Hoàn thiện xếp hạng tín dụng đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình tại Ngân hàng Agribank Lâm Đồng - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN QUANG VŨ

HOÀN THIỆN XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN, HỘ GIA ĐÌNH TẠI NGÂN
HÀNG AGRIBANK LÂM ĐỒNG



HOÀN THIỆN XẾP HẠNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI
KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN, HỘ GIA ĐÌNH TẠI NGÂN
HÀNG AGRIBANK LÂM ĐỒNG Chuyên ngành: Tài chính và Ngân hàng
Mã số: 60.34.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN MINH PHONG
Đà Lạt – Tháng 12/2012
Mục lục

2.1.5. Mô hình chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ của Agribank Lâm Đồng đối
với khách hàng cá nhân, hộ gia đình: 56
2.1.6 Xếp hạng khách hàng: 74
2.2 Đánh giá về hệ thống, công tác chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ tại
Agribank Lâm Đồng 75
2.2.1 Kết quả đạt được 75
2.2.2 Những hạn chế tồn tại 79
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế tồn tại 85
Chương 3: Hoàn thiện hệ thống, công tác chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ đối
với khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh, hộ nông dân tại Agribank Lâm Đồng 89
3.1. Mục tiêu hoàn thiện hệ thống, công tác chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ
đối với khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh, hộ nông dân tại Agribank Lâm Đồng
89
3.2. Giải pháp hoàn thiện hệ thống, công tác chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ
đối với khách hàng cá nhân, hộ kinh doanh, hộ nông dân tại Agribank Lâm Đồng
90
3.2.1 Giải pháp đối với ngân hàng 90
3.2.2 Các hỗ trợ khác từ cơ quan chức năng các cấp 96
Kết luận 98
Tài liệu tham khảo
i


Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 1.1
Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
20
2
Bảng 1.2
Chính sách tín dụng theo mô hình điểm số tín dụng tiêu
dùng.
22
3
Bảng 1.3
Mô hình chấm điểm tín dụng của FICO
23
4
Bảng 1.4
Mối quan hệ giữa điểm số tín dụng FICO và xác suất
khách hàng mất khả năng trả nợ
23
5
Bảng 1.5
Thang điểm tín dụng và kết quả xếp loại của FICO
24
6
Bảng 1.6
Mô hình XHTD cá nhân theo Stefanie Kleimeier và
Dinh Thi Huyen Thanh
25

Bảng 1.13
Hệ thống ký hiệu XHTD cá nhân của ACB
47
14
Bảng 2.1
Phân loại nợ dựa trên kết quả XHTD của Agribank Lâm
Đồng
51
15
Bảng 2.2
Mô hình chấm điểm XHTD cá nhân của Agribank Lâm
Đồng
57

iii

16
Bảng 2.3
Mô hình chấm điểm XHTD hộ nông dân của Agribank
Lâm Đồng
60
17
Bảng 2.4
Mô hình chấm điểm XHTD hộ kinh doanh của
Agribank Lâm Đồng
64
18
Bảng 2.5
Hệ thống ký hiệu XHTD của Agribank Lâm Đồng
75


Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Năm 2007, sự kiện Việt Nam gia nhập WTO đã đánh dấu một mốc quan trọng
trong quá trình hội nhập quốc tế của nền kinh tế Việt Nam. Bên cạnh những cơ hội,
tiềm năng để phát triển, các doanh nghiệp nói chung và hệ thống ngân hàng Việt
Nam nói riêng đã và đang đối mặt với những thách thức khá lớn. Để nâng cao năng
lực cạnh tranh trong quá trình hội nhập, việc cải cách hệ thống ngân hàng, đổi mới
toàn diện hoạt động theo các chuẩn mực quốc tế được nhận định là một vấn đề then
chốt. Nhằm hướng đến mục tiêu đó, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã
xây dựng đề án cơ cấu lại hệ thống ngân hàng. Một trong những giải pháp được đề
ra là phát triển các hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực
của Ủy ban Basel, trong đó tập trung vào thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng
rủi ro phù hợp với thông lệ quốc tế, phát triển các hệ thống XHTD, đánh giá khách
hàng…
Cũng như các NHTM khác, Agribank đã nghiên cứu, tiến hành xây dựng và
triển khai hệ thống XHTD riêng. Việc hoàn thiện các tiêu chí đánh giá và quy trình
thực hiện XHTD sẽ giúp cho Agribank nâng cao hiệu quả trong công tác kiểm soát
rủi ro trong quá trình thẩm định dự án, quản lý khách hàng Tuy nhiên, với mạng
lưới rộng lớn, số lượng khách hàng tương đối nhiều, với đối tượng chủ yếu là khách
hàng cá nhân, hộ gia đình nhỏ lẻ, trong khi hệ thống XHTD cón khá mới mẻ, dẫn
đến còn phát sinh nhiều bất cập trong quá trình thực hiện chấm điểm, XHTD. Việc
nhận diện kịp thời các vướng mắc, tồn tại cần khắc phục và đề xuất huớng xử lý
thích hợp là hết sức cần thiết, sẽ giúp hoàn thiện và phát huy tốt vai trò của hệ thống
XHTD nội bộ, qua đó góp phần xây dựng và phát triển hệ thống quản trị rủi ro tín
dụng theo các chuẩn mực quốc tế không chỉ của Agribank, mà còn của các NHTM
khác
Cho đến nay, chưa có đề tài nào trực tiếp đề cập tập trung đến vấn đề XHTN
các khách hàng cá nhân, hộ gia đình trong hoạt động tín dụng ở Việt Nam nói


