ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN BÍCH NGỌC
HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP XÃ HỘI
THƯỜNG XUYÊN Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. MAI THỊ THANH XUÂN
HÀ NỘI - 2011 Hà Nội - 2010
i
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
iii
DANH MỤC CÁC BẢNG
iv
DANH MỤC CÁC BIÊU ĐỒ
iv
MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
VỀ TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG XUYÊN
6
1.1. Khái niệm và vai trò của hoạt động trợ giúp xã hội
28
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRỢ GIÚP XÃ HỘI THƯỜNG
XUYÊN Ở VIỆT NAM
30
2.1. Khái quát về đối tượng và chính sách trợ giúp xã hội ở Việt Nam
30
2.1.1. Đặc điểm đối tượng trợ giúp xã hội ở Việt Nam
30
ii
2.1.2 Khái quát chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam
qua các thời kỳ
33
2.2. Thực trạng trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam từ năm 2000
đến nay
40
2.2.1. Công tác xác định đối tượng trợ giúp xã hội thường xuyên
40
2.2.2. Xác định chế độ trợ giúp và mức trợ giúp xã hội trường xuyên
49
2.2.3. Huy động nguồn lực cho hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên
52
2.3. Đánh giá chung
59
2.3.1. Những thành tựu cơ bản
59
2.3.2. Hạn chế
60
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG
78 iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Các từ viết tắt Tiếng Việt
TT
VIẾT TẮT
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
1
BLĐTBXH
Bộ Lao động – Thương binh và Xã Hội
2
CP
Chính phủ
3
DHMT
Duyên hải miền Trung
4
ĐB
Đông bắc
5
ĐBSH
Đồng bằng Sông hồng
6
ĐNB
Đông Nam Bộ
7
ĐBSCL
5
ILO
Tổ chức Lao động Quốc tế
6
UNDP
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
7
UNICEF
Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc
8
UNFPA
Quỹ dân số Liên Hợp Quốc
9
USD
Đô la Mỹ
10
WHO
Tổ chức Y tế Thế giới iv
DANH MỤC CÁC BẢNG TT
NỘI DUNG
TRANG
1
Bảng 1.1: Tiêu chuẩn bảo hộ mức sống tối thiểu cho dân cư
thành phố
Biểu đồ 2.4: Tỷ lệ dân số được trợ cấp xã hội chia theo vùng
năm 2008
48
5
Biểu đồ 2.5: Mức trợ cấp xã hội bình quân tháng giai đoạn
2000-2010
51
6
Biểu đồ 2.6: Kinh phí thực hiện trợ cấp xã hội
54
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn hai mươi năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, sự phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại cho đất nước
nhiều biến đổi sâu sắc: kinh tế tăng trưởng nhanh, thu nhập và đời sống của
nhân dân ngày càng được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, kinh tế thị trường và hội
nhập kinh tế quốc tế cũng đem đến nhiều vấn đề xã hội mới nảy sinh và ngày
càng phức tạp nhất là sự phân hóa giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội ngày
càng tăng. Một bộ phận dân cư rơi vào các hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, mà
nếu không được sự trợ giúp của xã hội thì sẽ không có khả năng ổn định cuộc
sống và hoà nhập cộng đồng.
Để khắc phục điều đó, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều thực hiện
các chính sách và biện pháp để bảo vệ hộ gia đình và cá nhân kém may mắn
trước các rủi ro giảm sút thu nhập do ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ và chăm sóc y tế
và trợ cấp gia đình nuôi con nhỏ , gọi chung là hệ thống an sinh xã hội.
Trong hệ thống an sinh xã hội, hoạt động trợ giúp xã hội là một trụ cột quan
trọng, nó tạo nên tấm lưới cuối cùng nhằm bảo vệ sự an toàn cho mọi thành
luận văn là:
- “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt
Nam”, của Mai Ngọc Cường, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
Cuốn sách đã cung cấp cái nhìn tổng quan về thực trạng hệ thống an sinh xã
hội Việt Nam hiện nay trên khía cạnh các chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo
hiểm y tế, ưu đãi xã hội, trợ giúp xã hội. Tác giả đã đánh giá chính sách trợ
giúp xã hội thường xuyên hiện hành và đưa ra một số phương hướng giải
pháp thực hiện chính sách trong tổng thể hệ thống an sinh xã hội trong thời
gian tới.
