ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ LÊ THỊ NGỌC LAN
PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA TRÊN
THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Hà Nội – 2012 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ iii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: PHÁT TRIỂN HÀNG HÓA TRÊN THỊ TRƯ
ỜNG
CHỨNG KHOÁN: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
6
1.1. Khái luận về thị trường chứng khoán và hàng hóa trên TTCK 6
1.1.1. Khái niệm và cấu trúc của thị trường chứng khoán 6
1.1.2. Khái niệm, phân loại và đặc điểm cơ bản về hàng hóa trên TTCK 10
1.1.3. Phát triển hàng hoá trên thị trường chứng khoán 13
1.1.4. Các yếu tố tác động đến sự phát triển hàng hoá trên TTCK 20
1.2. Kinh nghiệm quốc tế về phát triển hàng hoá trên thị trư
ờng chứng
khoán và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
2.2.5. Quản lý và tổ chức thanh tra, giám sát các hoạt động trên th
ị
trường chứng khoán
68
2.2.6. Tổ chức quan hệ hợp tác quốc tế về chứng khoán 69
2.3. Đánh giá thực trạng phát triển hàng hóa trên thị trư
ờng chứng khoán
Việt Nam
70
2.3.1. Kết quả đạt được 70
2.3.2. Hạn chế, tồn tại 73
2.3.3. Nguyên nhân của những bất cập 76
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HÀ
NG HÓA
TRÊN THỊ TRƯ
ỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM TRONG
NHỮNG NĂM TỚI
86
3.1. Bối cảnh mới 86
3.1.1. Tình hình quốc tế 86
3.4. Những kiến nghị với Chính phủ và Cơ quan quản lý 106
3.4.1. Tiếp tục cải cách kinh tế, tạo điều kiện bình đẳng cho khu vực t
ư
nhân phát triển
106
3.4.2. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý 109
KẾT LUẬN 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 115
i
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
STT
KÝ HIỆU
TIẾNG ANH
TIẾNG VIỆT
1 APEC
Asia-Pacific Economic
Cooperation
Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á-
Thái Bình Dương
2 ASEAN
Association of Southeast
Asian Nations
19 TPCP Trái phiếu chính phủ
20 TPDN Trái phiếu doanh nghiệp
21 TTCK Thị trường chứng khoán
22 TTGDCK Trung tâm giao dịch chứng khoán
23 TTLKCK Trung tâm lưu ký chứng khoán
24 UBCKNN Ủy ban chứng khoán Nhà nước
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
STT
SỐ HIỆU
NỘI DUNG TRANG
1
Bảng 1.1
Sự biến động tổng số công ty niêm yết trên Sở giao
dịch chứng khoán Hàn Quốc KSE qua các năm
32
2
Bảng 1.2
Số lượng công ty niêm yết trên thị trường
KOSDAQ qua các năm
36
3
Bảng 1.3
Số lượng công ty niêm yết trên thị trường OTC-BB
qua các năm
36
75
11
Bảng 3.1
Tăng trưởng, lạm phát toàn cầu năm 2011 86
12
Bảng 3.2
Tăng trưởng, thất nghiệp nhóm PIGS năm 2011 88
13
Bảng 3.3
Một số chỉ tiêu hoạt động của TTCK thế giới năm
2011
91
14
Bảng 3.4
Một số chỉ tiêu kinh tế Việt Nam năm 2011 92
iii
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
STT
SỐ HIỆU
NỘI DUNG TRANG
1
Hình 2.1
Số lượng các công ty niêm yết tại Sở GDCK 55
2
Hình 2.2
Vốn hóa thị trường một số khu vực 90
10
Hình 3.4
Tình hình nhập siêu giai đoạn 2007-2011 93
11
Hình 3.5
Mức tăng CPI theo năm giai đoạn 2002-2011 94
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển thị trường chứng khoán là một trong những nhiệm vụ cơ bản của cơ
quan quản lý ngành chứng khoán, đồng thời cũng là nhiệm vụ của cả xã hội, nhằm
khơi thông các nguồn huy động vốn trong xã hội và phân bổ một cách có hiệu quả
các nguồn vốn này sao cho mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất.
Thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam chính thức khai trương và đi vào
hoạt động tại Thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 7/2000. Trong thời gian đầu, TTCK
hoạt động rất khó khăn do các yếu tố thị trường trong nền kinh tế chưa được xác lập
đồng bộ, hệ thống thị trường tiền tệ chưa phát triển, công tác cổ phần hóa mới đang
trong giai đoạn thí điểm, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ, các công ty đều chưa hiểu
và không muốn lên niêm yết; kiến thức và sự hiểu biết của xã hội và thành viên
TTCK còn rất hạn chế. Tuy nhiên, cùng với sự cải cách và đổi mới nền kinh tế, đặc
biệt là các giải pháp hỗ trợ của Chính phủ, TTCK đã có bước phát triển rất to lớn, trở
2011-2015, Đề tài nghiên cứu cấp Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Đề tài đã đi sâu
phân tích nội hàm và vai trò thị trường trái phiếu công ty nói chung, tập trung vào
thực trạng phát triển của thị trường trái phiếu công ty Việt Nam. Từ đó, đề tài chỉ ra
một số nguyên nhân kém phát triển của thị trường trái phiếu công ty tại Việt Nam
hiện nay và đưa ra các nhóm giải pháp nhằm đạt mục tiêu phát triển thị trường trái
phiếu công ty tại Việt Nam giai đoạn 2011 - 2015.
- Phạm Nguyễn Hoàng (2011), Cơ sở lý luận và thực tiễn để xây dựng và
phát triển thị trường giao dịch hợp đồng tương lai trái phiếu tại Việt Nam, Đề tài
nghiên cứu cấp Ủy ban chứng khoán Nhà nước. Đề tài đã khảo sát thực tiễn quản
lý và vận hành của thị trường hợp đồng tương lai trái phiếu tại một số thị trường
lớn trên thế giới và khu vực, từ đó khái quát các đặc trưng về điều kiện xây dựng
thị trường hợp đồng tương lai trái phiếu; đánh giá những tồn tại và khả năng xây
dựng thị trường hợp đồng tương lai trái phiếu tại Việt Nam và đề xuất các giải
pháp với tính khả thi cao.
3
- Đào Lê Minh (2007), Hình thành và phát triển thị trường chứng khoán phái
sinh ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp Bộ Tài chính. Đề tài đã nghiên cứu kinh
nghiệm quốc tế về quá trình hình thành và phát triển TTCK phái sinh của một số
quốc gia trên thế giới; tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng sự ra đời, phát triển
của các loại công cụ phái sinh ở Việt Nam trong thời gian qua; phân tích, đánh giá
sự cần thiết và khả năng xây dựng và phát triển TTCK phái sinh ở Việt Nam và đề
xuất các giải pháp xây dựng và phát triển TTCK phái sinh ở Việt Nam.
- Bùi Thanh Ngà (2008), Xây dựng khung pháp lý điều chỉnh hoạt động của
Thị trường chứng khoán phái sinh ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu cấp Ủy ban chứng
khoán Nhà nước. Đề tài đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về công cụ phái sinh nói
chung, chứng khoán phái sinh nói riêng; nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế về các quy
định pháp lý điều chỉnh TTCK phái sinh của một số nước trên thế giới; tổng hợp,
phân tích đánh giá thực trạng sự ra đời và phát triển của các loại công cụ chứng
khoán phái sinh ở Việt nam và đề xuất mô hình khung pháp lý điều chỉnh hoạt động
của TTCK phái sinh tại Việt Nam.
nhập kinh tế quốc tế.
Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu kinh nghiệm phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán ở
một số nước.