3

cập đến các khách hàng vay tiêu dùng, sử dụng thẻ tín dụng, chưa phân tích sâu đến
các khách hàng cá nhân khác và các khách hàng là hộ gia đình (hộ kinh doanh, hộ
nông dân).
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Góp phần hệ thống hóa các lý luận cơ bản về XHTD nội bộ.
- Phân tích đánh giá thực trạng của hệ thống, công tác chấm điểm, XHTD nội
bộ đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình tại Agribank Lâm Đồng để rút ra những
tồn tại, hạn chế cần được khắc phục.
- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống, công tác
chấm điểm, XHTD nội bộ đối với khách hàng cá nhân, hộ gia đình tại Agribank
Lâm Đồng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu hệ thống xếp hạng nội bộ và việc thực hiện chấm điểm đối
với các khách hàng là cá nhân, hộ gia đình tại các chi nhánh, phòng giao dịch trực
thuộc Agribank Lâm Đồng.
- Thời gian: từ 30/11/2010 đến 30/9/2012.
5. Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng đồng bộ, hài hòa các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân
tích số liệu định tính, phân tích tình huống và phuơng pháp chuyên gia…, trên cơ sở
quan điểm biện chứng và lịch sử.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Phân tích, đánh giá và kíến nghị hoàn thiện công tác chấm điểm, XHTN đối
với khách hàng là cá nhân và hộ gia đình trong hoạt động tín dụng của Agribank
Lâm Đồng.

4

- Tạo cơ sở để tham khảo và triển khai áp dụng cách thức XHTN các khách

hàng. Về bản chất, tín dụng là một nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ của ngân hàng,
được thực hiện theo nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi vốn vay.
1.1.2 Phân loại tín dụng
Tùy thuộc vào tiêu thức phân loại tín dụng ngân hàng có thể được chia thành
nhiều loại khác nhau:
1.1.2.1. Theo thờ i hạ n:
Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng được chia làm 3 loại:
- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
Mục đích của loạ i tín dụng này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư vào tài sản lưu

6

độ ng củ a cá c doanh nghiệ p , và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân . Đối với
hệ thống NHTM tín dụng ngắn hạn thường chiếm tỷ trọng cao nhất.
- Tín dụng trung hạn: là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng đến
60 tháng. Mục đích của loại cấp tín dụng này thường nhằm tài trợ cho việc đầu tư
mua sắm tài sản cố định, đổi mới hoặc cải tiến máy móc thiết bị, mở rộng kinh
doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi nhanh.
- Tín dụng dài hạn là các khoản tín dụng có thời hạn từ trên 60 tháng trở lên.
Mục đích của loại tín dụng này thường nhằm tài trợ cho các dự án đầu tư, xây dựng
nhà ở, thiết bị, phương tiện vận tải có qui mô lớn.
1.1.2.2. Theo mục đích:
Theo tiêu thức này, tín dụng ngân hàng có thể chia thành các loại sau:
- Tín dụng bất động sản: Là loại tín dụng liên quan đến việc mua sắm và xây
dựng bất động sản nhà ở, đất đai, bất động sản trong lĩnh vực công nghiệp, thương
mại và dịch vụ.
- Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh công thương nghiệp: loại tín dụng
ngắn hạn để bổ sung vốn lưu động cho các khách hàng trong lĩnh vực công nghiệp,
thương mại và dịch vụ.
- Tín dụng nông nghiệp: loại tín dụng để trang trải các chi phí trong quá trình

