Cải cách kinh tế ở Ấn Độ và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
- - -    - - - TRẦN THÙY PHƯƠNG
CẢI CÁCH KINH TẾ Ở ẤN ĐỘ
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM
ĐỐI VỚI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ HÀ NỘI - 2005


Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐỖ ĐỨC ĐỊNH
Hà Nội - 2005
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ADB
Asian Development Bank - Ngân hàng Phát triển Châu Á
AFTA
ASEAN Free Trade Area - Khu vực thương mại tự do
ASEAN
ASEAN
Association of SouthEast Asian Nations - Hiệp hội các quốc
gia Đông Nam Á
BIMST-EC
Bangladesh, India, Myanma, SriLanka, Thailand - Economic
Cooperation - Tổ chức hợp tác kinh tế vùng vịnh Bengal
DAEs
Dynamic Asian Economies - Các nền kinh tế năng động ở
Châu Á
EOUs
Export Oriented Units - Các đơn vị hướng về xuất khẩu
EPIPs

SEZs
Special Economic Zones - Các đặc khu kinh tế
STP
Software Technology Park - Khu công nghệ phần mềm
TNC
Transnational Company - Công ty xuyên quốc gia
UNCTAD
United Nations Conference on Trade and Development - Hội
nghị Liên Hợp Quốc về thương mại và phát triển.
WB
World Bank - Ngân hàng Thế giới
WTO
World Trade Organization - Tổ chức Thương mại Thế giới
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
TMĐT
Thương mại điện tử
XTTM
Xúc tiến thương mại MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CẢI
CÁCH KINH TẾ Ở ẤN ĐỘ
5
1.1.
Quá trình hình thành quan điểm phát triển ở các nƣớc

ĐỘ
38
2.1.
Nội dung cơ bản của tiến trình cải cách kinh tế ở Ấn Độ
38
2.1.1.
Cải cách chế độ sở hữu và phương thức điều tiết nền kinh tế
38
2.1.2.
Quá trình lựa chọn cơ cấu ngành
41
2.1.3.
Cải cách chính sách kinh tế đối ngoại
62
2.2.
Đánh giá tiến trình cải cách kinh tế ở Ấn Độ
77
2.2.1.
Những thành tựu tăng trưởng trong bối cảnh hội nhập quốc tế
77
2.2.2.
Tổng quát về sự lựa chọn chính sách, chiến lược và triển
vọng phát triển kinh tế Ấn Độ
81

 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2
86
CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG NHỮNG KINH NGHIỆM
CỦA ẤN ĐỘ ĐỂ GÓP PHẦN ĐẨY NHANH CÔNG
CUỘC ĐỔI MỚI NỀN KINH TẾ Ở VIỆT NAM

104
3.2.3.
Kinh nghiệm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
106
3.3.
Định hƣớng vận dụng những bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam
108
3.3.1.
Định hướng chiến lược phát triển ngoại thương Việt Nam
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
109
3.3.2.
Định hướng phát triển công nghệ phần mềm trong quá trình
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
115
3.3.3.
Định hướng cho hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
119

 KẾT LUẬN CHƢƠNG 3
123
KẾT LUẬN
127
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
130