- Phân tích thực trạng hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam, đánh
giá các vấn đề bất cập và nguyên nhân.
- Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát triển hàng hóa trên thị trường
chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng: Nghiên cứu việc phát triển số lượng, chất lượng và chủng loại
hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Phạm vi:
- Luận văn nghiên cứu sự phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán Việt
Nam từ năm 2000 đến nay.
5
- Hàng hóa trên thị trường chứng khoán bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu, chứng
chỉ quỹ và chứng khoán phái sinh.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với các phương pháp phân tích - tổng hợp;
phương pháp lôgic kết hợp với lịch sử, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê
để thực hiện đề tài nghiên cứu.
Luận văn cũng sử dụng các công cụ phân tích kinh tế như: số liệu và chỉ số,
biểu đồ, đồ thị, mô hình kinh tế… trong việc phân tích và thể hiện nội dung đề tài.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận về phát triển hàng hóa trên thị
trường chứng khoán, luận văn đưa ra một số tiêu chí đánh giá sự phát triển hàng hóa
chứng khoán.
- Nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển hàng hóa trên thị trường chứng
khoán Việt Nam để chỉ ra những thành công và hạn chế.
xã hội chủ nghĩa bước vào hoàn thiện từ năm 2000 đến nay, do đó còn nhiều nhận
thức và quan điểm khác nhau về TTCK.
Trong Cuốn “ Giáo trình kinh tế chính trị Mác- Lê nin” của Bộ Giáo dục và
Đào tạo đưa ra định nghĩa về TTCK như sau: “Thị trường chứng khoán là thị trường
mua bán các loại chứng khoán có giá” [1, tr139]. Giáo trình giải thích trên thị
trường này ngoài cổ phiếu, trái phiếu còn mua bán các loại chứng khoán khác như
công trái, kỳ phiếu, tín phiếu, văn tự cầm cố, khái niệm này xác định rõ hàng hóa
bán trên thị trường tuy nhiên chưa khái quát đến tầm bản chất của hàng hóa trên thị
trường và đặc thù của loại thị trường này.
Trong cuốn “ Giáo trình những vấn đề cơ bản về chứng khoán và thị trường
chứng khoán” của Tiến sĩ Đào Lê Minh thì cho rằng “Thị trường chứng khoán thực
7
chất là quá trình vận động của tư bản tiền tệ. Các chứng khoán mua bán trên TTCK
có thể đem lại thu nhập cho người nắm giữ nó trong một thời gian nhất định và
được lưu thông trên TTCK theo giá cả thị trường” [15, tr46]. Quan điểm này nói rõ
thực chất của sản phẩm bán trên thị trường và hình thức biểu hiện của nó nhưng vẫn
chưa cho thây rõ đầy đủ các yếu tố cấu thành TTCK, quy luật chi phối sự vận động
của thị trường này.
Có quan điểm lại cho rằng “Thị trường chứng khoán được đặc trưng bởi thị
trường vốn” [7, tr26], là nơi diễn ra hoạt động mua, bán vốn thời hạn ít nhất là trên
một năm. Như vậy theo khái niệm này thì thị trường chứng khoán chỉ bao gồm các
hoạt động giao dịch đối với công cụ tài chính dài hạn như trái phiếu Chính phủ, cổ
phiếu và trái phiếu công ty, còn lại các giao dịch dối với các công cụ ngắn hạn ở thị
trường tiền tệ như tín phiếu Kho bạc, chứng chỉ tiền gửi ngân hàng,… sẽ không
thuộc phạm vi hoạt động của thị trường chứng khoán.