3
- “Thiết kế và triển khai các mạng lưới an sinh hiệu quả về bảo trợ xã
hội và thúc đẩy xã hội”, của Ngân hàng thế giới, Nhà xuất bản Văn hóa
Thông tin, 2008. Cuốn sách bao gồm nhiều bài nghiên cứu về kinh nghiệm
của các nước trong việc xây dựng chính sách an sinh xã hội. Các tác giả đã
cung cấp những cơ sở lý luận và nhiều bài học kinh nghiệm của các nước
trong việc xây dựng chính sách an sinh xã hội. Tuy nhiên, chưa có khuyến
nghị trực tiếp cho Việt Nam trong hoạt động trợ giúp xã hội.
- “Bảo đảm xã hội trong nền kinh tế thị trường Nhật Bản hiện nay”,
của Trần Thị Nhung, Nhà xuất bản Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2008. Công
trình đã đề cập tới vấn đề trợ giúp xã hội của Nhật Bản cho bà mẹ, trẻ em,
người già. Mặc dù, tác giả chưa đề cập đến bài học kinh nghiệm của Nhật Bản
nhưng những phân tích của tác giả là cơ sở để chúng tôi rút ra những bài học
kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam.
-“Hệ thống an sinh xã hội của liên minh Châu Âu và bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam”, của Viện khoa học xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu
châu Âu, Nhà xuất bản khoa học xã hội, Hà Nội, 2008. Nội dung chính của
cuốn sách là trình bày 3 mô hình an sinh xã hội của châu Âu, từ đó đã rút ra
một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc xây dựng mô hình an
sinh xã hội, trong đó trợ giúp xã hội là một trụ cột chính.
trạng hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt Nam hiện nay; Đề xuất
một số giải pháp đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp xã hội
thường xuyên trong 5 năm tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động trợ giúp xã hội trong
đó tập trung vào hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên đối với các đối
tượng gặp phải hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà bản thân và gia đình họ
không thể tự lo liệu cuộc sống tối thiểu hàng ngày. 5
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Trợ giúp xã hội thường xuyên có rất nhiều hình thức ở
nhiều quốc gia. Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi chỉ tập trung nghiên
cứu hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên của Việt Nam và một số nước
như Nhật Bản, Trung quốc để rút ra những bài học kinh nghiệm.
+ Về thời gian: nghiên cứu từ 2000 đến nay và một số định hướng cho
thời gian đến 2015.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp cơ bản mà luận văn sử dụng là phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; phương pháp của Kinh tế chính trị Mác-
Lênin. Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp khác như: thống kê - so
sánh, phân tích - tổng hợp và lôgic - lịch sử.
6. Đóng góp của luận văn
- Làm rõ hơn sự cần thiết của hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên đối
với các đối tượng yếu thế trong xã hội.
- Đánh giá thực trạng hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên ở Việt
Nam và chỉ rõ các vấn đề đặt ra cần giải quyết.
- Đề xuất một số giải pháp để hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên có ý
nghĩa thiết thực hơn.
người bị thiên tai địch họa,…
Hệ thống an sinh xã hội có ba hợp phần chính sau đây:
- Các chính sách, chương trình mang tính chất phòng ngừa rủi ro. Đây
được coi là tầng trên của hệ thống an sinh xã hội, vai trò của tầng này là
hướng tới can thiệp và bảo vệ toàn bộ dân cư, giúp cho dân cư có được việc
làm, thu nhập để có được năng lực vật chất cần thiết nhằm đối phó một cách
tốt nhất rủi ro, hạn chế rủi ro và tự bảo vệ mình trước rủi ro. Nội dung quan
7
trọng của hợp phần này là các chính sách, chương trình ở tầm vĩ mô và trung
mô cho cả nền kinh tế và cho cả toàn xã hội như chính sách và chương trình
thị trường lao động; chương trình phòng ngừa tai nạn thương tích; phòng
chống HIV/AIDS, phòng ngừa thảm hoạ thiên tai đối với con người.