nền kinh tế nhưng vẫn chưa đạt được những kết quả mong muốn.
Vì thế tháng 7 năm 1991, Chính phủ Ấn Độ thực hiện một bước chuyển
biến lớn trong đường lối phát triển kinh tế xã hội, tiến hành cải cách toàn diện
nền kinh tế; điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô và cơ cấu kinh tế từ tập trung, quan
2
liêu, bao cấp, đóng cửa sang tự do hóa và mở cửa, phát triển năng động, nâng
cao khả năng cạnh tranh, từng bước hội nhập khu vực và quốc tế. Ấn Độ
chính thức công bố cải cách kinh tế năm 1991, đánh dấu sự chuyển hướng
theo chiến lược tự do hóa và hướng ngoại. Quá trình này diễn ra tuy chậm
nhưng đã đạt một số thành công và mô hình Ấn Độ đã thu hút rất nhiều sự
quan tâm của quốc tế.
Việc nghiên cứu Ấn Độ - một quốc gia đang trong quá trình cải cách và
đang dành được sự chú ý của quốc tế về khả năng kinh tế - có ý nghĩa rất
quan trọng. Những gì Ấn Độ đã làm được và chưa làm được, những gì Ấn Độ
đã thành công và chưa thành công trong cải cách kinh tế là một kinh nghiệm
bổ ích cho Việt Nam tham khảo trong thời kỳ đổi mới và phát triển kinh tế đất
nước. Hơn nữa, ngoài mục tiêu tìm hiểu và học hỏi thì nghiên cứu Ấn Độ để
phát triển quan hệ hợp tác cũng là một mục đích quan trọng mà Việt Nam
hướng tới trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu
Các tạp chí quốc tế đã có nhiều bài viết về kinh tế Ấn Độ, đó là:
Nirviker Singh (10/2002),“Miracles and Reform in India: Policy
Reflections”, ASIAN survey, No 5.
Rafiq Dossani (2002), “Creating an Environment for Venture Capital in
India”, World Development, Vol 30, No 2.
Ở Việt Nam, cũng có một số bài nghiên cứu về kinh tế Ấn Độ đăng trên
các báo, các tạp chí. Có thể điểm ra một số bài viết như:

trong quá trình đổi mới, phát triển kinh tế và trong quan hệ hợp tác Việt
Nam - Ấn Độ.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Quá trình cải cách kinh tế ở Ấn Độ
4
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung vào những chính sách cải
cách kinh tế Ấn Độ cũng như những thành tựu và hạn chế của Ấn Độ trong
quá trình cải cách. Từ đó, luận văn sẽ đề cập đến những vấn đề mà Việt Nam
có thể tham khảo từ công cuộc cải cách kinh tế ở Ấn Độ.
Về phạm vi thời gian, luận văn chủ yếu tập trung vào thời kỳ cải cách
từ 1991 đến nay. Tuy nhiên, luận văn cũng đề cập đến giai đoạn trước cải
cách bởi nó là cơ sở để đánh giá đầy đủ hơn quá trình phát triển kinh tế của
Ấn Độ.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu như phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp phân tích, diễn dịch, tổng
hợp, thống kê, so sánh.
6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
Đưa ra những đánh giá hệ thống về công cuộc cải cách kinh tế ở Ấn
Độ.
Đề xuất một số ý kiến tham khảo cho Việt Nam trong quá trình đổi mới
và phát triển nền kinh tế
Góp phần nghiên cứu quá trình thúc đẩy giao lưu hợp tác giữa Việt
Nam và Ấn Độ.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và danh mục Tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn được sắp xếp thành 3 chương.

