TÓM LƯỢC
Nhu cầu về mặt hàng thép ở nước ta đang ngày càng tăng với tốc độ 10- 15%. Để
đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường thì việc phát triển thương mại mặt hàng này là một
điều cần thiết, thông qua các giải pháp về nguồn lực, thị trường, nguồn hàng hay các
chính sách vĩ mô của nhà nước. Chính vì vậy em chọn đề tài “Giải pháp phát triển
thương mại sản phẩm thép của công ty VNSteel Thăng Long” làm đề tài tối nghiệp của
mình.
Thông qua việc sử dụng phương pháp thu thập và phân tích, xử lý dữ liệu thứ cấp
như phương pháp so sánh, phương pháp chỉ số, phương pháp biểu đồ, bảng biểu,
phương pháp phân tích cơ bản, phương pháp phân tích tổng hợp đề tài đã hệ thống hóa
được một số vấn đề lý thuyết có liên quan đến phát triển thương mại, các chỉ tiêu đánh
giá phát triển thương mại, cơ sở và chính sách phát triển thương mại. Tìm hiểu thực
trạng phát triển thương mại sản phẩm thép để giúp công ty đánh giá được những thành
công, hạn chế trong phát triển thương mại sản phẩm thép. Tìm hiểu rõ nguyên nhân
của những vấn đề cần giải quyết và đưa ra những giải pháp về phát triển thương mại
sản phẩm thép của công ty. Đề xuất một số kiến nghị với Nhà nước nói chung và Công
ty Cổ phần VNSteel Thăng Long nói riêng nhằm phát triển thương mại sản phẩm thép
1
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành bài khóa luận này, em đã được trang bị
những nền tảng kiến thức cơ bản về kinh tế, kinh doanh, và các kiến thức chuyên
ngành kinh tế thương mại. Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, em xin được bày tỏ
lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo đã giảng dạy tận tình cho sinh viên chúng
em trong suốt thời gian qua.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Th.S Vũ Thị Hồng Phượng đã hết lòng giúp
đỡ và hướng dẫn và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình hoàn
thành khóa luận tốt nghiệp.
Em cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các anh chị cán bộ công nhân viên của công
ty VNSteel Thăng Long đã giúp đỡ, chỉ bảo và cung cấp tài liệu cho em để hoàn thành
bài khóa luận này.
Mặc dù có nhiều cố gắng song do điều kiện về thời gian, kinh nghiệm và năng lực
TT : Tỷ trọng
W : Năng suất lao động bình quân
∑VKD : Tổng vốn kinh doanh
4
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu
vào nền kinh tế quốc tế tạo điều kiện phát triển các hoạt động xuất nhập khẩu và lưu
thông hàng hóa dịch vụ giữa các quốc gia. Nhờ đó mà các doanh nghiệp trong nước có
thể mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của mình ra nhiều nước trên thế giới. Hiện
nay, nước ta được đánh giá là một thị trường lớn và đầy tiềm năng với số dân gần 90
triệu người, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng (đạt 1300 USD/ người/
năm) do đó nhu cầu về mặt hàng thép ngày càng tăng do sự phát triển của các công
trình xây dựng, trang trí nội thất, sản xuất đồ dùng, trang thiết bị từ sản phẩm thép làm
tăng quy mô tiêu thụ về mặt hàng thép trên thị trường trong nước.
Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập toàn cầu, các doanh nghiệp ngày càng phải đối
mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường. Để có thể đứng vững trên thị trường
nhiều biến động, và có thể đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng, nhiều doanh nghiệp nhập
khẩu thép đã và đang tìm cách phát triển thương mại mặt hàng này bằng nhiều cách
thức khác nhau. Nhưng một thực tế là nhiều doanh nghiệp cũng không tránh khỏi
những khó khăn nên còn lúng túng trong việc thực hiện các giải pháp nhằm phát triển
thương mại mặt hàng thép của mình cụ thể như vấn đề về nguồn lực tài chính, nhân
lực, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm theo cả chiều rộng và chiều sâu nhằm tăng
quy mô, doanh thu và hiệu quả thương mại,…
Từ những yêu cầu thực tế em nhận thấy việc nghiên cứu “giải pháp phát triển
thương mại sản phẩm thép của VNSteel Thăng Long” là thực sự cần thiết xuất phát từ
các lý do sau:
- Về mặt lý luận
Phát triển thương mại mặt hàng là hoạt động không thể thiếu với các doanh nghiệp
nói chung và với các doanh nghiệp ngành thép nói riêng. Vì vậy cần có nền tảng lý
quát được thực trạng phát triển thương mại sản phẩm thép không gỉ trên thị trường nội
địa nói chung cũng như của công ty TYGICO nói riêng trong giai đoạn 2007- 2011.
