Hoàn thiện mô hình bán lẻ điện tử qua website www.binhantravel.vn của Công ty Cổ phần Dịch vụ Du Lịch Thương mại Bình An - Pdf 25

1
MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trong những năm gần đây, nhịp độ tăng trưởng kinh tế nhìn chung suy trầm
trên toàn thế giới. Tuy nhiên, theo ước tính của IMRG – Hiệp hội ngành công
nghiệp bán lẻ trực tuyến của Vương quốc Anh, tổng doanh số bán hàng thương mại
điện tử B2C trong năm 2011 trên toàn cầu được ước tính đã tăng lên đến €690bn
(tương đương £599bn - $961bn), tăng gần 20%. IMRG ước tính sẽ tiếp tục tăng
trưởng trong những năm tới, đi qua các dấu nghìn tỷ euro vào năm 2013. Điều này
khẳng định sức hút của B2C và những lợi ích lớn lao mà B2C mang lại.
Mô hình bán lẻ điện tử mang lại cho khách hàng những giá trị tối ưu nhất. Với
tư cách là các hãng bán lẻ, doanh nghiệp có thể cung cấp cho khách hàng phương
thức mua hàng với chi phí mua và giao dịch thấp hơn phương pháp truyền thống, có
nhiều phạm vi lựa chọn hơn, nhiều thông tin và chính xác nhanh chóng hơn, tiện lợi
trong mua sắm, thanh toán và nhận hàng, được phục vụ 24x7 (24/24 giờ cả 7 ngày
trong tuần). Với những thông tin quý báu về thói quen tiêu dùng của khách hàng,
các công ty áp dụng mô hình bán lẻ điện tử sẽ sử dụng những thông tin đó để giới
thiệu sản phẩm mới cho khách hàng, và họ sẽ không phải nhập lại thông tin cá nhân
của mình một lần nữa khi mua hàng tại website đó.
Số lượng người dùng internet vào cuối năm 2012 được ước tính là khoảng 2,3
tỷ người và được dự báo sẽ đạt gần đến 3,5 tỷ người chỉ trong một vài năm, chiếm
khoảng 50% dân số thế giới. Trong khi đó tại Việt Nam, cuối năm 2012 ước tính
khoảng 31 triệu dân sử dụng Internet. Vì số lượng người sử dụng Internet phát triển
và người dùng ngày càng tự tin hơn trong việc mua hàng trực tuyến, số lượng người
mua sắm điện tử sẽ tăng một cách nhanh chóng.
2
Số người sử dụng Internet Tỷ lệ % dân số sử dụng
Internet
Hình 1.1. Số lượng người sử dụng Internet của Việt Nam từ 2003 – 2012
(Nguồn: Trung tâm Intenet Việt Nam)
Theo “Báo cáo chỉ số TMĐT của Việt Nam năm 2012” do Hiệp hội TMĐT

mô nhỏ và mới được thành lập. Lúc ban đầu, công ty chưa áp dụng các hoạt động
thương mại điện tử, cho đến nay, nhận thấy xu thế và lợi ích của TMĐT mang lại,
công ty đã thành lập website www.binhantravel.vn nhằm hỗ trợ cho các hoạt động
kinh doanh của mình. Tuy nhiên website hoạt động chưa mang lại hiệu quả cao vì
chưa đầy đủ nội dung và thiếu nguồn nhân lực. Qua những phân tích trên và qua
thời gian thực tập tại công ty, nhận thấy được tầm quan trọng về sự có mặt một gian
hàng ảo trên website của doanh nghiệp, em đã lựa chọn đề tài “Hoàn thiện mô
hình bán lẻ điện tử qua website www.binhantravel.vn của Công ty Cổ phần Dịch
vụ Du Lịch Thương mại Bình An”
3. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
- Hệ thống hóa lý luận về thương mại điện tử và mô hình bán lẻ điện tử
- Phân tích thực trạng ứng dụng TMĐT tại Công ty cổ phần dịch vụ du lịch
thương mại Bình An, trên cơ sở lý thuyết, nêu ra những điểm mạnh, điểm
yếu của mô hình bán lẻ điện tử của công ty, hướng hoàn thiện mô hình
- Giải pháp hoàn thiện mô hình bán lẻ điện tử trên website
www.binhantravel.vn của Công ty cổ phần dịch vụ du lịch thương mại Bình
An.
4
4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: mô hình bán lẻ điện tử, website www.binhantravel.vn của Công
ty Cổ phần dịch vụ du lịch Thương mại Bình An
- Không gian: hoạt động của website tại Hà Nội
- Thời gian: từ khi công ty thành lập đến nay (2010 – đến nay)
5. Ý NGHĨA
- Hệ thống hóa lý thuyết về mô hình bán lẻ điện tử, các yếu tố cấu thành mô
hình bán lẻ điện tử, các mô hình chủ yếu, các phối thức trong bán lẻ điện tử và
các khái niệm có liên quan
- Tìm hiểu, phân tích và nắm bắt được thực trạng ứng dụng TMĐT và áp dụng
mô hình bán lẻ điện tử trên thế giới, Việt Nam và Công ty cổ phần dịch vụ du
lịch thương mại Bình An, nghiên cứu và đề ra được giải pháp hoàn thiện mô

dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng hay
dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công."
Tóm lại, thương mại điện tử chỉ xảy ra trong môi trường kinh doanh mạng
Internet và các phương tiện điện tử giữa các nhóm (cá nhân) với nhau thông qua các
công cụ, kỹ thuật và công nghệ điện tử. Ngoài ra, theo nghiên cứu tại đại học Texas,
các học giả cho rằng thương mại điện tử và kinh doanh điện tử đều bị bao hàm bởi
Nền kinh tế Internet (Internet economy)
Thương mại điện tử B2C bao gồm các giao dịch bán lẻ hàng hóa và dịch vụ
của các doanh nghiệp đến khách hàng là cá nhân và hộ gia đình, những người tiêu
dùng cuối cùng. (Theo giáo trình Thương Mại Điện Tử căn bản – Trường Đại học
Thương Mại)
6
Bán lẻ điện tử là việc bán háng hóa và dịch vụ qua Internet và các kênh điện
tử khác đến người tiêu dùng cá nhân và hộ gia đình. Định nghĩa này bao hàm tất cả
các hoạt động thương mại, tạo nên các giao dịch với người tiêu dùng cuối cùng (chứ
không phải khách hàng doanh nghiệp). Một số hoạt động marketing không tạo nên
các giao dịch trực tiếp, ví dụ cung cấp thông tin miễn phí hoặc xúc tiến thương hiệu,
hình ảnh, được coi như một phần của TMĐT B2C, nhưng thường không được tính
trong phạm vi của bán lẻ điện tử. Như vậy khái niệm bán lẻ điện tử không rộng
bằng khái niệm TMĐT B2C. TMĐT B2C bao hàm bán lẻ điện tử
1.1.2. Khái niệm liên quan trực tiếp đến bán lẻ điện tử
Nhà bán lẻ là người chuyên bán một số chủng loại sản phẩm hoặc dịch vụ
nhất định
cho
người tiêu dùng ñể họ sử dụng vào mục đích cá
nhân.
Có rất nhiều
loại hình bán lẻ chẳng hạn như cửa hàng tạp phẩm, cửa hàng tổng hợp,
cửa
hàng chuyên dụng, cửa hàng tiện dụng, cửa hàng dược phẩm và cửa hàng thực

Tại sao khách hàng nên mua hàng của doanh
nghiệp?
Mô hình doanh
thu
Doanh nghiệp sẽ kiếm tiền như thế
nào?
Cơ hội thị
trường
Thị trường doanh nghiệp dự định phục vụ là gì?
Phạm
vi của nó như thế
nào?
Môi trường cạnh
tranh

