Nghiên cứu hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên trên địa bàn tỉnh bắc giang - Pdf 41

MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan

ii

Lời cảm ơn

iii

Mục lục

iv

Danh mục chữ viết tắt

vi

Danh mục bảng

vii

Danh mục đồ thị

ix

Danh mục hình, hộp

x

PHẦN I MỞ ĐẦU


PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

5

2.1 Cơ sở lý luận về hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên

5

2.1.1 Khái niệm, đối tượng, mục tiêu, nguyên tắc về trợ giúp xã hội

5

2.1.2 Vai trò của công tác trợ giúp xã hội

10

2.1.3 Đặc điểm của trợ giúp xã hội

12

2.1.4 Nội dung của hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên

13

2.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động trợ giúp xã hội

15

2.2 Cơ sở thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội


35

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

37

3.1.3 Tình hình thực hiện công tác trợ giúp xã hội trên địa bàn tỉnh
Bắc Giang

39

3.2 Phương pháp nghiên cứu

41

3.2.1 Phương pháp thu thập tài liệu

41

3.2.2 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

43

3.2.3 Các chỉ tiêu chủ yếu dùng trong phân tích

44

PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN



103

4.2.4 Công tác giám sát, kiểm tra việc thực hiện chính sách

103

4.3 Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh việc thực hiện hoạt động trợ giúp xã
hội thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

104

4.3.1 Phương hướng

104

4.3.2 Giải pháp nhằm đẩy mạnh việc thực hiện hoạt động trợ giúp xã hội
thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

105

PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

111

5.1 Kết luận

111

5.2 Kiến nghị

BHYT

Bảo hiểm y tế

ĐBKK

Đặc biệt khó khăn

LĐTBXH

Lao động – Thương binh và Xã hội

NCT

Người cao tuổi

NKT

Người khuyết tật

NSNN

Ngân sách nhà nước

TEMC

Trẻ em mồ côi

TGXH



28

3.1

Cơ cấu và phân bố các dân tộc thiểu số trong tỉnh Bắc Giang

37

3.2

Dung lượng mẫu điều tra

43

4.1

Số người cao tuổi được hưởng trợ cấp hàng tháng năm 2012 – 2014

55

4.2

Số lượng người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Bắc Giang chia theo huyện

57

4.3

Tổng kinh phí thực hiện trợ giúp xã hội cho người cao tuổi năm

64

4.8

Trẻ em mồ côi bị bỏ rơi trên địa bàn tỉnh Bắc Giang năm 2014

68

4.9

Kinh phí hỗ trợ cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn trên địa
bàn tỉnh Bắc Giang qua 3 năm 2012-2014

4.10

69

Tác động của chính sách trợ giúp xã hội đối với trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn

4.11

70

Số đối tượng khuyết tật được hưởng chính sách trợ giúp xã hội của
tỉnh Bắc Giang năm 2012 – 2014

72

4.12

4.16

Số đối tượng khác được hưởng chính sách trợ giúp xã hội năm
2012 – 2014 của tỉnh Bắc Giang

78

4.17

Kinh phí thực hiện cho nhóm đối tượng hưởng TGXH khác

81

4.18

Tác động của chính sách TGXH đến cuộc sống của nhóm đối
tượng đặc biệt khác được hưởng chính sách TGXH

4.19

83

Số lượng đối tượng được hưởng TGXH, kinh phí thực hiện cho đối
tượng BTXH tại cơ sở bảo trợ

4.20

84

Bảng khảo sát ý kiến cán bộ trung tâm bảo trợ về đời sống các đối


98

Kinh phí đảm bảo thực hiện chính sách trợ giúp các đối tượng bảo
trợ xã hội từ năm 2012-2014