Đề tài cũng đề xuất một số giải pháp về thị trường cũng như một số kiến nghị với nhà
nước và các ngành có liên quan nhằm thúc đẩy phát triển thương mại sản phẩm thép
không gỉ giai đoạn 2012- 2015.
Đề tài “Giải pháp nguồn nhân lực nhằm phát triển thương mại sản phẩm thép của
công ty cổ phần vật tư tổng hợp Hà Tây” của sinh viên Trần Thị Ngọc Diệp – Lớp
K43F3 - Khoa Kinh Tế - Trường Đại Học Thương Mại. Đề tài tập trung nghiên cứu
vấn đề phát triển thương mại sản phẩm thép xây dựng của công ty cổ phần vật tư tổng
hợp Hà Tây, đánh giá được thành công, hạn chế và đề xuất một số giải pháp nhằm sử
dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong phát triển thương mại sản phẩm thép xây dựng
của công ty.
Đề tài “ Phát triển thương mại sản phẩm bóng đèn tiết kiệm điện trên thị trường
nội địa” của sinh viên Vũ Thị Đông – khoa kinh tế - Trường Đại Học Thương Mại. Đề
tài tập trung nghiên cứu thực trạng phát triển thương mại sản phẩm bóng đèn tiếp kiệm
điện trên thị trường nội địa. Qua đó, phát hiện ra những tồn tại trong phát triển thương
6
mại sản phẩm đó, tìm hiểu nguyên nhân và đề xuất những giải pháp đối với doanh
nghiệp và kiến nghị đối với nhà nước nhằm tạo điều kiện cho phát triển thương mại
sản phẩm này trên thị trường nội địa.
Đề tài “Giải pháp thị trường nhằm phát triển thương mại sản phẩm ô tô trên địa
bàn Hà Nội, lấy công ty TNHH Thiên Ngọc An làm đơn vị nghiên cứu”, của sinh viên
Nguyễn Hải Hường - khoa kinh tế - ĐH Thương Mại. Đề tài đã đưa ra những lý luận
về thị trường, thương mại, giải pháp thị trường và phát triển thương mại sản phẩm.
Đồng thời nêu thực trạng và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển thương mại sản
phẩm ô tô của công ty, từ đó đi sâu nghiên cứu giải pháp về thị trường nhằm phát triển
thương mại sản phẩm này trên thị trường Hà Nội. Cụ thế, bằng phương pháp thu thập,
phân tích và xử lý dữ liệu, đề tài đã tập trung giải quyết được một số vấn đề như: bản
chất của phát triển thương mại sản phẩm ô tô là gì? Chỉ tiêu nào cho phép đánh giá
phát triển thương mại sản phẩm ô tô? Những nhân tố nào ảnh hưởng đến phát triển
các đề tài trước
3. Xác lập và tuyên bố vấn đề trong đề tài
Xuất phát từ những luận cứ khoa học, trên cơ sở nghiên cứu thực trạng phát triển
thương mại sản phẩm thép những năm gần đây, em thấy rằng trong thời gian tới phải
giải quyết được những vấn đề đặt ra với ngành thép của Việt Nam nói chung và của
Công ty VNSteel Thăng Long nói riêng về việc sản xuất và cung ứng sản phẩm thép.