kinh tế học phát triển tập trung vào hai loại lý thuyết chủ yếu nối tiếp nhau, đó
là “Chủ nghĩa Cấu trúc” và “Thuyết Tự do mới”. Các lý thuyết này một phần
vẫn chịu ảnh hưởng từ những lý thuyết kinh điển như “Tự do cạnh tranh” và
“Lợi thế so sánh”; song bên cạnh đó, chúng đã được bổ sung thêm các quan
điểm mới cho phù hợp với tình hình thực tế. Lý thuyết “Lợi thế so sánh” thì
được bổ sung thêm những yếu tố mới về tiềm lực khoa học công nghệ; những
yếu tố liên quan đến nội lực và ngoại lực của các nước đang phát triển trong
6
đó tiêu biểu là quan điểm “tự lực cánh sinh” và “độc lập dân tộc”, đề cao vai
trò dân tộc ở các nước đang phát triển, hạn chế ảnh hưởng của tư bản nước
ngoài. Điểm nổi bật của chủ nghĩa “Tự do cạnh tranh” là việc đề cao sức
mạnh tuyệt đối từ “bàn tay vô hình” của thị trường đã nhường chỗ cho những
tư duy của trường phái Tự do mới về điều chỉnh cân đối giữa Nhà nước và thị
trường. Chủ nghĩa Cấu trúc và Thuyết Tự do mới có ảnh hưởng chi phối tới
quá trình phát triển kinh tế xã hội, đặc biệt là quá trình công nghiệp hóa ở các
nước đang phát triển.
Từ những năm 1980, khi những cuộc khủng hoảng về cơ cấu và khủng
hoảng tài chính tiền tệ nổ ra ngày càng nhiều, đã có đánh giá lại về quan điểm
lý thuyết và về chiến lược phát triển ở hầu hết các nước đang phát triển.
Những quan điểm về chính sách phát triển càng ngày càng thay đổi mạnh mẽ,
thể hiện qua các cuộc cải cách và chuyển đổi kinh tế xã hội ở các nước đang
phát triển tại Châu Á, Châu Phi.
Đến những năm 1990, các lý thuyết trên đây một lần nữa lại phải điều
chỉnh bởi quá trình toàn cầu hóa ngày càng trở nên sâu rộng cùng với sự luân
chuyển mạnh của các dòng vốn, của thương mại quốc tế; sự tiến bộ nhanh
chóng của công nghệ thông tin, của kinh tế tri thức và bởi những diễn biến
thất thường của kinh tế thế giới. Sự điều chỉnh này đã tác động mạnh đến các

vụ; +)Cơ cấu kinh tế đối ngoại liên quan đến xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư
nước ngoài; +)Cơ cấu năng suất được tính theo năng suất trong các ngành
kinh tế khác nhau; +)Cơ cấu doanh nghiệp được nghiên cứu thông qua các mô
hình và quy mô xí nghiệp; +)Cơ cấu xã hội được nghiên cứu gắn với sở hữu
và kiểm soát tài nguyên, chẳng hạn quyền kiểm soát và sở hữu đất đai.
Các nhà Cấu trúc luận chú trọng vào việc nghiên cứu những đặc điểm
cơ cấu kinh tế cốt lõi nhất, những vấn đề kinh tế, xã hội quan trọng và thiết
thực nhất của các quốc gia chậm phát triển. Do vậy, Cấu trúc luận đã ngày
càng thu hút được sự tham gia rộng rãi của các nhà khoa học xã hội, đặc biệt
8
là các nhà kinh tế học. Vì lẽ đó mà nhiều học giả đã coi Chủ nghĩa Cấu trúc
là một môn khoa học về kinh tế học phát triển.
Cấu trúc luận ra đời sau cuộc đại khủng hoảng những năm 1930, khi
con người đã mất niềm tin vào thị trường tự do truyền thống - hệ thống đã đẩy
thế giới vào cuộc đại khủng hoảng và suy thoái. Những học giả đứng đầu của
Cấu trúc luận đã phê phán lý thuyết kinh tế lúc đó chỉ bàn về sự phát triển ở
những nước công nghiệp phát triển; còn hầu như không quan tâm tới các nước
đang phát triển, không tập trung giải quyết những khó khăn của các nước này,
vì thế không thích hợp cho các nước nghèo. Chỉ có Cấu trúc luận là thực sự
muốn tìm giải pháp cho những vấn đề nan giải của các quốc gia đang phát
triển; do vậy, đã trở thành lý thuyết chính thống của các nước đang phát triển.
Cấu trúc luận ra đời vào lúc những tư tưởng của Keynes về vai trò
trung tâm của Nhà nước trong quản lý kinh tế để khắc phục “những cản trở cơ
cấu” đối với tăng trưởng kinh tế đã được thừa nhận. Do đó, phần nào nó chịu
ảnh hưởng của học thuyết Keynes là đề cao vai trò của Chính phủ trong việc
đề xướng và thực hiện các chương trình, các kế hoạch kinh tế nhằm khắc
phục những thái quá và thất bại của thị trường tự do.