Đối
thủ của doanh nghiệp trên thị trường là những

ai?
Lợi thế cạnh
tranh
Những lợi thế riêng của doanh nghiệp trên thị
trường
đó là
gì?
Chiến lược thị
trường
Kế hoạch xúc tiến sản phẩm và dịch vụ của
doanh
nghiệp nhằm thu hút khách hàng như thế

trực tiếp từ các site công ty đến các khách hàng cá nhân. Phần lớn các nhà sản xuất
là vận hành thương mại điện tử hỗn hợp (“click and mortar”). Họ cũng vừa bán
hàng trực tiếp đến người tiêu dùng, vừa bán thông qua các đại lý bán lẻ, vì người
bán hàng có thể hiểu rõ thị trường của họ do có cơ hội tiếp xúc trực tiếp với người
tiêu dùng, và người tiêu dùng nhận được nhiều thông tin về sản phẩm qua quan hệ
trực tiếp với nhà sản xuất. Hãng Dell đầu tiên sử dụng marketing trực tiếp kết hợp
với tiếp cận bán hàng qua đơn đặt hàng, cung cấp hàng hóa của họ theo yêu cầu
riêng của khách hàng.
• Nhà bán lẻ điện tử thuần túy
Các nhà bán lẻ điện tử này không có các cửa hàng vật lý. Họ chỉ bán hàng trực
tuyến. Amazon.com trong giai đoạn mới hình thành là một ví dụ của nhà bán lẻ điện
tử thuần túy
Các nhà bán lẻ điện tử ảo có lợi thế liên quan đến tổng chi phí thấp và các quá
trình kinh doanh được tổ chức hợp lý. Các nhà bán lẻ điện tử có thể thuộc loại kinh
doanh hàng hóa đa dụng hoặc hàng hóa chuyên dụng.
Các nhà bán lẻ điện tử kinh doanh hàng hóa chuyên dụng hoạt động trong một
thị trường hẹp (ví dụ Cattoys.com). Các doanh nghiệp kinh doanh chuyên sâu như
vậy không thể tồn tại trong thế giới vật lý vì họ không có đủ khách hàng
• Nhà bán lẻ hỗn hợp
Đây là các nhà bán lẻ truyền thống có thêm website bổ sung (Ví dụ:
Walmart.com, Homedepot.com, Sharperimage.com). Một hãng đồng thời vận hành
cả các cửa hàng vật thể, cả các site bán lẻ trực tuyến được gọi là nhà bán hàng hỗn
hợp “click and mortar” trên mô hình kinh doanh đa kênh. Ví dụ: các cửa hàng bách
hóa của Macys (Macys.com) hoặc Sears (Sears.com), các cửa hàng hạ giá của Wal-
Mart (walmart.com).
• Các phố internet (internet malls, e-malls):
Internet malls, virtual-malls hay e-malls là một trang web có rất nhiều các
thương gia, nhà cung cấp dịch vụ, môi giới và các doanh nghiệp khác đặt cửa hàng
của họ trên đó. Các nhà điều hành internet malls thường chi một khoản phí để thiết
9

những người mua hoặc những người bán (ingrammicro.com)
Sản xuất theo đơn
đặt hàng
Các nhà sản xuất thực hiện việc thích ứng hóa hàng hóa và
dịch vụ của mình với nhu cầu khách hàng qua đơn đặt hàng
trực tuyến (dell.com, nike.com; jaguar.com)
B2B2C Một nhà sản xuất bán hàng cho doanh nghiệp, doanh nghiệp
phân phối cho khách hàng cá nhân
Nhà cung cấp dịch
vụ
Cung cấp các dịch vụ thanh toán trực tuyến, thực hiện đơn
hàng (phân phối), an ninh (ví dụ: paypal.com, escrow.com)
10
1.2.2. Khó khăn của bán lẻ điện tử đối với người bán lẻ
Nhà bán lẻ thường chậm triển khai bán lẻ điện tử. Điều này có thể hiểu được
nếu xem xét một số khó khăn của bán lẻ điện tử.
Nhà bán lẻ, ví dụ, thường thiếu hiểu biết kỹ thuật, hoặc cần một lượng đầu tư
đáng kể (chi phí ban đầu,chi phí vận hành), các phương tiện thực hiện đơn hàng bổ
sung (hệ thống Logistics).
Có thể xuất hiện các vấn đề pháp lý. Ví dụ, nếu người mua và nhà cung ứng ở
các quốc gia khác nhau, có thể phát sinh mâu thuẫn giữa pháp luật và thuế của hai
nước
Một bất lợi thế khác là bán lẻ điện tử kém hiệu lực hơn so với bán trực tiếp
mặt đối mặt (và nhiều khách hàng nói “không” đối với máy tính). Kỹ năng hình
thành được trong kinh doanh bán lẻ truyền thống giờ đây tỏ ra kém tác dụng trong
bán lẻ điện tử. Việc khích lệ mua sắm qua tiếp xúc trực tiếp với khách hàng không
còn nữa.
Một vấn đề khác là khách hàng quen với nhận thức là mua hàng trên mạng giá
rẻ hơn ở các cửa hàng truyền thống. Điều này làm hạn chế hiệu quả kinh tế và sự
mở rộng của bán lẻ điện tử.