Để làm được điều đó cần căn cứ vào những vấn đề sau:
Về lý luận: trên cơ sở lý thuyết đã học chuyên ngành kinh tế thương mại đề tài tập
trung nghiên cứu các vấn đề về cơ sở lý luận, xác lập những nguyên lý, các tiêu chí và
hệ thống các chỉ tiêu về phát triển thương mại mặt hàng, các chính sách sử dụng trong
phát triển thương mại sản phẩm thép của VNSteel Thăng Long, vai trò của việc phát
triển thương mại sản phẩm thép của VNSteel Thăng Long để định hướng cho quá trình
đổi mới và hoàn thiện các chính sách phát triển thương mại sản phẩm thép của
VNSteel Thăng Long.
Về mặt thực tiễn: trên cơ sở ứng dụng các lý luận trên cùng với việc phân tích dữ
liệu thu thập được, thì vấn đề đặt ra là trong quá trình mở rộng quy mô và nâng cao
chất lượng, hiệu quả thương mại sản phẩm thép, công ty đã đạt được những thành
công và hạn chế gì? Nguyên nhân của những hạn chế đó là gì? Và công ty cần làm gì
để khắc phục những hạn chế đó nhằm đẩy mạnh phát triển thương mại sản phẩm của
mình. Đề cập đến phát triển thương mại đề tài tập trung vào tìm hiểu thực trạng và
nâng cao chất lượng phát triển thương mại nhằm đưa ra giải pháp phát triển thương
mại sản phẩm thép của VNSteel Thăng Long.
8
4. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu
- Khái quát và hệ thống hoá những lý luận về phát triển thương mại sản phẩm thép
- Nắm rõ thực trạng phát triển thương mại sản phẩm thép của Công ty VNSteel Thăng
Long, đánh giá được những mặt tích cực, hạn chế và nguyên nhân dẫn đến hạn chế
trong việc phát triển thương mại sản phẩm thép của VNSteel Thăng Long
- Đề xuất được các giải pháp và kiến nghị phát triển thương mại sản phẩm thép của
Mục đích thu thập các dữ liệu thứ cấp là phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá
thực trạng của việc phát triển thương mại sản phẩm thép của công ty VNSteel Thăng
Long.
Các phương pháp phân tích dữ liệu
- Phương pháp biểu đồ, bảng biểu:
Là phương pháp sử dụng các sơ đồ hình vẽ, các đồ thị về cơ cấu thị trường, cơ cấu
sản phẩm, mặt hàng. Về bảng biểu gồm có bảng kết quả hoạt động kinh doanh của
công ty, cơ cấu các mặt hàng, thị trường của công ty qua các năm (2008 – 2012). Mỗi
dữ liệu thể hiện trên biểu đồ đều dựa trên các báo cáo của công ty qua 5 năm gần đây.
Phương pháp này được sử dụng cho chương 2.
- Phương pháp so sánh:
Phương pháp so sánh là phương pháp xem xét các chỉ tiêu phân tích bằng cách dựa
trên việc so sánh số liệu với một chỉ tiêu cơ sở (chỉ tiêu gốc). Tiêu chuẩn để so sánh là
doanh thu, lợi nhuận, chi phí, tốc độ phát triển, thị phần, … của các năm trước so với
năm sau. Trên cơ sở so sánh để đưa ra kết luận những yếu tố nào tăng, giảm hay không
đổi qua các năm. Sử dụng phương pháp này để phân tích được sự biến động của hoạt
động thương mại qua từng giai đoạn hay từng thời kỳ. Phương pháp này được sử dụng
cho chương 2.
- Phương pháp phân tích cơ bản:
Là sự kiểm định những yếu tố chủ chốt ảnh hưởng đến hoạt động phát triển
thương mại của doanh nghiệp dựa trên nguồn dữ liệu đã có và sử dụng kết quả của các
phương pháp khác. Phương pháp này sử dụng cho chương 2 và chương 3.
- Phương pháp phân tích tổng hợp:
Sau khi thu thập số liệu, xử lý, phân tích dữ liệu tiến hành phân tích tổng hợp. Đưa
ra được các kết luận về phát triển thương mại sản phẩm thép của VNSteel Thăng
Long. Từ đó quan sát và rút ra những kết luận và vấn đề về thực trạng phát triển
thương mại sản phẩm thép của VNSteel Thăng Long. Phương pháp này dùng để sử
dụng cho chương 2 và chương 3.