- Các chính sách, chương trình mang tính chất giảm thiểu rủi ro. Đây
được coi là tầng thứ hai của hệ thống an sinh xã hội. Tầng này có vị trí đặc
biệt quan trọng khi rủi ro xảy ra sẽ hướng tới bao phủ toàn bộ dân cư vì trong
cuộc đời không ai biết trước được rủi ro khi nào và ai sẽ không gặp rủi ro.
Trên thực tế mức độ bao phủ của nó hẹp hơn tầng thứ nhất và hướng trực tiếp
vào những thành viên xã hội gặp rủi ro và gián tiếp chịu hậu quả của rủi ro
như người thất nghiệp, người thiếu việc làm… Các chính sách và giải pháp
của Nhà nước bảo vệ người dân là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm
thất nghiệp.
- Các chính sách, chương trình mang tính chất khắc phục rủi ro. Đây
được coi là tầng cuối cùng của hệ thống an sinh xã hội nhằm bảo vệ an toàn
cho các thành viên xã hội khi họ gặp phải rủi ro mà bản thân họ không tự
khắc phục được, để họ không phải rơi vào cảnh bần cùng. Các chính sách và
giải pháp an sinh xã hội bảo vệ người dân là chương trình giảm nghèo, trợ
giúp xã hội. Trợ giúp xã hội là hình thức an sinh xã hội mang tính xã hội cao
nhất vì đây là hình thức không đòi hỏi người hưởng trợ cấp phải nộp bất cứ
một khoản đóng góp nào. Khác với các hình thức bảo hiểm là có đóng -
1.1.1.2. Phân loại trợ giúp xã hội
Căn cứ vào mức độ và tính chất của sự trợ giúp, trợ giúp xã hội được
chia thành hai loại: trợ giúp xã hội thường xuyên và trợ giúp xã hội đột xuất.
- Trợ giúp xã hội thường xuyên là hình thức trợ giúp xã hội đối với
những người hoàn toàn không thể tự lo được cuộc sống trong một thời gian
dài hoặc trong suốt cả cuộc đời của đối tượng được trợ giúp.
9
Đối tượng xã hội khó khăn rất nhiều, song không phải tất cả đều được
trợ giúp xã hội thường xuyên, mà chỉ có những người rơi vào hoàn cảnh đặc
biệt khó khăn nhưng bản thân và gia đình họ không thể tự lo liệu được cuộc
sống ở mức tối thiểu hàng ngày, không đảm bảo được nhu cầu cơ bản của con
người mới được hưởng trợ cấp trợ giúp xã hội thường xuyên.
Đối tượng của chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên thường gồm:
người già không nơi nương tựa, không có nguồn thu nhập; Trẻ em mồ côi
không có người nuôi dưỡng, trẻ em trong gia đình quá nghèo bố mẹ không thể
nuôi sống được; Người tàn tật do nhiều nguyên nhân khác nhau, không thể tự
lao động được để tạo ra thu nhập hoặc không có nguồn sinh sống nào khác….
- Trợ giúp xã hội đột xuất là hình thức trợ giúp xã hội do Nhà nước và
cộng đồng giúp đỡ những người không may bị thiên tai, mất mùa hoặc những
biến cố khác mà đời sống của họ bị đe doạ về lương thực, nhà ở, chữa bệnh,
chôn cất và phục hồi sản xuất cần có sự giúp đỡ khẩn cấp. Nếu trợ giúp xã hội
thường xuyên diễn ra trong một thời gian dài, hay người nhận trợ cấp được
nhận sự trợ giúp xã hội đều đặn, liên tục, thì người nhận trợ giúp xã hội đột
xuất chỉ được hưởng một lần khi các biến cố đột ngột xuất hiện trong đời
sống của họ.