nghệ cao đã trở nên ngày càng phức tạp, nhập khẩu cao hơn xuất khẩu, dẫn
đến mất cân bằng trong cán cân thanh toán. Do đó, tăng trưởng kinh tế không
cao, không xóa bỏ được tình trạng đói nghèo của nhân dân các nước đang
phát triển nói chung và nhân dân Ấn Độ nói riêng. Tình trạng này buộc Chính
phủ các nước đang phát triển trong đó có Ấn Độ phải chuyển sang chiến lược
phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu, với cơ sở lý luận là lý thuyết về Sự phụ
thuộc và thuyết Tự do mới sau này.
1.1.2.2. Lý thuyết về Sự phụ thuộc và trƣờng phái Nhu cầu cơ bản
Các quan điểm phê phán lý thuyết Cấu trúc luận được phản ánh qua ba
trường phái chính là lý thuyết về Sự phụ thuộc (Theory of dependency), quan
điểm Nhu cầu cơ bản (Basic needs) và chủ nghĩa Tự do mới. Hai xu hướng
10
đầu phát sinh từ trong nhóm Cấu trúc luận, khuynh hướng thứ ba ra đời trong
năm 1960 với nội dung cơ bản là đòi hỏi xét lại vai trò của Nhà nước, đề cao
hơn vai trò của thị trường. Khuynh hướng thứ ba ngày càng phát triển mạnh
mẽ và dần có vai trò thay thế Cấu trúc luận; nội dung này sẽ được trình bày cụ
thể trong phần “Chủ nghĩa Tự do mới”.
Trong ba trường phái trên, lý thuyết về Sự phụ thuộc phản ánh sự thay
đổi mạnh mẽ nhất trong chính tư duy của Cấu trúc luận về kinh tế đối ngoại.
Nó quay lại phê phán sự thất bại của việc thực hiện chiến lược thay thế nhập
khẩu, coi đó là yếu tố tạo ra một nền kinh tế dân tộc độc lập mà không có
“giai cấp tư bản dân tộc” lãnh đạo sự phát triển. Do đó, dẫn đến tình trạng là
các công ty xuyên quốc gia nắm giữ hầu hết các lĩnh vực năng động trong nền
kinh tế, còn các nhà công nghiệp địa phương thì bị phụ thuộc vào tư bản nước
ngoài. Các học giả của lý thuyết về Sự phụ thuộc chủ trương mở rộng quan hệ
với bên ngoài để phát triển bên trong. Tư tưởng này của họ được áp dụng
rộng rãi ở các nước đang phát triển, nhất là các nước đang phát triển ở Châu

Thực tế cho thấy, nhiều nước đang phát triển lúc bấy giờ, trong đó có
Ấn Độ, đã ủng hộ lý thuyết về Sự phụ thuộc và coi trọng mối quan hệ giữa
các nền kinh tế trên thế giới. Cũng như các quốc gia đang phát triển khác, Ấn
Độ có nhiều hạn chế, nên không có đủ khả năng thực hiện các kế hoạch phát
triển mang tính “tự lực cánh sinh”, theo nghĩa hẹp là tự mình làm lấy mọi thứ
như lúc đầu họ mong muốn khi tiến hành chiến lược Công nghiệp hóa thay
thế nhập khẩu. Đó cũng là lý do mà Ấn Độ đã cổ vũ cho trường phái lý luận
mới sau này là chủ nghĩa Tự do mới, khi trường phái này đưa ra sự cần thiết
phải mở rộng các quan hệ kinh tế quốc tế thông qua phát triển mạnh mẽ mậu
dịch quốc tế và hạn chế sự can thiệp của Nhà nước trong nền kinh tế thị
trường.
1.1.2.3. Chủ nghĩa Tự do mới
12
Khác với Cấu trúc luận nhấn mạnh tới các vấn đề mang tính đặc thù
của các nước đang phát triển, chủ nghĩa Tự do mới cổ vũ cho những quy luật
phổ biến của phát triển kinh tế. Chủ nghĩa Tự do mới là một trào lưu tư tưởng
tạo nên làn sóng kinh tế đối với các nước đang phát triển, một bước ngoặt
quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế ở các nước Châu Á, Châu Phi,
Châu Mỹ La Tinh. Chính thất bại của mô hình phát triển hướng nội (công
nghiệp hóa thay thế nhập khẩu) dựa trên cơ sở các tư tưởng của Cấu trúc luận
và phân nhánh của nó, đã làm nảy sinh một đường lối kinh tế mới. Các học
giả của chủ nghĩa Tự do mới bác bỏ quan điểm của Cấu trúc luận cho rằng
phải phát triển một lý thuyết kinh tế riêng cho các nước thuộc “thế giới thứ
ba”. Theo các học giả Tự do mới, những nguyên lý phổ biến của sự phát triển
kinh tế là giống nhau, đều có thể được áp dụng rộng rãi ở những nước phát
triển và đang phát triển.
Tư tưởng chính mà thuyết Tự do mới đưa ra là sai lệch giá cả sẽ dẫn