- Phương pháp chỉ số
Phương pháp chỉ số được sử dụng để đánh giá sự tăng lên hay giảm xuống của tỷ
thương mại bao gồm sự gia tăng về quy mô, tốc độ của hoạt động thương mại, thay đổi
chất lượng của hoạt động thương mại, nâng cao hiệu quả hoạt động thương mại, với mục
tiêu cuối cùng là đạt được sự bền vững trong phát triển thương mại.
1.2. Một số lý thuyết liên quan đến phát triển thương mại sản phẩm thép
1.2.1. Một số khái niệm liên quan đến sản phẩm thép
1.2.1.1. Phân loại sản phẩm thép
Sản phẩm thép của VNSteel Thăng Long được chia ra làm 2 loại: tôn mạ kẽm và tôn
mạ màu
Tôn mạ kẽm là tôn được nhúng nóng, phủ kẽm 02 mặt, bể kẽm phải có thành phần
kẽm nguyên chất tối thiểu là 99%, tuân thủ theo tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản JIS
G3302, Tiêu chuẩn Châu Âu EN10142 và Tiêu chuẩn Mỹ ASTM A653/A653-08 có
khả năng chống ăn mòn vượt trội, khả năng kháng nhiệt hiệu quả, linh hoạt trong thiết
kế và có tuổi thọ cao hơn nhiều so với thép mạ kẽm thông thường.
Tôn mạ màu là sản phẩm ứng dụng công nghệ hàng đầu về sơn mạ trên nền hợp
kim nhôm kẽm tạo cho sản phẩm có độ bền vượt trội. Sự sáng tạo công nghệ không
ngừng đã giúp tôn mạ màu tạo nên những chuẩn mực mới về chất lượng và khả năng
chống ăn mòn cao hơn nhiều so với các sản phẩm tôn mạ kẽm phủ sơn thông thường.
Các sản phẩm của Công ty hầu hết đều được sản xuất bằng thiết bị tự động hóa và
12
công nghệ dây chuyền hiện đại của thế giới và khu vực nên chất lượng khá tốt, ít hao
tốn nguyên vật liệu, giảm tỉ lệ sai hỏng và lỗi trong quá trình sản xuất.
1.2.1.2. Đặc điểm của thép tôn mạ
Tôn kẽm và mạ màu có khả năng chống ăn mòn vượt trội, khả năng kháng nhiệt hiệu
quả, linh hoạt trong thiết kế và có tuổi thọ cao hơn nhiều so với tôn mạ kẽm mạ màu
thông thường.
• Tôn mạ kẽm
Bảng 1.1: Các loại tôn mạ kẽm
Thành phần lớp mạ chính (%) Công nghệ mạ nóng liên tục Độ dày lớp mạ
Mạ kẽm Zn 99,6; Pb < 0,08; Al < 0,2
Mạ hai mặt như nhau và hai
đến độ chúng ta có thể quên mất vì tôn đóng một vai trò quan trọng trong việc che chở
một mái ấm, nơi tất cả các thành viên trong một gia đình thường sum họp mỗi ngày.
Trường em mái ….tôn… đỏ hồng
Mọc lên tươi thắm giữa đồng lúa xanh
Nói đến tôn người ta nghĩ đến ngay công dụng chính là lợp một mái nhà, mà bỏ
sót đi các công dụng khác mà tôn còn được sử dụng.Tôn còn được làm vách nhà
xưởng, bàn ghế, tấm che cửa sổ, cửa cuốn, cửa kéo cho cửa chính Một công dụng
khác của tôn trong ngành công nghiệp dân dụng đó là đồ gia dụng và đồ điện, như : vỏ
máy giặt, tủ lạnh, lò viba, vỏ motor, máy vi tính, board mạch điện tử và ứng dụng
trong ngành công nghiệp ôtô.