Đối tượng được trợ giúp xã hội đột xuất là những người hoặc hộ gia
đình khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc những lý do bất khả kháng như: hộ
gia đình có người bị chết, mất tích; Hộ gia đình có nhà ở bị đổ, sập, trôi, cháy,
hỏng nặng; Hộ gia đình mất phương tiện sản xuất, lâm vào cảnh bị thiếu đói;
có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trong việc tạo nguồn thu nhập, hoặc bị phân
biệt đối xử nên khó có khả năng tạo nguồn thu nhập tốt như người cao tuổi,
người khuyết tật, những người nghèo…. để họ không rơi vào đói nghèo, loại
bỏ những hình thức tồi tệ nhất của sự bần cùng, nghèo đói.
11
Nhờ có sự trợ giúp xã hội thường xuyên mà những gia đình và cá nhân
phải đối mặt với những cú “sốc”, có thể vượt qua được rủi ro, mất mát. Sự
phát triển của hệ thống trợ giúp xã hội thường xuyên đã tạo điều kiện cho các
gia đình và cá nhân vượt qua những rủi ro về thu nhập trong cuộc sống, vươn
lên hòa nhập với cộng đồng.
1.1.2.2. Làm giảm sự bất bình đẳng xã hội và nghèo đói
Trợ giúp xã hội thường xuyên đóng góp lớn trong việc tạo ra điều kiện
để xây dựng môi trường chính trị xã hội bền vững. Trợ giúp xã hội thường
xuyên là một trong những cấu phần quan trọng trong chính sách xã hội của
một quốc gia và là công cụ quản lý nhà nước thông qua hệ thống luật pháp,
chính sách và các chương trình. Trợ giúp xã hội thường xuyên cũng là công
cụ quan trọng để nhà nước thực hiện phân phối lại lợi ích từ tăng trưởng kinh
tế đến mọi người dân, gồm cả nhóm xã hội trước kia bị gạt ra ngoài lề nên
làm giảm tình trạng mất trật tự về chính trị và xã hội.
Mục đích của trợ giúp xã hội thường xuyên là giữ gìn sự ổn định về xã
hội - kinh tế- chính trị của đất nước, mà quan trọng hàng đầu là ổn định xã
hội, nên nó đã làm giảm sự bất bình đẳng xã hội, bất bình đẳng về giới, phân
hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội; tạo nên sự đồng thuận giữa các giai tầng xã
hội, giữa các nhóm xã hội trong quá trình phát triển.
Sự trợ giúp xã hội thường xuyên đúng lúc, đúng lượng sẽ có vai trò to
lớn trong việc giảm nghèo, thu hẹp bất bình đẳng xã hội, không chỉ ở hiện tại,
mà cả ở tương lai. Nghèo đói là nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy dinh
dưỡng, nhất là đối với trẻ em. Trợ giúp xã hội thường xuyên cho trẻ em làm
giảm tình trạng suy dinh dưỡng trẻ em, bảo vệ thế hệ tương lai của đất nước.
xã hội.
Hoạch định chính sách là bước khởi đầu trong chu trình chính sách. Đây là
bước đặc biệt quan trọng. Hoạch định chính sách đúng đắn, khoa học sẽ xây dựng
được chính sách tốt, là tiền đề để chính sách đó đi vào cuộc sống và mang lại hiệu
13
quả cao. Ngược lại, hoạch định sai sẽ cho ra đời những chính sách không phù hợp
với thực tế, thiếu tính khả thi, do đó sẽ mang lại hậu quả không mong muốn trong
quá trình quản lý. Những tổn hại này không chỉ tạm thời, cục bộ, mà nó ảnh
hưởng lâu dài, liên quan tới nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau.
Việc hoạch định chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên phải xuất
phát từ nhu cầu thực tế của các thành viên trong xã hội cần được bảo vệ trước
các nguy cơ bị rủi ro mà họ không tự bảo vệ được. Việc tham gia vào các
chính sách trợ giúp xã hội là quyền lợi của các thành viên trong xã hội. Mọi
người dân đều có quyền được hưởng trợ giúp từ cộng đồng khi họ gặp rủi ro bị
lâm vào cảnh bần cùng không có khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày
cho bản thân và gia đình.