Với những quan điểm khác nhau về TTCK ở trên cho thấy bản thân TTCK là
một thực thể phức tạp với nhiều mối quan hệ và đặc trưng khác nhau. Hơn nữa
TTCK là một hiện tượng kinh tế tồn tại khách quan có sự phát sinh phát triển theo
quy luật vốn có của nó. Hàng hóa của TTCK ở đây là hàng hóa đặc biệt, là quyền sở
hữu về tư bản.
việc chuyển đổi các chứng khoán thành tiền sẽ khó khăn, khiến nhà đầu tư dè dặt
hơn khi mua chứng khoán. Do đó, thị trường thứ cấp hoạt động có hiệu quả sẽ thúc
đẩy thị trường sơ cấp phát triển nhằm theo kịp sự phát triển của thị trường thứ cấp.
Như vậy, thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp có mối liên hệ chặt chẽ, tạo
điều kiện cho nhau phát triển. Tuy nhiên, sự phân biệt thị trường sơ cấp và thị
trường thứ cấp chỉ là mặt lý thuyết còn trong thực tế không có phân biệt đâu là thị
trường sơ cấp và đâu là thị trường thứ cấp. Nghĩa là trong cùng một TTCK vừa có
thị trường giao dịch sơ cấp và vừa có thị trường giao dịch thứ cấp tức là vừa có việc
mua bán chứng khoán mới phát hành và vừa có việc mua bán chứng khoán theo tính
chất mua đi bán lại cho nên người ta gọi thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp là
cơ cấu của TTCK.
9
Căn cứ theo hàng hóa:
Theo hàng hóa được mua bán trên thị trường chứng khoán, có thể phân thị
trường chứng khoán thành : thị trường cổ phiếu, trái phiếu và thị trường các công cụ
dẫn suất.
Thị trường cổ phiếu: Là nơi giao dịch, mua bán, trao đổi các giấy tờ xác nhận
cổ phần đóng góp của cổ đông, cổ đông sở hữu của công ty và phải chịu trách
nhiệm trong phần vốn góp của mình. Cổ đông có quyền yêu cầu đối với lợi nhuận
sau thuế của công ty cũng như đối với tài sản của công ty khi tài sản này được đem
bán và cổ phiếu không có thời hạn xác định.
Thị trường trái phiếu: Là thị trường mà hàng hóa được mua bán là các trái
phiếu. Trái phiếu là công cụ nợ, xác nhận quyền chủ nợ một khoản vốn và lãi của
người phát hành chứng khoán. Trái phiếu thường có thời hạn xác định, trung hạn
hoặc dài hạn.
Thị trường các công cụ dẫn suất là nơi các chứng khoán phái sinh được mua
và bán. Tiêu biểu cho các công cụ này là hợp đồng kỳ hạn (Future Contacs), hợp
đồng quyền chọn (Options). Thị trường các chứng khoán phái sinh cung cấp công
cụ phòng vệ cũng đồng thời là nơi đầu cơ ký tưởng cho các nhà đầu tư.
Căn cứ theo phương thức hoạt động của thị trường thì TTCK được chia
mới theo các điều kiện nhất định (chứng quyền), quyền được lựa chọn quyết định
thực hiện hợp đồng mua hoặc bán một loại chứng khoán khác theo giá định trước
(quyền chọn), hoặc quyền – nghĩa vụ thực hiện một hợp đồng cam kết mua bán một
loại chứng khoán khác trong tương lai với giá định trước (hợp đồng kỳ hạn hoặc
hợp đồng tương lai)
1.1.2.2 Phân loại và đặc điểm hàng hóa trên TTCK
(1) Cổ phiếu
Là chứng khoán xác nhận quyền sở hữu đối với một công ty cổ phần. Trên
TTCK cổ phiếu được quy chuẩn theo 1 đơn vị cổ phần sở hữu của công ty. Cổ
phiếu có thể gồm nhiều loại, khác nhau về quyền được biểu quyết, quyền lợi kinh
tế. Phổ biến nhất là cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi. Trong đó, cổ phiếu thường