1.2.2. Một số lý thuyết liên quan đến phát triển thương mại
1.2.2.1 Quan điểm về phát triển thương mại
Dưới cách tiếp cập của kinh tế thương mại phát triển thương mại được hiểu bao gồm
việc gia tăng quy mô thương mại một cách hợp lý, thúc đẩy nhịp độ, tốc độ tăng trưởng
thương mại nhanh, ổn định và liên tục, cải thiện chất lượng phát triển thương mại gắn với
14
chuyển dịch cơ cấu thương mại phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả thương mại hướng vào
mục tiêu phát triển bền vững, đáp ứng hài hòa các mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường.
Gia tăng quy mô thương mại là sự mở rộng thị trường về số lượng, gia tăng sản lượng
tiêu thụ sản phẩm qua đó làm gia tăng giá trị thương mại, có sự mở rộng về thị trường, gia
tăng thị phần của công ty trên thị trường. Phát triển thương mại một sản phẩm xét về mặt
quy mô thương mại là tạo đà cho sản phẩm bán được nhiều hơn, quay vòng vốn nhanh
hơn, giảm thời gian trong lưu thông, thị trường của sản phẩm không chỉ bó hẹp trong
những thị trường truyền thống mà còn được mở rộng ra những thị trường mới.
Cải thiện chất lượng thương mại là sự chuyển dịch cơ cấu thương mại một cách hợp
lý, có sự chuyển dịch cơ cấu hàng hóa, dịch vụ theo hướng tăng những hàng hóa có chất
lượng tốt, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người tiêu dung, đảm bảo ổn định quá trình kinh
doanh của doanh nghiệp…chuyển dịch cơ cấu thị trường theo hướng thâm nhập khai thác
tốt thị trường cũ của sản phẩm nhằm tối đa hóa lợi nhuậ đồng thời phát triển thị trường
theo chiều sâu.
hoạt động thương mại. Chất lượng hoạt động thương mại biểu hiện ở tốc độ tăng trưởng
sản phẩm cao hay thấp, ổn định hay không ổn định và xu hướng phát triển của nó. Ngoài
ra còn thể hiện ở sự dịch chuyển về cơ cấu thép tiêu thụ, cơ cấu thị trường, các loại hình
doanh nghiệp tham gia kinh doanh và các hình thức phân phối sản phẩm.
Phát triển thương mại là tạo ra tính hiệu quả trong hoạt động thương mại: tính hiệu
quả được thể hiện ở các kết quả đạt được mà hoạt động thương mại mang lại cho doanh
nghiệp cũng như ngành thép, chính là các chỉ tiêu về lợi nhuận, hiệu quả sử dụng các
nguồn lực,…Tuy nhiên, trong phát triển thương mại sản phẩm không chỉ đơn thuần là đạt
được các mục tiêu cho doanh ngiệp cũng như toàn ngành đó, mà nó còn hỗ trợ các ngành
khác phát triển và đảm bảo kết hợp hài hòa các mục tiêu về kinh tế - xã hội - môi trường,
có như vậy phát triển thương mại thép mới bền vững được. Phát triển thương mại sản
phẩm phải mang lại các kết quả tích cực cho tổng thể nền kinh tế, xã hội và môi trường,
được biểu hiện ở mức đóng góp của thương mại sản phẩm vào GDP của cả nước, đóng
góp vào phát triển xã hội (giải quyết việc làm, xóa bỏ cái nghèo, nâng cao chất lượng cuộc
sống cho nhân dân, …) và góp phần giảm ô nhiễm môi trường.