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

102

Page viii


DANH MỤC ĐỒ THỊ
Số đồ thị

Tên đồ thị

Trang

4.1

Số lượng người được hưởng TGXH năm 2014 theo nhóm đối tượng

51

4.2

Số lượng đối tượng được hưởng TGXH qua 3 năm 2012-2014


Page ix


DANH MỤC HÌNH, HỘP
Số hình

Tên hình

Trang

2.1

TGXH với phát triển kinh tế - xã hội

11

2.2

Sơ đồ chính sách TGXH của Nhật Bản

20

3.1

Bản đồ địa lý tỉnh Bắc Giang

35

4.1


71

Ý kiến của cán bộ tỉnh về công tác BTXH đối với NKT trên địa
bàn tỉnh

77

Ý kiến của cán bộ tỉnh về đối tượng BTXH bị nhiếm HIV

87

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page x


PHẦN I
MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết cuả đề tài
Trợ giúp xã hội (TGXH) luôn được coi là một trong những chính sách cơ
bản của hệ thống an sinh xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, trước yêu cầu tiếp tục
chuyển đổi và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
sự ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, quá trình phân hóa giàu nghèo, già hóa dân
số, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ thường xuyên trên diện rộng, ảnh hưởng
nặng nề đến đời sống dân sinh... thì công tác trợ giúp xã hội, an sinh xã hội càng
phải quan tâm nhằm bảo đảm mức sống tối thiểu, chăm sóc sức khỏe và các nhu
cầu cơ bản khác của nhóm dân cư dễ bị tổn thương như người khuyết tật, người
cao tuổi cô đơn, trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi … Hệ thống chính sách TGXH
bao gồm các hợp phần chính sách là trợ giúp đột xuất, trợ giúp thường xuyên.
Mỗi hợp phần chính sách bao gồm các chính sách bộ phận; đối với chính sách

khuyết tật, Luật nuôi con nuôi…, song các văn bản hướng dẫn của Trung ương
chậm, nhỏ lẻ, thiếu đồng bộ, nhiều điểm quy định chưa rõ ràng, chống chéo khó
khăn trong việc triển khai thực hiện; đối tượng bảo trợ xã hội đông, nhiều mức
trợ cấp, sự biến động thay đổi phức tạp; nguồn lực thực hiện còn hạn chế, làm
cho việc thực hiện chính sách chưa đầy đủ, kịp thời; đội ngũ cán bộ chưa có
nhiều người có kỹ năng và tâm huyết với sự nghiệp bảo trợ xã hội, đặc biệt là ở
cơ sở, do vậy hạn chế không nhỏ đến hiệu quả việc thực hiện chính sách; thời
gian giải quyết chính sách cho đối tượng chưa đảm bảo; công tác kiểm tra, đánh
giá chưa thường xuyên; một số chính sách chưa thật hợp lý, công bằng; công tác
rà soát, thống kê quản lý đối tượng ở một số địa phương chưa thường xuyên, chặt
chẽ, còn tình trạng để sót, trùng đối tượng hưởng trợ cấp …
Thời gian qua, hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên tại tỉnh Bắc Giang
đã được quan tâm nghiên cứu, tuy nhiên hầu hết các nghiên cứu mới chỉ dừng lại
ở việc tổng kết thực tiễn, đánh giá thực trạng đối tượng, đề xuất giải pháp hoàn
thiện một, hoặc một vài chính sách bộ phận ..., chưa nghiên cứu một cách toàn
diện, đầy đủ về cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội thường
xuyên. Để có được cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nghiên cứu hoạt động trợ
giúp xã hội thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang trong bối cảnh phát triển
kinh tế thị trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:“Nghiên cứu hoạt động trợ
giúp xã hội thường xuyên trên địa bàn tỉnh Bắc Giang’’ làm luận văn thạc sĩ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 2


1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên trên địa bàn
tỉnh Bắc Giang trong những năm qua tìm ra những giải pháp nhằm thực hiện tốt
hơn công tác này trong những năm tới.