11
là dạng chứng khoán vốn thuần tuý và cổ phiếu ưu đãi là dạng chứng khoán lai tạp
giữa chứng khoán vốn và chứng khoán nợ. Cổ phiếu là sản phẩm của công ty cổ
phần, hay nói cách khác thì chỉ có công ty cổ phần mới có hoạt động phát hành cổ
phiếu. Nếu số cổ phiếu của một công ty cổ phần được phát hành trong một phạm vi
hẹp số lượng cổ đông thì cổ phiếu này được coi là hàng hoá của thị trường chứng
khoán riêng lẻ , ở đây các giao dịch mua bán chứng khoán được thực hiện trực tiếp
giữa hai bên đối tác và việc phát hành này được gọi là phát hành riêng lẻ . Ngược
lại nếu cổ phiếu của một công ty cổ phần được phát hành cho rộng rãi công chúng
đầu tư thì được gọi là phát hành hay chào bán đại chúng, cổ phiếu của công ty này
được giao dịch trên thị trường chứng khoán đại chúng, nơi mà các chứng khoán
được đồng nhất, quy chuẩn hoá và được giao dịch trên các địa điểm có tổ chức. Các
công ty cổ phần loại thứ nhất được gọi là công ty sở hữu phạm vi hẹp và loại thứ hai
được gọi là công ty cổ phần đại chúng . Cổ phiếu của một công ty có đặc điểm là dù
được phát hành vào thời điểm nào thì khi ra lưu hành chúng cũng được đồng nhất
với cổ phiếu đã phát hành từ trước đó.
(2) Chứng chỉ quỹ đầu tư
Chứng chỉ quỹ đầu tư là một loại chứng khoán xác nhận quyền sở hữu một phần
quỹ đầu tư. Do vậy, chứng chỉ này có đặc điểm tương tự như cổ phiếu thường.
công cụ cơ sở. Bản thân chứng khoán phái sinh không có giá trị nội tại, mà nó bắt
nguồn từ giá trị của một công cụ cơ sở, giá cả của công cụ phái sinh phụ thuộc vào
giá của công cụ cơ sở. Thông thường, những công cụ cơ sở biến thiên là giá của các
tài sản giao dịch như chứng khoán, chỉ số chứng khoán, tỷ giá hối đoái, lãi suất,
hàng hoá Chứng khoán phái sinh xét về bản chất không phải là công cụ để trao
đổi, luân chuyển, phân bổ các khoản vốn như cổ phiếu hay trái phiếu, mà là công cụ
để người ta “đóng gói “các khoản rủi ro để mua bán, trao đổi, và đi kèm với nó là “
lợi nhuận”. Đây là công cụ để người ta tiến hành các hoạt động quản lý, rào chắn
rủi ro hay tìm kiếm lợi nhuận.
Có thể xem Bảng sau đây để nhận diện về các loại hình chứng khoán phái sinh
hiện đang tồn tại trên thị trường:
13
Tài sản cơ sở
(Underlying
Asset)
Hợp đồng
tương lai
(Futures)
Quyền
chọn
(Option)
Hợp đồng
hoán đổi
(Swaps)
Hợp đồng
kỳ hạn
(Forward)
Sản phẩm tổng
hợp (Synthetic
ới hợp đồng
hoán đổi
Trái phiếu
H
ợp đồng
tương lai trái
phiếu
Quyền
ch
ọn trái
phi
ếu (tiền
mặt)
Quy
ền chọn đối
v
ới hợp đồng
tương lai trái
phiếu
Ngoại tệ
H
ợp đồng
tương lai
tiền tệ
Quyền
chọn tiền tệ
Hoán đ
ổi
số cổ phiếu
Hoán đ
ổi
vốn
Quy
ền chọn đối
v
ới hợp đồng
tương lai ch
ỉ số cổ
phiếu
Hàng hoá
(vật chất)
H
ợp đồng
tương lai
hàng hoá
(vật chất)
Hoán đ
ổi
hàng hoá
(vật chất)Quy
ền chọn về
hợp đồng t
doanh nghiệp. Xét riêng hệ thống pháp luật về thị trường chứng khoán, cần phải đầy
đủ, đồng bộ và phù hợp với trình độ và đặc thù phát triển của từng thị trường. Hệ
thống pháp luật đồng bộ và hiệu quả sẽ tạo ra sự phát triển hàng hoá cho TTCK một
cách toàn diện cả về mặt số lượng, chất lượng, đa dạng về chủng loại.