duy trì trong một thời hạn nhất định (thường là một năm hoặc theo chu kỳ sản xuất
kinh doanh). Khi có nhu cầu sử dụng vốn vay, khách hàng lập giấy nợ tiền vay kèm
theo chứng từ có liên quan phù hợp với mục đích vay vốn trong hợp đồng tín dụng
gửi đến ngân hàng. Ngân hàng sẽ giải ngân cho khách hàng trong phạm vi hạn mức
tín dụng và thời hạn của hợp đồng tín dụng.

8

- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng: đối với loại tín dụng này ngân
hàng luôn sẵn sàng đảm bảo cho khách hàng nhu cầu về vốn trong phạm vi hạn mức
tín dụng đã cam kết (hạn mức tín dụng dự phòng). Cho vay theo hạn mức tín dụng
dự phòng và cho vay theo hạn mức tín dụng về cơ bản có nhiều điểm giống nhau, sự
khác biệt chủ yếu thể hiện trong cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng khách
hàng có thể không sử dụng vốn nhưng vẫn phải trả phí cam kết do ngân hàng phải
dự phòng quỹ cho vay theo thoả thuận.
- Cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: đây là hình thức tín
dụng gắn liền với việc phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Trong phạm vi hạn mức
đã thoả thuận, khách hàng có thể chủ động thấu chi, sử dụng thẻ tín dụng để thanh
toán tiền mua hàng, dịch vụ và rút tiền mặt tại các máy rút tiền tự động hoặc các đại
lý của ngân hàng.
- Cho vay theo dự án: đây là hình thức cấp tín dụng trung, dài hạn, theo đó
ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện dự án đầu tư nhằm tạo dựng cơ
sở vật chất, đổi mới công nghệ và trang thiết bị. Đối với loại tín dụng này ngân
hàng thường thực hiện giải ngân tiền vay theo tiến độ của dự án trên cơ sở khối
lượng công trình đã hoàn thành.
- Cho vay đồng tài trợ: đây là hình thức cấp tín dụng được thực hiện bởi một
nhóm TCTD (từ 2 tổ chức trở lên) cùng tài trợ vào một dự án, trong đó có một
TCTD làm đầu mối phối hợp các bên tài trợ để thực hiện. Hình thức cấp tín dụng
này thường được áp dụng đối với các dự án có nhu cầu vốn lớn, một TCTD không
thể đơn phương tài trợ do không đủ năng lực tài chính hoặc pháp luật không cho

chế khắc phục được những thiệt hại có thể xảy ra.
- Phản ánh và kiểm soát đối với các hoạt động kinh tế:
Thông qua nghiệp vụ tín dụng, ngân hàng có điều kiện theo dõi tổng quát cấu
trúc tài chính của các đơn vị vay vốn, từ đó có thể phát hiện kịp thời các trường hợp
vi phạm chế độ quản lý kinh tế. Thông qua kế hoạch huy động và cho vay, ngân

10

hàng sẽ phản ánh được mức độ phát triển kinh tế về khối lượng tiền nhàn rỗi trong
xã hội và nhu cầu về vốn của nền kinh tế.
1.1.3.2. Vai trò
- Tín dụng góp phần ổn định tiền tệ, ổn định giá cả: Với chức năng tập trung
và phân phối lại vốn tiền tệ, tín dụng đã góp phần làm giảm khối lượng tiền lưu
hành trong nền kinh tế, nhất là tiền mặt trong tầng lớp dân cư, qua đó giảm áp lực
lạm phát, góp phần ổn định tiền tệ. Mặt khác do cung ứng tiền tệ cho nền kinh tế,
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoàn thành kế hoạch sản xuất, kinh doanh…làm
cho sản xuất ngày càng phát triển, sản phẩm hàng hóa, dịch vụ ngày càng nhiều đáp
ứng nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, chính vì thế tín dụng góp phần ổn định thị
trường giá cả trong nước.
- Tín dụng góp phần thúc đẩy sản xuất lưu thông hàng hóa phát triển: Trong
nền sản xuất hàng hóa, tín dụng là một trong những nguồn hình thành vốn lưu động
và vốn cố định của các xí nghiệp, vì vậy tín dụng đã góp phần động viên vật tư hàng
hóa đi vào sản xuất, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật đẩy nhanh quá trình tái sản
xuất xã hội.
- Tín dụng góp phần ổn định đời sống, tạo công ăn việc làm và ổn định trật tự
xã hội: Trong điều kiện nước ta hiện nay, cơ cấu kinh tế còn nhiều mặt mất cân đối,
lạm phát và thất nghiệp vẫn luôn là khả năng tiềm ẩn. Vì vậy thông qua việc đầu tư
tín dụng sẽ góp phần sắp xếp và tổ chức lại sản xuất, hình thành cơ cấu kinh tế hợp
lý. Mặt khác, thông qua hoạt động tín dụng mà sử dụng nguồn lao động và nguyên
liệu thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời giải quyết các vấn đề xã hội.

