bảo cho khoản vay.
Xuất xứ cho vay
Căn cứ vào tiêu thức này người ta chia cho vay thành 2 loại:
Trên giác độ vĩ mô của toàn nền kinh tế, chất lượng hoạt động cho vay
thể hiện thông qua sự hài hoà với đường lối và chính sách phát triển của
Chính phủ mang lại nhiều lợi ích kinh tế xã hội như thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế, giải quyết vấn đề thất nghiệp, Vì vậy, chất lượng cho vay đối với các
DNVVN được định nghĩa như sau: “Chất lượng cho vay đối với các DNVVN
là khái niệm chỉ sự thoả mãn một cách tốt nhất nhu cầu vốn của các doanh
nghiệp này, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đồng thời phải
đáp ứng yêu cầu của sự pháttriển kinh tế”.
DNVVN là một loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế nên khái niệm
chất lượng cho vay đối với DNVVN được bao hàm trong khái niệm chất
lượng cho vay đối với các doanh nghiệp nói chung. Tuy nhiên, từ những đặc
điểm riêng của DNVVN, chất lượng cho vay đối với DNVVN trong ngân
hàng thương mại khác so với chất lượng cho vay doanh nghiệp lớn bởi vì:
Một là, nhu cầu vốn của các doanh nghiệp lớn khác biệt so với DNVVN nên
mức độ thoả mãn nhu cầu vốn giữa hai doanh nghiệp là không giống nhau;
Hai là, do sự khác nhau về quy mô nên các chỉ tiêu phản ánh chất lượng cho
vay đối với DNVVN cũng sẽ khác. Mặt khác, NHTM không chỉ cho vay đối
với DNVVN hay đây là một trong những đối tượng khách hàng vay của các
NHTM. Do đó, chất lượng cho vay DNVVN chỉ là một bộ phận cấu thành
chất lượng cho vay chung của toàn ngân hàng. Tuy nhiên, việc không ngừng
nâng cao chất lượng cho vay DNVVN sẽ góp phần nâng cao chất lượng cho
vay chung của ngân hàng.
17
1.1.2 Các chỉ tiêu phản ánh chất lƣợng cho vay đối với DNVVN
Chất lượng cho vay DNVVN của ngân hàng thương mại phản ánh mức
độ rủi ro và sinh lời của khoản vay. Để phản ánh chất lượng cho vay chúng ta
thường quan tâm đến các chỉ tiêu sau đây:
dụng chỉ tiêu tỷ lệ tổng dư nợ có nợ quá hạn như sau:
Chỉ tiêu tỷ lệ tổng dư nợ có nợ quá hạn
Tỷ lệ tổng dư nợ có
nợ quá hạn đối với
DNVVN
=
Tổng dư nợ có nợ quá hạn đối với DNVVN
x 100%
Tổng dư nợ đối với DNVVN
Do chỉ tiêu này bao gồm toàn bộ dư nợ của một khách hàng là DNNVV
(kể cả đến hạn, chưa đến hạn) kể từ khi xuất hiện món nợ quá hạn đầu tiên,
nên nó phản ánh chính xác hơn mức độ rủi ro các khoản cho vay DNVVN.
Tuy nhiên, không thể kết luận chất lượng cho vay đối với các DNVVN là cao
nếu chỉ tính riêng tỷ lệ này thấp, bởi vì có thể ngân hàng đang theo đuổi một
chính sách cho vay an toàn, ít rủi ro đối với khách hàng DNVVN, tức là
không mở rộng cho vay đối với doanh nghiệp này. Điều này đồng nghĩa với
việc các NHTM cũng sẽ thu ít lợi nhuận hơn từ hoạt động cho vay đối với
DNVVN.
Nguyên nhân gây ra các khoản nợ quá hạn đối với DNVVN có thể là do
trình độ quản lý sản xuất kinh doanh còn yếu, công nghệ lạc hậu, khách hàng
cố tình không thanh toán nợ đến hạn cho ngân hàng… Trong khi đó, cán bộ
ngân hàng không nắm bắt các thông tin này khi cho vay, cũng có thể do
nguyên nhân khách quan như sự biến động của thị trường, rủi ro kinh doanh,
sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước,…
Đối với các khoản nợ quá hạn này, các ngân hàng thương mại có thể xem
xét nguyên nhân phát sinh để tiến hành gia hạn nợ, cơ cấu lại thời hạn và số
tiền trả nợ cho khách hàng. Điều này vừa giảm áp lực trả nợ với DNVVN vừa
giúp ngân hàng có thể thu hồi được vốn cho vay. Tuy nhiên, thời gian gia hạn
với khoản nợ quá hạn phải hợp lý nếu không nguy cơ mất vốn càng cao.