quả mà còn gây bất lợi cho nông nghiệp và cán cân thanh toán; lý do là chính
sách bảo hộ hàng công nghiệp cao hơn nông phẩm đã gây tổn hại cho sản xuất
nông nghiệp và nông dân. Hơn nữa, chính sách Thay thế nhập khẩu đã không
khuyến khích xuất khẩu, hạn chế nguồn thu ngoại tệ; trong khi những đòi hỏi
về nguyên liệu công nghệ cao để phát triển công nghiệp trong nước gia tăng,
dẫn đến khối lượng và giá trị nhập khẩu tích tụ ngày càng lớn, gây khan hiếm
ngoại tệ trầm trọng, cán cân thanh toán thiếu hụt, dự trữ quốc gia suy giảm,
phải tăng vay nợ của Phương Tây.
Từ những luận điểm trên, chủ nghĩa Tự do mới với tư cách là một lý
thuyết phát triển chính thống, đã có ảnh hưởng ngày càng lớn; trở thành cơ sở
lý luận cho chính sách kinh tế ở các nước đang phát triển trong những năm
70-80 của thế kỷ XX. Các học giả Tự do mới đã đề cao quan hệ trao đổi trên
thị trường thế giới và cho rằng, thị trường thế giới hoạt động tốt sẽ giúp các
14
quốc gia phân phối tốt nguồn lực của mình, khắc phục tình trạng trì trệ, cứng
nhắc của cấu trúc bên trong các nền kinh tế đang phát triển.
Quan điểm thường được các học giả Tự do mới đưa lên hàng đầu là
“sai lệch về giá sẽ dẫn đến không hiệu quả”. Theo họ, giá cả thị trường là yếu
tố quyết định sự phân phối nguồn lực, khi giá cả chệch khỏi mức thị trường tự
do, hay nói cách khác là bị sai lệch thì nền kinh tế sẽ không đạt hiệu quả. Đối
với các nước đang phát triển, giá thị trường tự do thích hợp là giá xác định
trên thị trường thế giới. Giá cả có thể bị sai lệch do độc quyền tư nhân, nhưng
trong phần lớn các trường hợp, sự sai lệch là do Chính phủ trực tiếp hoặc gián
tiếp gây ra, khi theo đuổi những mục tiêu kinh tế hoặc xã hội nào đó. Dù là do
tư nhân hay do Nhà nước, những sai lệch này đều cần phải điều chỉnh lại để
phù hợp với giá cả thị trường. Muốn vậy, rất cần các lực lượng thị trường hoạt
động trong quan hệ kinh tế quốc tế và cả trong quan hệ kinh tế của nội bộ