Hoạch định một chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên phải tuân thủ
các nguyên tắc cơ bản sau:
+ Phát huy được sức mạnh tổng hợp của Nhà nước, cộng đồng và sự
vươn lên của các đối tượng được trợ giúp;
+ Hoạt động trợ giúp xã hội phải phù hợp với điều kiện cụ thể của địa
phương cũng như của đất nước nói chung. Cơ sở để thực hiện trợ giúp xã hội
là sự tăng trưởng, phát triển kinh tế, năng suất lao động xã hội;
+ Kế hoạch hoá công tác trợ giúp xã hội, cân đối trong kế hoạch chung
của địa phương;
+ Mỗi nhóm đối tượng trợ giúp xã hội có yêu cầu được giúp đỡ khác
nhau, do vậy phải nắm được nhu cầu thiết yếu của các nhóm đối tượng để có
phương thức giúp đỡ có hiệu quả nhất, bảo đảm công bằng xã hội, an toàn xã
hội.
chí xác định đối tượng mang tính phổ cấp bao quát toàn bộ người nghèo cần
được trợ giúp. Hiện nay trên thế giới các nước có điều kiện kinh tế- xã hội
phát triển thì chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên có thiên hướng theo mô
15
hình chính sách phổ cập, đối tượng được trợ giúp khá rộng rãi. Các nhóm này
bao gồm người di cư ở thành thị, dân tộc thiểu số, những người dân nghèo đói
liên miên, đối tượng rất dễ bị tổn thương (người già cô đơn, người tàn tật, trẻ
em mồ côi), những người bị thiệt hại trước những biến cố đột xuất của tự
nhiên và xã hội. Ví dụ như Nam Phi tất cả những người từ 65 tuổi trở lên
không có thu nhập đều được hưởng trợ cấp xã hội, hoặc tất cả trẻ em trong
các gia đình thu nhập thấp và tất cả người khuyết tật không có khả năng lao
động đều được hưởng trợ cấp xã hội. Hồ sơ xin được trợ cấp chỉ cần có đơn
xin trợ cấp kèm theo tài liệu minh chứng là chứng minh thư nhân dân để xác
định độ tuổi và giấy xác nhận gia đình thu nhập thấp (đối với trẻ em sống
trong gia đình thu nhập thấp) hoặc giấy xác nhận không còn khả năng lao
động (đối với người khuyết tật); Độ bao phủ đối tượng tượng hưởng trợ cấp
so với dân số các nước này thường ở mức cao từ 3 đến 3,5% dân số. Vì đối
tượng hưởng trợ cấp đông nên mức trợ cấp thường thấp không gắn với bảo
đảm mức sống tối thiểu, mặc dù tổng kinh phí chi trợ cấp xã hội hàng năm
vẫn rất lớn.
Chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên mang tính chất mục tiêu:
Ngược lại với mô hình chính sách phổ cập, mô hình chính sách mục tiêu có
tiêu chí xác định đối tượng phức tạp hơn, thường gắn với những điều kiện
nhất định (nghèo) và chỉ tập trung vào nhóm khó khăn nhất không tự bảo đảm
được cuộc sống; chi phí bộ máy quản lý tốn kém hơn, độ rò rỉ đối tượng cao
hơn; độ bao phủ cũng thấp hơn khoảng 1,5-2,5% so với dân số. Nhưng ưu
điểm của mô hình này là mức trợ cấp xã hội cho nhóm đối tượng mục tiêu
thường bảo đảm mức sống tối thiểu, cao hơn trợ cấp xã hội mang tính phổ
cập; tổng kinh phí chi trợ cấp xã hội hàng năm thường thấp hơn mô hình
không nơi nương tựa. Đó là những người từ 60 tuổi trở lên sống độc thân,
hoặc còn vợ/chồng nhưng không có con cháu, người thân thích trông nom,
17
không có nguồn thu nhập nào sẽ được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên.
Ngoài ra, những người già trên từ 85 tuổi trở lên không có trợ cấp bảo hiểm
cũng được hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên.