Page 3


1.3.2.2 Về không gian
Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bắc Giang tập trung ở 2 huyện và
thành phố Bắc Giang.
1.3.2.3 Về thời gian
Đề tài tiến hành nghiên cứu với những số liệu phản ánh tập trung chủ yếu
trong khoảng thời gian từ năm 2012 đến năm 2014.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 4


PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận về hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên
2.1.1 Khái niệm, đối tượng, mục tiêu, nguyên tắc về trợ giúp xã hội
2.1.1.1 Khái niệm về TGXH
Trợ giúp xã hội (TGXH) được hiểu theo các quan điểm tiếp cận, tính chất,
chức năng, hình thức và mô hình khác nhau. Phần lớn các tài liệu nghiên cứu
chưa lý giải một cách toàn diện về khái niệm TGXH, nhưng cũng đã giải thích
thuật ngữ, từ ngữ gần với TGXH (bảo trợ xã hội, công tác xã hội, phúc lợi xã hội,
an sinh xã hội, cứu tế xã hội, cứu trợ xã hội, BTXH, dịch vụ xã hội) (Nguyễn Văn
Định, 2008). Cụ thể:
“Bảo trợ xã hội là hệ thống các chính sách, chế độ, hoạt động của chính
quyền các cấp và hoạt động của cộng đồng xã hội dưới các hình thức và biện pháp
khác nhau, nhằm giúp các đối tượng thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh trong cuộc
sống có điều kiện tồn tại và có cơ hội hoà nhập với cuộc sống chung của cộng đồng,

khó khăn, bất hạnh và gặp rủi ro trong cuộc sống như thiên tai, hỏa hoạn, bị
khuyết tật, già yếu... dẫn đến mức sống quá thấp, lâm vào cảnh neo đơn túng
quẫn nhằm giúp họ bảo đảm được điều kiện sống tối thiểu, vượt qua cơn nghèo
khốn và vươn lên cuộc sống bình thường”. Đồng thời giải thích “Cứu tế xã hội là
sự giúp đỡ của cộng đồng và xã hội bằng tiền hoặc hiện vật, có tính tức thời,
khẩn cấp và ở mức độ tối cần thiết cho người được trợ cấp khi họ bị rơi vào hoàn
cảnh bần cùng, không còn khả năng tự lo liệu cuộc sống thường ngày cho bản
thân họ và gia đình” . Cũng với cách tiếp cận này tác giả cũng cho rằng “TGXH
là sự giúp đỡ thêm của cộng đồng xã hội bằng tiền hoặc bằng các phương tiện
thích hợp để người được trợ giúp có thể phát huy được khả năng tự lo liệu cho
cuộc sống bản thân và gia đình, sớm hòa nhập lại với cộng đồng’’ .
Tổng hợp các giải thích trên cho thấy, hầu hết các khái niệm chưa mô tả
đầy đủ về TGXH, mà cần giải thích toàn diện hơn nữa về TGXH. TGXH không
chỉ là hoạt động của cộng đồng và xã hội mà phải là trách nhiệm của Nhà nước,
không những thế còn là hoạt động có tính chất về công tác xã hội, không dành
riêng cho một, hoặc một số đối tượng xã hội, đồng thời TGXH không phải là giải
pháp toàn diện về an sinh xã hội, mà chỉ là một hợp phần của an sinh xã hội. Như
vậy, có thể hiểu TGXH là các biện pháp, giải pháp bảo đảm của Nhà nước và xã
hội đối với các đối tượng BTXH (người bị thiệt thòi, yếu thế hoặc gặp bất hạnh
trong cuộc sống) nhằm giúp họ khắc phục những khó khăn trước mắt cũng như
lâu dài trong cuộc sống. Việc bảo đảm này thông qua các hoạt động cung cấp tài
chính, vật phẩm, các điều kiện vật chất khác cho đối tượng.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 6


2.1.1.2 Đối tượng TGXH
Theo cách hiểu thông thường thì đối tượng TGXH thường xuyên là một
bộ phận của đối tượng BTXH và “Đối tượng TGXH là một bộ phận hay nhóm