Hoạt động phát hành, niêm yết chứng khoán ở hầu hết các nước đều được đặt
dưới sự quản lý của nhà nước. Thực tế cho thấy rằng, những nước có TTCK phát
triển là những nước có hệ thống pháp luật khá hoàn chỉnh.
Thứ hai, đa dạng hóa các hình thức phát hành
Từng bước nâng cao chất lượng và đa dạng hóa chứng khoán phát hành và
niêm yết, bảo đảm chứng khoán giao dịch trên thị trường có quản lý đáp ứng các
điều kiện và tiêu chí về lợi nhuận, thời gian hoạt động và quản trị doanh nghiệp theo
các chuẩn mực, thông lệ quốc tế. Phân loại chứng khoán rõ ràng theo nhiều cấp độ,
phù hợp với nhu cầu của công chúng đầu tư.
Nâng tiêu chí phát hành, niêm yết: Bổ sung quy định chặt chẽ hơn về điều
kiện phát hành, niêm yết chứng khoán, đặc biệt các tiêu chí về vốn, lợi Nhuận, thời
gian hoạt động và quản trị công ty theo chuẩn mực và thông lệ quốc tế, phân loại
hàng hóa theo tiêu chí cơ cấu lại thị trường.
15
Triển khai phát triển và đưa vào giao dịch các chứng khoán phái sinh, trước
mắt là chứng khoán phái sinh chỉ số, bao gồm các hợp đồng tương lai chỉ số, quyền
chọn chỉ số, quỹ chỉ số, quỹ ETF. Kết hợp với việc tái cấu trúc các Sở giao dịch
Chứng khoán (SGDCK), bảo đảm tính thống nhất và chuyên biệt về hàng hóa niêm
yết, dịch vụ cung cấp.
Tăng cường công tác quản lý, giám sát đối với hoạt động chào bán. Công tác
quản lý, giám sát đối với hoạt động chào bán chứng khoán cần được tăng cường
đồng thời hợp lý hóa các chế tài xử lý vi phạm. Tăng cường công tác quản lý, giám
sát và xử lý vi phạm. Từng bước nghiên cứu chuyển từ cấp phép phát hành sang cơ
chế phát hành dựa theo việc công bố thông tin đầy đủ.
Thứ ba, xây dựng và phát triển thị trường giao dịch chứng khoán
Phát triển TTCK ổn định, vững chắc, cấu trúc hoàn chỉnh với nhiều cấp độ,
chung và thị trường hàng hóa chứng khoán nói riêng
Thứ sáu, tạo lập các điều kiện để hội nhập thế giới
Sự hội nhập ngày càng sâu và toàn diện của nền kinh tế Việt Nam với các nền
kinh tế trong khu vực và trên thế giới làm tăng nhu cầu đầu tư không chỉ từ phía các nhà
đầu tư và các tổ chức phát hành trong nước. Các nhà đầu tư quốc tế cũng bị thu hút bởi
sự năng động của nền kinh tế cũng như các doanh nghiệp Việt Nam. Sức cầu sẽ được
tiếp tục được đẩy mạnh sẽ là động lực phát triển nguồn cung chứng khoán từ phía các
doanh nghiệp trong nước cũng như tiến trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước.