1.2.2.3. Ý nghĩa của phát triển thương mại sản phẩm thép
- Đối với nền kinh tế nói chung
Phát triển thương mại sản phẩm của một ngành hàng làm tăng thu nhập từ mặt
hàng này sẽ đóng góp một phần vào tổng mức lưu chuyển hàng hóa dịch vụ và đóng
góp vào GDP của cả nước. Từ đó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển theo
hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
- Đối với các doanh nghiệp
Phát triển thương mại mặt hàng là một yếu tố khách quan đối với các doanh
nghiệp, nó là điều kiện để cho các doanh nghiệp phát triển và tồn tại trong điều kiện
hiện nay, giúp doanh nghiệp đứng vững và có khả năng cạnh tranh với nhiều doanh
nghiệp khác trên thị trường đầy biến động. Nâng cao hình ảnh, uy tín của doanh
nghiệp trên thị trường. Việc phát triển thương mại mặt hàng của doanh nghiệp càng
hiệu quả thì càng tạo được hình ảnh, tiếng tăm tốt với khách hàng
Phát triển thương mại một mặt hàng góp phần đẩy mạnh tốc độ tiêu thụ sản phẩm,
làm cho doanh thu mặt hàng này tăng kéo theo tổng doanh thu của doanh nghiệp tăng
khả năng cạnh tranh trên thị trường, nâng cao thương hiệu và góp phần đạt hiệu quả
kinh tế- xã hội. Ứng với mỗi doanh nghiệp sẽ có một năng lực nhất định, tùy vào năng
lực của mình mà các doanh nghiệp lựa chọn giải pháp phù hợp cho mình trong phát
triển thương mại sản phẩm.
1.3.1.3. Dựa trên lợi thế so sánh, hiệu quả kinh tế- xã hội
- Lợi thế so sánh
Phát triển thương mại mặt hàng đòi hỏi phải dựa trên lợi thế so sánh của ngành và
lợi thế của quốc gia. Lợi thế so sánh có hai loại là lợi thế so sánh tĩnh và lợi thế so
17
sánh động. Lợi thế so sánh tĩnh là lợi thế sẵn có như tài nguyên thiên nhiên, lao động,
tình hình chính trị…Lợi thế so sánh động là lợi thế tiềm năng, sẽ xuất hiện trong tương
lai gần hay xa khi các điều kiện về công nghệ, về nguồn nhân lực và khả năng tích lũy
vốn tư bản cho phép. Ở Việt Nam khai thác chủ yếu là lợi thế so sánh tĩnh, còn lợi thế
so sánh động thì chưa có để khai thác. Lợi thế so sánh giúp cho các doanh nghiệp khai
thác được nguồn lực của quốc gia để phát triển thương mại các sản phẩm thép.
- Hiệu quả kinh tế - xã hội
Đó là sự đóng góp của chính doanh nghiệp vào xã hội nghĩa là mang lại các lợi ích
công cộng cho xã hội như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho ngân sách, tăng tích
lũy ngoại tệ, tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, thay đổi cơ cấu kinh tế. Phát
triển thương mại mặt hàng phải dựa trên hiệu quả kinh tế- xã hội bởi tính hiệu quả của
nền kinh tế xuất phát từ tính hiệu quả của mỗi doanh nghiệp và nền kinh tế vận hành
tốt là môi trường thuận lợi cho sự hoàn thiện của doanh nghiệp, giúp cho hoạt động
phát triển thương mại mặt hàng đạt hiệu quả.
1.3.1.4. Dựa trên đường lối phát triển của Đảng và nhà nước
Phát triển thương mại nhiều thành phần, hình thức sở hữu, phát huy và sử dụng tốt
khả năng, tính tích cực của các thành phần kinh tế trong phát triển thương mại.
Phát triển đồng bộ các thị trường trong nước, phát huy vai trò nòng cốt, định
hướng và điều tiết của nhà nước trên thị trường. Việc mở rộng thị trường ngoài nước
phải gắn phát triển ổn đinh thị trường trong nước, lấy thị trường trong nước làm cơ sở.
Đặt sự phát triển của lưu thông hàng hóa và hoạt động của các doanh nghiệp dưới
đơn thuần là khái niệm chỉ vị trí địa lý, nơi khởi nguồn của dòng chảy hàng hóa vào
kênh phân phối mà còn là quy mô, cơ cấu và sự phân bổ nguồn hàng tiềm năng đưa
hàng hóa ra thị trường trong một thời gian nhất định. Việc tổ chức và phát triển nguồn
hàng của các nhà cung ứng chính là quá trình phát triển đầu ra cho các doanh nghiệp,
đảm bảo hàng hóa đưa ra thị trường đáp ứng đầy đủ và thỏa mãn nhu cầu của người sử
dụng.