Mở rộng cơ sở bán lẻ yêu cầu
thêm nhiều địa điểm và không
gian
Mở rộng cơ sở bán lẻ yêu cầu
tăng công suất máy chủ và các
phương tiện phân phối
Sự mở rộng vật lý
(Doanh thu không
tăng lên khi số
khách viếng thăm
tăng)
• Có thể không cần sự mở
rộng vật lý
• Tăng cường các nỗ lực
marketing để biến những
“người xem hàng” thành người
mua hàng thực sự
• Có thể cần mở rộng vật lý
để đảm bảo các dịch vụ bền
vững
• Tăng cường các nỗ lực
marketing để biến những
“người xem hàng” thành
người mua hàng thực sự
Công nghệ Công nghệ tự động hóa bán
hàng như các hệ thống POS
(Point of Sale)
• Các công nghệ tiền
phương (Front-end)
• Các công nghệ hậu

• Nhiều đối thủ cạnh tranh
hơn
Cơ sở khách hàng
• Khách hàng thuộc khu vực
địa phương
• Không vô danh
• Cần ít nguồn lực hơn để
tăng tính trung thành của khách
hàng
• Khách hàng thuộc khu vực
rộng
• Vô danh
• Cần nhiều nguồn lực hơn
để tăng tính trung thành của
khách hàng
1.2.4. Lý thuyết về hàng hóa trong bán lẻ điện tử
Về nguyên tắc, những gì bán được ở các cửa hàng truyền thống thì có thể
bán ñược qua
các
kênh trực tuyến. Tuy nhiên, phụ thuộc vào nhiều điều kiện (hạ
tầng
công nghệ thông tin – truyền thông, hạ tầng sản xuất, phân phối, vận tải…),
mức độ phù hợp của
các
loại hàng hóa đối với bán lẻ trực tuyến không phải như
nhau.
Với tất cả các điều kiện khác bằng nhau trong môi trường trực tuyến,
hàng hóa có
những
đặc trưng sau đây có khả năng tăng cao doanh thu

dưới 35 tuổi, 61% người dùng Internet từng thực hiện mua sắm qua mạng. Riêng
năm 2012, Việt Nam có thêm 1,59 triệu người dùng mới
Hình 1.2. Biểu đồ tăng trưởng số người sử dụng Internet
(Nguồn: Trung tâm Internet Việt Nam)
Những con số trên cho thấy tỷ lệ người sử dụng Internet sẽ tiếp tục tăng cao
tại Việt Nam theo xu hướng sử dụng các thiết bị di động để truy cập mạng. Đây là
những tín hiệu tốt cho những nhà bán lẻ điện tử, dự báo về một thời kì mới của bán
lẻ điện tử tại Việt Nam.
14
Nhà bán lẻ điện tử cần phải nghiên cứu và hiểu biết mọi điều cần thiết về
khách hàng tiềm năng. Ai sẽ là khách hàng tiềm năng đối với các sản phẩm của nhà
bán lẻ điện tử? Nhà bán lẻ điện tử sẽ định hướng tới dải khách hàng rộng lớn hay
phân khúc thị trường hẹp? Phần lớn khách hàng của anh có cái gì? Liệu khách hàng
của anh có cần đến sản phẩm của anh không? Liệu có cần tuyên truyền phổ biến
cho họ về giá trị cũng như sự tồn tại của sản phẩm đó không? Liệu họ có phải là các
khách hàng mua lặp lại nhiều lần không, hay sản phẩm của anh chỉ cần mua một lần
trong đời?
Việc nghiên cứu các vấn đề như vậy giúp phân lát thị trường tiềm năng tổng
quát (trong trường hợp này là người dùng Web hiện tại và tương lai) thành nhiều
loại hình và nghiên cứu tiếp tục trong tương lai.
1.2.6. Các yếu tố của hỗn hợp (phối thức) bán lẻ điện tử
Hỗn hợp bán lẻ điện tử là từ viết gọn cho một tập hợp các công cụ và kỹ thuật
mà các nhà bán lẻ điện tử sử dụng để cung cấp giá trị cho khách hàng. Đây là sự
phát triển của marketing hỗn hợp (marketing mix), đặc thù hơn đối với bán lẻ và
bán lẻ điện tử.
Trở lại với nửa đầu của thế kỷ 20, công việc của một nhà marketing được mô
tả như “phối trộn các thành phần” (mixer of ingredients). Các nhà marketing nghĩ ra
các chiến lược và chiến thuật hướng tới cung cấp sự thỏa mãn và gia tăng giá trị cho
khách hàng. Các thành phần khác nhau được hợp lại thành marketing hỗn hợp, thuật
ngữ lần đầu tiên được Neil Borden (Đại học kinh doanh Havard) sử dụng.