Sự hội nhập cũng đã làm thay đổi căn bản thể chế, chính sách trong hoạt
động kinh tế và đầu tư của Việt Nam. Nhìn chung, khuôn khổ pháp lý điều chỉnh
hoạt động đầu tư, hoạt động kinh doanh ngày càng được hoàn thiện theo thông lệ
quốc tế, đã tạo dựng ra môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, công bằng và
thân thiện với nhà đầu tư. Đặc biệt, các quy định trong lĩnh vực chứng khoán đã
từng bước đưa TTCK trở nên minh bạch, công khai, công bằng hơn, làm giảm chi
phí tham gia và tiếp cận thị trường. Điều này củng cố lòng tin của nhà đầu tư trong
và ngoài nước, cũng như đưa TTCK gần hơn tới các tổ chức phát hành.
1.1.3.2 Một số tiêu chí đánh giá sự phát triển hàng hóa trên thị trường chứng khoán
Thứ nhất, số lượng, chủng loại hàng hóa chứng khoán trên thị trường
chứng khoán
Số lượng hàng hoá phản ánh quy mô của một thị trường. Số lượng này được
phản ánh bằng tổng khối lượng chứng khoán được niêm yết, giao dịch trên thị
17
trường. Số lượng này phụ thuộc vào số lượng các công ty phát hành, niêm yết trên
thị trường; quy mô của từng loại chứng khoán niêm yết hoặc đăng ký giao dịch, đặc
biệt là khối lượng chứng khoán được thả nổi , tức là số lượng chứng khoán được tự
do giao dịch của mỗi tổ chức phát hành.
Chủng loại chứng khoán, tính đa dạng của các loại hàng hoá trên thị trường,
xét về lý thuyết cũng như thực tế, được phát triển, sáng tạo không ngừng, nhưng
trên cơ sở một cách tuần tự từ các hình thức đơn giản đến phức tạp, phù hợp từng
bước với nhu cầu của nền kinh tế và trình độ phát triển kinh tế – xã hội. Các loại
toàn bộ doanh nghiệp này trong điều kiện hiện tại. Giá trị vốn hoá thị trường tương
đương với giá thị trường của cổ phiếu nhân với số cổ phiếu phổ thông đang lưu
hành. Khi tính giá trị vốn hoá thị trường người ta chỉ tính đến các cổ phiếu phổ
thông chứ không tính đến cổ phiếu ưu đãi, vì chỉ cổ phiếu phổ thông mới đem lại
cho người sở hữu quyền tham gia điều hành doanh nghiệp. Qui mô và tốc độ tăng
của giá trị vốn hoá thị trường là thước đo vô cùng quan trọng để đánh giá thành
công hay thất bại của một doanh nghiệp niêm yết công khai.
Thứ ba, tính thanh khoản, độ sâu các giao dịch hàng hóa chứng khoán
Tính thanh khoản (hay còn gọi là tính lỏng) của thị trường là một thuật ngữ
kinh doanh dùng để chỉ khả năng có thể nhanh chóng mua hoặc bán hàng hoá trên
thị trường chứng khoán mà không bị ảnh hưởng của yếu tố giá cả với khoảng thời
gian để mua và bán háng hoá thường là rất ngắn.
Tính chất cơ bản của một thị trường chứng khoán có tính thanh khoản cao là
ở đó luôn sẵn có nhiều người mua và bán trong cùng một thời gian. Một thị trường
có tính thanh khoản rất cao nếu tại đó có sẵn và có nhiều người mua và bán với khối
lượng lớn. Thêm vào đó là các lệnh giao dịch không làm ảnh hưởng nhiều đến giá
hàng hóa chứng khoán.
Để đánh giá rõ nét hơn về tính thanh khoản của hàng hóa chứng khoán thì
cần đánh giá về độ sâu giao dịch (hay còn gọi là tốc độ luân chuyển hàng hóa chứng
khoán). Hoặc có thể nói độ sâu giao dịch chính là số vòng quay giao dịch theo đó
diễn tả tốc độ giao dịch hàng hóa trên thị trường chứng khoán