1.3.2.4. Chính sách tiếp cận thị trường và xác lập hệ thống phân phối
Tiếp cận thị trường là việc đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu thị trường, xúc tiến
thương mại và tiếp thị để mở rộng và phát triển thị trường ra các thị trường mới. Bên
cạnh đó cần nghiên cứu phát triển những sản phẩm mới, có công nghệ hiện đại và giá
trị gia tăng cao. Thông qua việc tiếp cận thị trường, các doanh nghiệp sẽ xác lập hệ
thống phân phối phù hợp nhất với các doanh nghiệp mình, có thể là phân phối trực tiếp
hoặc qua trung gian thương mại. Đồng thời tăng cường liên kết hợp tác giữa các nhà
phân phối trên cơ sở nhằm đạt được lợi ích tối đa cho tất cả các bên liên quan.
1.3.2.5. Chính sách xác lập và cải thiện giá trị gia tăng trong chuỗi giá trị cung ứng
Chuỗi giá trị là một sáng tạo học thuật của GS. Michael Porter, học giả marketing
lừng lẫy. Phân tích chuỗi giá trị cho chúng ta một bức tranh sinh động về việc tạo ra
giá trị gia tăng của toàn ngành cũng như của từng doanh nghiệp. Việc phân tích này
chỉ ra rằng, không chỉ có khâu sản xuất mới tạo ra giá trị gia tăng. Bên cạnh đó, phân
tích chuỗi giá trị gia tăng còn cho chúng ta biết con đường, cách thức thương mại hóa
19
sản phẩm ngành và tìm ra những điểm yếu về liên kết trong chuỗi giá trị. Vì vậy, đây
là chính sách cần thiếu đối với việc phát triển thương mại mặt hàng nói chung.
1.3.3. Chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại
Để đánh giá phát triển thương mại của một sản phẩm thì có rất nhiều chỉ tiêu. Hệ
thống chỉ tiêu dưới đây có tính chất đánh giá tổng quát nhất về phát triển thương mại sản
phẩm thép:
1.3.3.1. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá phát triển thương mại sản phẩm về quy mô:
+ Sản lượng tiêu thụ: Là khối lượng sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ được trên thị
trường nội địa tại một thời điểm nhất định. Thường ký hiệu là Q hoặc Y. Sản lượng tiêu thụ
Yt-ı : sản lượng của năm t-1
gt : tốc độ tăng trưởng sản phẩm tính theo % năm t
20
+ Thị phần: là tỷ lệ giữa sản phẩm tiêu thụ trên thị trường của một loại sản phẩm
so với sản lượng của toàn ngành trong một khoảng thời gian nhất định. Thị phần thể
hiện vai trò và vị trí của sản phẩm đối với toàn ngành.
Trong đó: T là thị phần
Yi là sản lượng tiêu thụ sản phẩm i
Y là tổng sản lượng tiêu thụ của toàn ngành
1.3.3.2. Hệ thống chỉ tiêu phản ánh phát triển thương mại sản phẩm về mặt chất lượng:
Ngoài các chỉ tiêu phản ánh về tăng quy mô, phát triển thương mại sản phẩm trên
thị trường còn được phản ánh qua chỉ tiêu về chất lượng, chất lượng được thể hiện ở
việc nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tuy nhiên còn thể hiện chất lượng của
hoạt động phát triển thương mại sản phẩm, cụ thể là các chỉ tiêu sau:
- Tốc độ tăng trưởng bình quân
Chỉ tiêu này phản ánh tốc độ tăng trưởng trung bình cho một giai đoạn. Nó được
xác định qua công thức:
= : tốc độ tăng trưởng trung bình
t; t; t: tốc độ tăng trưởng hàng
năm
- Tỷ trọng doanh thu của từng dòng sản phẩm
: doanh thu tiêu thụ của mặt hàng n
M: Tổng doanh thu tiêu thụ trong kì nghiên cứu
Chỉ tiêu trên phản ánh sự tăng lên hay giảm đi về tỷ trọng của doanh thu từng mặt
hàng trong tổng khối lượng và tổng doanh thu. Tỷ trọng của mặt hàng nào càng lớn thì
chứng tỏ quy mô của sản phẩm đó trong tổng sản phẩm càng lớn và ngược lại.