Trẻ em mồ côi, trẻ bị nhiễm HIV, trẻ em nghèo
Các nước thường có chính sách trợ cấp tiền mặt và trợ cấp hiện vật có
điều kiện hoặc không có điều kiện, miễn phí khám chữa bệnh và miễn học phí
dành cho trẻ em mồ côi, trẻ bị nhiễm HIV, trẻ em nghèo. Nhà nước hỗ trợ trẻ
em trên thông qua việc hỗ trợ tiền mặt thêm chi phí đảm bảo cuộc sống lâu
dài cho gia đình nhận nuôi dưỡng các em tại gia đình. Đặc biệt đối với những
trẻ em mồ côi không người nuôi dưỡng thì được nuôi dưỡng trong các cơ sở
xã hội.
Trợ giúp xã hội cho người tàn tật
Người tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể
hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả
năng lao động, khiến họ gặp nhiều khó khăn trong lao động, sinh hoạt, học
tập, vì vậy họ cũng là đối tượng cần được trợ giúp xã hội. Tùy theo hoàn cảnh
cụ thể của từng người mà được xét hỗ trợ tại cộng đồng hoặc nuôi dưỡng tại
các cơ sở bảo trợ xã hội. Những người còn có gia đình, người thân, có khả
năng chăm sóc thì được Nhà nước hỗ trợ tiền mặt chăm sóc tại nhà. Những
người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn thì được nuôi dưỡng tại các cơ sở xã
hội (người tàn tật nặng không có người thân, người có người thân nhưng đã
già yếu không có khả năng chăm sóc…)
1.2.3. Xác định mức trợ giúp
Xác định mức trợ giúp xã hội thường xuyên là việc quan trọng trong chính
sách trợ giúp xã hội thường xuyên của mỗi quốc gia. Đó là vì, nếu xác định một
mức trợ cấp quá thấp sẽ có ít tác động đến đối tượng được trợ giúp, còn ngược lại,
19
hợp với tình hình biến động của giá cả; Có sự đồng thuận của nhà nước, các tổ
chức và chính người hưởng lợi từ chính sách.
1.2.4. Nguồn lực thực hiện trợ giúp xã hội thường xuyên
Một vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc giúp đỡ những thành
viên của xã hội khi bị rủi ro, bất hạnh trong cuộc sống, đó là việc tạo nguồn lực
tài chính. Đối với tất cả các nước, nguồn lực trợ giúp xã hội thường được lấy từ
ngân sách nhà nước, từ các tổ chức và cá nhân trong nước, các tổ chức quốc
tế, trong đó chủ đạo là nguồn lực từ ngân sách nhà nước.
- Nguồn lực từ ngân sách Nhà nước:
Hàng năm, các nước đều trích một phần ngân sách để trợ giúp xã hội cho
các đối tượng nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội của Nhà nước và hỗ trợ
nuôi dưỡng tại gia đình, cộng đồng thông qua một cơ quan quản lý của nhà
nước và cấp cho các địa phương trực tiếp chi cho các đối tượng đó.
Nguồn lực này nhiều hay ít phụ thuộc vào quy mô ngân sách của mỗi
nước và chính sách trợ giúp xã hội thường xuyên của nước đó trong từng thời
kỳ cụ thể. Nhìn chung, tỷ lệ chi ngân sách cho trợ giúp xã hội thường xuyên
của các nước phát triển thường lớn hơn các nước đang phát triển.
Thông thường, Nhà nước đảm bảo trợ cấp cho các đối tượng nuôi dưỡng
tại các trung tâm bảo trợ xã hội của Nhà nước (như tiền trả cho các nhân viên
làm việc tại các cơ sở này, đầu tư xã hội cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các
cơ sở). Với các đối tượng được nuôi dưỡng tại gia đình hay cộng đồng, tài
chính chi trả chế độ cho những đối tượng này được cân đối trong ngân sách
nhà nước cấp cho các địa phương.
- Nguồn lực từ các tổ chức, cá nhân
Các tổ chức đoàn thể, hiệp hội, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức từ
thiện, cá nhân cũng tham gia vào hoạt động trợ giúp xã hội góp phần thúc đẩy
và mở rộng tính xã hội và đa dạng hoá các hoạt động trợ giúp xã hội.