các mối quan hệ khác nhau của những người muốn thiết lập cửa hàng trực tuyến: 1.
Thông tin kinh doanh cơ bản về việc thiết lập một cửa hàng Mail Order; 2. Những
điều cơ bản Làm thế nào để bán lẻ trên Website; 3. Kế hoạch cơ bản và chiến lược
thông tin đối của những nhà bán lẻ điện tử hiện tại sẽ được cung cấp trong suốt
cuốn sách, giúp độc giả thu thập kinh nghiệm, chủ yếu là từ những câu chuyện “Joe
Cataudella đã làm thế nào để xây dựng Tronix Multimedia thành một doanh nghiệp
thành công trên Web.
16
Steve Elliot, “Electronic Comerce B2C Strategies and Models”, 2002
Trên cơ sở nghiên cứu 6 nền kinh tế: Anh, Mỹ. Đan Mạch, Hy Lạp, Hồng
Kông và Úc, cuốn sách trình bày những kinh nghiệm của các doanh nghiệp hàng
đầu TMĐT B2C. Ngoài ra còn cung cấp kiến thức lập kế hoạch, thực hiện chiến
lược để đạt được thành công trong kinh doanh TMĐT. Bằng cách sử dụng bảng
biểu, đồ thị, biểu đồ, cuốn sách cung cấp một kế hoạch chi tiết cho 3 giai đoạn quan trọng
nhất của quá trình sản xuất: quản tri trước khi đặt hàng, phân phối và sau đặt hàng.
1.3.2. Một số công trình nghiên cứu khoa học về mô hình bán lẻ điện tử tại
Việt Nam trong những năm gần đây
Bài giảng: Nguyễn Văn Minh, “Quản trị tác nghiệp thương mại điện tử
B2C”, 2008.
Đây là tập bài giảng cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về thương mại điện
tử B2C và quản trị hoạt động tác nghiệp kinh doanh của doanh nghiệp thương mại
điện tử B2C. Những nội dung chính được nói đến trong bài giảng bao gồm: tổng
quan về bán lẻ điện tử và thương mại điện tử B2C, hoạch định tác nghiệp B2C và
quản trị website bán lẻ điện tử, kế hoạch mặt hàng và kỹ thuật bán hàng trong bán lẻ
điện tử, quản trị bán hàng trong thương mại điện tử B2C, quản trị dịch vụ khách
hàng và quan hệ khách hàng trong thương mại điện tử B2C, theo dõi và kiểm tra tác
nghiệp B2C.
Bài viết “Phát triển các mô hình kinh doanh TMĐT B2C và B2B” năm
2006 – Trần Hoài Nam – Hội thảo khoa học quốc tế - Đại học Thương Mại.
Bài viết đã chỉ rõ tầm quan trọng và xu hướng phát triển tất yếu của loại hình