ngoài.
Những quan điểm trên đây của thuyết Tự do mới đã được thực hiện ở
nhiều quốc gia đang phát triển trong đó có Ấn Độ, thông qua những chính
sách do Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) soạn thảo.
Những chính sách này được gọi chung là “điều chỉnh cơ cấu” với ba hướng
cơ bản là: 1)Tự do hóa thị trường; 2)Tự do hóa mậu dịch, chuyển dịch nền
kinh tế theo hướng mở; 3)Hạn chế vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế
thông qua tư nhân hóa và cắt giảm chi tiêu Chính phủ.
Ba định hướng đó được thực hiện kết hợp với nhau để tạo ra một nền
kinh tế thị trường mở. Trên cơ sở đó, một loạt các biện pháp cụ thể đã được
áp dụng:
Để tự do hóa thị trường, người ta xóa bỏ kiểm soát giá, tự do hóa tài
chính, giảm can thiệp vào thị trường lao động.
Để tự do hóa mậu dịch, người ta xóa bỏ hạn ngạch nhập khẩu, giảm
thuế quan, áp dụng tỷ giá hối đoái thực tế.
16
Để giảm vai trò của Nhà nước, người ta thực hiện tư nhân hóa, cắt giảm
chi tiêu của Chính phủ, hạn chế sự can thiệp trực tiếp của Chính phủ vào hoạt
động của các công ty và vào hoạt động xuất nhập khẩu. Chính phủ chỉ tập
trung vào việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ công ích; phát triển cơ sở hạ
tầng kinh tế xã hội để tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường kinh doanh; kích
thích các hoạt động kinh tế đối ngoại như xúc tiến thương mại, khuyến khích
thu hút đầu tư nước ngoài.
Thuyết Tự do mới là một xu hướng phát triển của lý thuyết cổ điển về
kinh tế thị trường tự do, đề cao vai trò của các lực lượng thị trường, khắc phục
những bất cân đối trong thời gian dài do quá thiên lệch vai trò của Nhà nước.
Nó khuyến khích áp dụng các chính sách kích thích sự phát triển của thị

Chuyên môn hóa lao động theo điều kiện địa lý;
Mở rộng thị trường;
Kiểm soát và hạn chế độc quyền;
Nâng cao năng lực sản xuất;
Tạo quan hệ thiện chí và hợp tác giữa các quốc gia.
Có thể nói, đây là những cơ sở và căn cứ để chuyển hướng cho chiến
lược kinh tế của các nước đang phát triển từ hướng nội sang hướng ngoại, từ
thay thế nhập khẩu sang hướng vào xuất khẩu. Hơn nữa, trong điều kiện toàn
cầu hóa, sự chuyển hướng đó trở thành một xu thế tất yếu. Chiến lược ở các
quốc gia đang phát triển nhấn mạnh nhiều vào việc cơ cấu lại khả năng cung
ứng sản phẩm của nền kinh tế sao cho có sức cạnh tranh trên trường quốc tế.
Theo đó, họ chú trọng vào việc phải thay đổi chiến lược Thay thế nhập khẩu
bằng cách quay trở lại thị trường. Song nhất thiết cần có sự hỗ trợ của Nhà
nước để phát triển công nghệ; bởi nếu thiếu sự đổi mới trong công nghệ, thì sẽ
có nhiều rủi ro trong việc duy trì các cuộc cạnh tranh quốc tế. Chính Ấn Độ
đã đi theo hướng này trong phát triển công nghệ phần mềm và đã thành công.
Những năm gần đây, người ta càng nhận thức được rằng, cần phải làm rõ
18
phương pháp luận và thực tiễn của sự phân tách giữa hai chiến lược là công
nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu. Nếu
như trước đây, quan niệm chỉ áp dụng riêng công nghiệp hóa thay thế nhập
khẩu hoặc công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu thì nay đã cho rằng có thể
áp dụng được cả hai, hay ít nhất cũng không tuyệt đối hóa chúng với nhau.
Thực tiễn cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997-1998 đã khiến các học giả
lớn thuộc trường phái Tự do hóa phải nhìn nhận lại những hạn chế của tự do
hóa quá mức. Giờ đây, họ chỉ ra rằng, phải coi trọng nội lực để khắc phục sự
mất cân bằng do hướng ngoại thái quá, song về căn bản vẫn duy trì quan điểm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status