có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Rủi ro trong hoạt động tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất là khả năng khách
hàng nhận khoản vốn vay nhưng không thực hiện hay thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ đối với ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không
trả, không trả đầy đủ, đúng hạn gốc và / hoặc lãi cho ngân hàng.
1.1.4.2. Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

12

a). Nguyên nhân chủ quan
- Nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng: Rủi ro tín dụng biểu hiện ra bên
ngoài là việc không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ, vốn bị ứ động khó có khả năng thu
hồi, nợ quá hạn ngày càng lớn, các khoản lãi chưa thu trả ngày càng gia tăng…
Nguyên nhân xuất phát từ phía khách hàng dẫn đến tình trạng này là:
+ Đối với khách hàng cá nhân: Khi các cá nhân vay vốn thường không trả
được nợ cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi khi gặp phải các trường hợp sau : Thu
nhập không ổn định; Bị sa thải, thất nghiệp; Hoàn cảnh gia đình khó khăn; Sử dụng
vốn sai mục đích.
+ Đối với khách hàng là doanh nghiệp: Các doanh nghiệp thường không trả
nợ vay cho ngân hàng đầy đủ cả vốn lẫn lãi khi gặp phải các trường hợp sau: Thị
trường biến động, không ổn định; Khả năng tài chính của doanh nghiệp bị giảm do
lỗ trong kinh doanh; Sử dụng vốn sai mục đích; Bị cạnh tranh và mất thị trường tiêu
thụ; Sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước.
- Nguyên nhân xuất phát từ phía ngân hàng, những nguyên nhân dẫn đến rủi
ro tín dụng từ phía ngân hàng tạo ra có thể là:
+ Ngân hàng vi phạm nguyên tắc cho vay, cho vay vượt tỷ lệ an toàn, thiếu tài
sản thế chấp, cầm cố…
+ Phân tích đánh giá khách hàng sai, quyết định cho vay thiếu thông tin xác
thực, đưa ra những quyết định sai lầm trong cho vay.
+ Cán bộ ngân hàng vi phạm đạo đức kinh doanh.

đối tượng khách hàng nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng thông qua thang điểm được
xác định bởi những thông tin tài chính và phi tài chính của khách hàng. Và từ thang
điểm mà khách hàng đạt được ngân hàng có thể đánh giá khả năng thực hiện nghĩa
vụ tài chính như trả nợ gốc và lãi trong hoạt động cấp tín dụng.