- Độ lệch chuẩn
Chỉ tiêu này phản ánh độ phân tán của tốc độ tăng trưởng hàng năm so với tốc độ
tăng trưởng trung bình. Nó phản ánh tính ổn định, đều đặn của tăng tưởng. Độ lệch
- Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Được xác định bằng tỷ lệ giữa tổng lợi nhuận trước thuế đạt được trong kỳ với
doanh thu bán hàng thuần đạt được trong kỳ của doanh nghiệp.
: tỷ suất lợi nhuận
: tổng lợi nhuận đạt được trong kỳ
: Doanh thu thuần đạt được trong kỳ
Chỉ tiêu này phản ánh trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao
nhiêu đồng lợi nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng thuần. Chỉ tiêu này càng cao
thì hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp càng cao. Chỉ tiêu này dùng để phân tích hiệu
quả thương mại của các công ty.
22
- Hiệu quả sử dụng lao động
W: năng suất lao động của một nhân viên kinh doanh thương mại
: số nhân viên kinh doanh thương mại bình quân trong kì
Chỉ tiêu này phản ánh năng lực sản xuất kinh doanh của một lao động , nó được
biểu hiện bằng doanh thu bình quân của một lao động đạt được trong kì.Chỉ tiêu này
càng lớn thì hiệu quả sử dụng lao động càng cao.
- Hiệu quả sử dụng vốn
Hiệu quả sử dụng vốn được đánh giá qua chỉ tiêu tỷ suất doanh thu trên vốn kinh
doanh, hoặc tỷ suất lợi nhuận trên vốn kinh doanh.
Trong đó là tỷ suất doanh thu/ vốn kinh doanh
là tỷ suất lợi nhuận/ vốn kinh doanh
V
kd
là tổng vốn kinh doanh bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết trong 100 đồng vốn kinh doanh bỏ ra, doanh nghiệp thu được
bao nhiêu đồng lợi nhuận hoặc bao nhiêu đồng doanh thu.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI
SẢN PHẨM THÉP CỦA VNSTEEL THĂNG LONG
2.1. Đánh giá tổng quan tình hình và ảnh hưởng nhân tố môi trường tới phát
Theo đó lượng tiêu thụ sản phẩm thép nói chung ở thị trường trong nước ngày
càng tăng. Điều này cho thấy, nhu cầu về mặt hàng thép ngày càng tăng lên.
2.1.2.2. Khả năng cung ứng mặt hàng thép trong nước
Hiện nay ở nước ta có các doanh nghiệp sản xuất thép ( thép tôn mạ kẽm và tôn
mạ màu) là VNSteel Thăng Long, Tôn Phương Nam, Tôn Hoa Sen và Công ty TNHH
Posvina. Tuy nhiên Việt Nam vẫn chưa sản xuất được phôi thép mà chủ yếu nhập khẩu
phôi thép về gia công, sản xuất thành thép thành phẩm. Tuy đã có những chuyển biến
đáng kể nhưng ngành Thép Việt Nam lại lệ thuộc 60% vào phôi thép thế giới. Nguồn
tài nguyên trong nước chưa tận dụng được, các sản phẩm Thép phục vụ hoạt động
quốc phòng, đóng tàu Việt Nam chưa thể sản xuất được và phải nhập khẩu từ nước
ngoài.
2.1.2.3. Một số đặc điểm và xu hướng thị trường giai đoạn 2008- 2012
Do khả năng cung ứng thép chưa đáp ứng được nhu cầu trong nước, nên các doanh
nghiệp có xu hướng nhập khẩu tương đối nhiều từ Trung Quốc và các nước ASEAN.
Ngày nay thị trường nhập khẩu được mở rộng ra nhiều nước trên thế giới như Hàn
Quốc, Nhật Bản, Oxtraylya…Xu hướng về sản lượng nhập khẩu mặt hàng thép được
thể hiện qua biểu đồ dưới đây:
25