câu hỏi được chuẩn bị trước bằng văn bản theo nội dung xác định, người được hỏi
sẽ trả lời bằng cách viết trong một thời gian nhất định.
Cách thức tiến hành: Lập bảng câu hỏi diều tra gồm 13 câu hỏi. Các câu hỏi
đưa ra dễ hiểu, đơn giản, dễ trả lời. Các câu hỏi gắn liền với vấn đề hoàn thiện mô
hình bán lẻ điện tử của công ty. Số lượng phiếu đưa ra là 15 phiếu. Số phiếu này
được phát cho toàn bộ cán bộ công nhân viên trong Công ty. Tiếp đó là đi thu thập
các phiếu điều tra này để tổng hợp kết quả.
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép điều tra, thăm dò ý kiến đồng loạt nhiều
người. Sử dụng phương pháp này giúp cho việc tổng hợp, thống kê, xử lý các thông
tin thu thập được dễ dàng, thuận tiện. Câu trả lời không bị ảnh hưởng lẫn nhau,
nhanh chóng, ít tốn kém.
Nhược điểm: Phương pháp này chỉ cho những thông tin về nhận thức, thái độ
của đối tượng điều tra chứ chưa cho biết hành động của họ, thiếu tính xác thực.
Mang tính chủ quan của người được phát phiếu điều tra.
Phương pháp phỏng vấn: là phương pháp dùng một hệ thống câu hỏi miệng
để người được phỏng vấn trả lời bằng miệng nhằm thu được những thông tin nói lên
19
nhận thức hoặc thái độ của cá nhân họ đối với một sự kiện hoặc vấn đề được hỏi.
Đây là hình thức điều tra giữa cá nhân – cá nhân, thường được sử dụng trong giai
đoạn đầu khi mới làm quen với khách thể. Khi đó người điều tra phỏng vấn một vài
cá nhân chủ yếu để thăm dò, phát hiện vấn đề, chuẩn bị cho hệ thống câu hỏi điều
tra.
Cách thức tiến hành: Chuẩn bị 7 câu hỏi phỏng vấn có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu. Sau đó, gặp trực tiếp nhân viên của công ty để tiến hành phỏng vấn.
Đối tượng phỏng vấn: Bà Lê Thị Hồng Hạnh, Giám đốc Công ty Cổ phần
Dịch vụ Du Lịch Thương mại Bình An
Ưu điểm: Phương pháp này có thuận lợi là dễ tiến hành, ít thời gian và trực
tiếp cho ngay thông tin cần thiết. Người phỏng vấn không những có thể đưa ra
nhiều câu hỏi hơn mà có thể bổ sung nhiều kết quả nói chuyện bằng cách quan sát
trực tiếp

đến cực kỳ phức tạp, hỗ trợ việc nhập khẩu dữ liệu tử nhiều nguồn khác nhau, trở
thành công cụ báo cáo và phân tích số liệu quả thông qua giao diện mới và các chức
năng Pivot, đồ thị… được nâng cấp toàn diện.
2.1.2.2. Phương pháp định tính
Nghiên cứu định tính là một phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả và
phân tích đặc điểm văn hóa và hành vi của con người và của nhóm người từ quan
điểm của nhà nghiên cứu. Nghiên cứu định tính cho phép các nghiên cứu viên hạn
chế các sai số ngữ cảnh bằng cách sử dụng các kỹ thuật phỏng vấn và tạo ra môi
trường phỏng vấn mà trong đó đối tượng cảm thấy thoải mái nhất.
Một số phương pháp định tính mà tác giả sử dụng là phương pháp diễn dịch và
tổng hợp quy nạp để phân tích dữ liệu thu thập được qua phỏng vấn chuyên gia và
dữ liệu thứ cấp. Trong đó, phương pháp diễn dịch là phương pháp từ quy tắc đưa ra
ví dụ cụ thể, rất hữu ích để kiểm định lý thuyết và giả thuyết. Mục đích của phương
pháp này là đi đến kết luận. Kết luận nhất thiết phải đi theo lý do cho trước. Các lý
do này thể hiện qua kết luận và thể hiện qua các chứng minh cụ thể. Phương pháp
tổng hợp quy nạp là phương pháp tổng hợp tập trung trình bày các dữ kiện và giải
21
thích chúng theo căn nguyên. Sau đó, bằng phương pháp quy nạp quy nạp đưa ra sự
liên quan giữa các dữ kiện và tạo thành quy tắc.
Qua hai phương pháp phân tích dữ liệu định tính này giúp tác giả có cái nhìn
rõ hơn về mối tương quan giữa lý thuyết và thực tế, ứng dụng lý thuyết trong thực
tế một cách hiệu quả.
2.2. ĐÁNH GIÁ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC
NHÂN TỐ MÔI TRƯỜNG ĐẾN QUY TRÌNH BÁN LẺ ĐIỆN TỬ
2.2.1. Giới thiệu Công ty Cổ phần Dịch vụ Du Lịch Thương mại Bình An
Tên đầy đủ: Công ty Cổ phần Dịch vụ Du lịch
Thương mại Bình An
Tên tiếng Anh: Binh An Commercial Tourist
Service Joint Stock Company
Tên viết tắt: BINH AN TRAVEL