14

XHTD tiếp cận đến tất cả các yếu tố có liên quan đến rủi ro tín dụng, các
NHTM không sử dụng kết quả XHTD nhằm thể hiện giá trị của khách hàng vay vốn
mà đây là căn cứ để NHTM đưa ra ý kiến hiện tại dựa trên các nhân tố rủi ro thông
qua việc phân tích các thông tin trong quá khứ cũng như hiện tại của khách hàng, từ
đó có chính sách tín dụng và giới hạn cho vay phù hợp đối với từng đối tượng
khách hàng. Ngoài ra, XHTD còn giúp ngân hàng hiểu rõ những rủi ro mà ngân
hàng sẽ đối mặt khi cấp tín dụng cho khách hàng.
1.2.1.2 Tầm quan trọng của XHTD đối với rủi ro tín dụng
Hoạt động của NHTM trong nền kinh tế thị trường là một trong những hoạt
động kinh tế có nhiều rủi ro hơn hết. Có thể nói rủi ro được xem như một yếu tố
không thể tách rời với quá trình hoạt động của NHTM trên thị trường. Rủi ro trong
hoạt động của ngân hàng còn được nhân lên gấp bội, bởi vì ngân hàng không những
phải hứng chịu các rủi ro do nguyên nhân chủ quan của mình mà còn gánh chịu
những rủi ro do khách hàng gây ra. Việc áp dụng hệ thống XHTD đã giúp NHTM
quản trị rủi ro tín dụng bằng phương pháp tiên tiến, giúp kiểm soát mức độ tín
nhiệm khách hàng, thiết lập mức lãi suất cho vay, các khoản phí phù hợp với dự báo
về khả năng của từng nhóm khách hàng. Thông qua giám sát sự thay đổi dư nợ và
phân loại nợ trong từng nhóm khách hàng đã được xếp hạng, NHTM có thể đánh
giá hiệu quả danh mục cấp tín dụng để thực hiện điều chỉnh danh mục theo hướng
ưu tiên nguồn lực vào những nhóm khách hàng an toàn.
Có thể nói việc áp dụng kết quả XHTD đã và đang phát huy vai trò to lớn
trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng nói chung và việc quản lý rủi ro tín dụng
nói riêng, vai trò đó thể hiện qua các nội dung sau:

như khi nào, thời điểm nào khách hàng có khả năng không trả được nợ, số nợ gốc,
lãi mà khách hàng không trả được là bao nhiêu Do đó, hệ thống không thể tự động
ra quyết định chấp thuận hoặc từ chối khoản vay mà XHTD chỉ có chức năng hỗ trợ
việc ra quyết định cấp tín dụng.
1.2.2 Đối tượng của xếp hạng tín dụng
XHTD có thể được áp dụng để thực hiện đối với nhiều đối tượng khác nhau:

16

Thứ nhất, XHTD cá nhân, đây là hình thức xếp hạng được áp dụng đối với các
khách hàng cá nhân tham gia vào hoạt động tín dụng của các NHTM. Việc XHTD
cá nhân được thực hiện dựa trên những yếu tố đặc điểm của mỗi cá nhân (như độ
tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, gia đình ), yếu tố tài chính của cá nhân
(như thu nhập, tiết kiệm hằng tháng, số lượng và loại tài sản đảm bảo mà cá nhân đó
đang sở hữu, những khoản thanh toán chậm hoặc nợ quá hạn ) và các yếu tố về
hành vi cá nhân (như lịch sử vay - trả nợ, số lần trễ hẹn thanh toán, tính trung thực
và hợp tác ). Tất cả những thông tin đó đều được thu thập và tổng hợp trong các hồ
sơ XHTD về cá nhân đó.
Thứ hai, XHTD tổ chức kinh tế, đây là hình thức tập trung vào đối tượng xếp
hạng là các tổ chức kinh tế. Việc XHTD tổ chức kinh tế được thực hiện bằng nhiều
phương pháp khác nhau, nhưng về cơ bản vẫn dựa trên các chỉ tiêu tài chính và phi
tài chính của tổ chức kinh tế để đánh giá. Thông thường trong hoạt động của mình,
các tổ chức tài chính, NHTM, công ty chứng khoán, các tổ chức nghiên cứu và ngay
cả Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC) đều xây dựng và áp dụng một hệ
thống xếp hạng doanh nghiệp.
Thứ ba, XHTD quốc gia, loại hình XHTD này đánh giá mức độ tin cậy của
một quốc gia, để từ đó có thể so sánh môi trường đầu tư giữa các quốc gia. Quốc gia
nào càng được XHTD cao thì càng nhận được sự tín nhiệm của các nhà đầu tư nước
ngoài nên sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư. Việc XHTD các quốc gia dựa
trên các chỉ số phát triển chung như: chỉ số phát triển các ngành, chỉ số an toàn vốn

của ngành.
- Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả
năng không trả được nợ tình hình số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi.
Các nhóm dữ liệu này được đưa vào một mô hình định sẵn để xử lý, từ đó tính
được xác xuất không trả được nợ của khách hàng. Trong đó, mô hình xếp hạng tín
dụng là phương pháp lượng hóa mức độ rủi ro thông qua đánh giá thang điểm, các

Trích đoạn Nguyên tắc xếp hạng tín dụng Một số mô hình xếp hạng tín dụng cá nhân trên thế giới Các hỗ trợ khác từ cơ quan chức năng các cấp
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status