(Nguồn: Phòng Hành chính – Kế toán)
Bảng 2.3. Trình độ chuyên môn của nhân sự trong công ty
STT Chuyên môn Số người Tỷ lệ (%)
1 Kinh tế 4 33,33
2 Kế toán 3 25
3 Du lịch 3 25
4 CNTT 2 16,67
(Nguồn: Phòng hành chính – Kế toán)
23
Công ty hiện có một hệ thống 10 máy tính được kết nối internet tốc độ cao
đảm bảo cho mọi hoạt động kinh doanh diễn ra suôn sẻ, các máy trạm đều được kết
nối mạng LAN thuận tiện cho việc giao tiếp với khách hàng, trao đổi thông tin trông
nội bộ công ty. Mỗi nhân viên của công ty đều được trang bị máy điện thoại, máy
tính nối mạng internet phục vụ cho công việc của mỗi cá nhân, tất cả các máy tính
trong công ty từ hệ điều hành cũng như phần mềm ứng dụng đều được mua bản
quyền.
Năm 2012 đánh dấu sự ra đời của website www.binhantravel.vn, đây là dấu
mốc cho sự bắt đầu của các hoạt động thương mại điện tử của doanh nghiệp. Trước
đây ngoài việc đặt và giữ vé máy bay trực tuyến, sử dụng hệ thống email chung để
trao đổi và ký kết hợp đồng với khách hàng, các hoạt động khác đều được tiến hành
một cách truyền thống. Từ khi www.binhantravel.vn ra đời đã hỗ trợ rất nhiều cho
hoạt động kinh doanh của công ty. Khách hàng có thể xem và đặt các dịch vụ của
Binh An Travel trực tiếp trên website sau đó các nhân viên của họ sẽ nhận thông tin
và liên lạc lại với khách hàng. Tuy chưa tích hợp được thanh toán trên website
nhưng đây cũng là sự khởi đầu cho việc áp dụng mô hình bán lẻ điện tử trên website
www.binhantravel.vn của công ty.
Hình 2.1. Giao diện trang chủ website www.binhantravel.vn
24
Các tính năng chính của website:
Xem sản phẩm, dịch vụ: khách hàng truy cập vào website theo địa chỉ

dịch điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước và trong lĩnh vực dân sự, kinh
doanh, thương mại. Trong khi đó Luật Công nghệ thông tin quy định chung về hoạt
động ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin cùng những biện pháp bảo đảm hạ
tầng công nghệ cho các hoạt động này.
Năm 2012 là năm có nhiều thay đổi trong hệ thống pháp luật liên quan tới lĩnh
vực TMĐT. Nghị định về Chống thư rác và Nghị định về Chữ ký số được sửa đổi
bổ sung, trong đó Nghị định về Chống thư rác sửa đổi một cách khá toàn diện. Hai
văn bản cốt lõi khác của Hệ thống pháp luật TMĐT là Nghị định về TMĐT và Nghị
định về Internet cũng đang chuẩn bị được thay thế.
Hình 2.2. Khung pháp lý choTMĐT năm 2012
(Nguồn: Báo cáo TMĐT năm 2012)
• Môi trường kinh tế
Kinh tế - xã hội nước ta ba tháng đầu năm 2013 diễn ra trong bối cảnh kinh tế
thế giới tiếp tục chịu ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhất là khu vực đồng Euro và

Trích đoạn Dự báo tình hình trong thời gian tớ Nhóm giải pháp về đội ngũ nhân sự Nhóm giải pháp hoàn thiện hỗ trợ khách hàng và thanh toán điện tử Nhóm giải pháp nhằm thu hút khách hàng Tiếp tục phát triển và đào tạo chính quy chuyên ngành thương mại điện tử
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status