Page 7


(9) Người đơn thân thuộc diện hộ nghèo đang nuôi con nhỏ dưới 16 tuổi;
trường hợp con đang đi học văn hoá, học nghề được áp dụng đến dưới 18 tuổi.
Các nhóm đối tượng TGXH thường xuyên đều có chung một trong các tiêu
chí sau:
(i) Không có khả năng lao động,
(ii) Không có khả năng tự phục vụ cá nhân cần người nuôi dưỡng, chăm
sóc, giúp đỡ,
(iii) Khó khăn kinh tế không có nguồn thu nhập, sống trong hoàn cảnh
hộ nghèo.
(iv) Không còn người thân thích để nuôi dưỡng như cha, mẹ đẻ; cha, mẹ
nuôi hợp pháp; vợ, chồng; con đẻ, con nuôi hợp pháp…
Với những tiêu chí trên có thể khái quát và hiểu đối tượng TGXH thường
xuyên là một bộ phận của đối tượng TGXH gặp một trong các hoàn cảnh là
không còn khả năng lao động, không tự chăm sóc được bản thân, khó khăn kinh
tế hoặc hoàn cảnh khác dẫn đến khó khăn trong việc tự bảo đảm các nhu cầu cơ
bản của cá nhân như những người bình thường khác cần đến sự trợ giúp của Nhà
nước, xã hội.
2.1.1.3 Mục tiêu trợ giúp xã hội
Mục tiêu tổng quát: Mục tiêu tổng thể của công tác trợ giúp xã hội là
hướng tới giải quyết vấn đề công bằng, ổn định và phát triển bền vững về chính
trị, kinh tế và xã hội của quốc gia.
Mục tiêu cụ thể: Nhằm giúp đối tượng TGXH người cao tuổi (NCT),
người khuyết tật (NKT), Trẻ em mồ côi (TEMC) và các đối tượng khó khăn
khác) bảo đảm đúng người, đúng đối tượng, đáp ứng nhu cầu, điều kiện sống ổn
định, an toàn, hoà nhập, tham gia đóng góp vào quá trình phát triển xã hội.
2.1.1.4 Nguyên tắc hoạt động trợ giúp xã hội
Chính sách TGXH thường xuyên là một hợp phần chính sách của Nhà nước

tượng hưởng lợi. Tránh sự cao bằng chính sách đối với tất cả các nhóm đối tượng.
Đồng thời phải phù hợp của chính sách với các chính sách xã hội khác (chính sách
tiền lương, chính sách BHXH, chính sách giảm nghèo, chính sách người có
công...). Tránh không để có sự chênh lệch quá lớn về các mức chính sách trong hệ
thống chính sách xã hội.
• Bảo đảm tính công khai, minh bạch
Đây vừa là yêu cầu của đối tượng hưởng lợi và cũng là đòi hỏi của cấp
bách trong quá trình thực thi chính sách. Minh bạch, công khai ngay từ hoạch
định chính sách, trình tự thủ tục hồ sơ xét duyệt chính sách, giám sát kết quả.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 9


• Bảo đảm sự ổn định bền vững
TGXH là tất yếu, khách quan do vậy chính sách TGXH thường xuyên là chính
sách lâu dài. Vì vậy đòi hỏi có sự ổn định chính sách trong thời gian nhất định.
• Bảo đảm sự chia sẻ trách nhiệm
Xác định vai trò của Nhà nước và vai trò của tư nhân, tách bạch giữa
thương mại và không thương mại. Nhà nước quy định và thực hiện chính sách, tư
nhân cung cấp dịch vụ, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa để giảm bớt gánh nặng
ngân sách của nhà nước.
2.1.2 Vai trò của công tác trợ giúp xã hội
Mục tiêu hướng tới của mỗi quốc gia trên thế đều là đạt được sự tiến bộ xã
hội. Nghĩa là vừa phải bảo đảm tăng trưởng kinh tế, vừa bảo đảm phát triển xã hội
(Nguyễn Hữu Dũng, 2008). Thước đo của phát triển xã hội là việc giải quyết các vấn
đề xã hội nảy sinh trong quá trình phát triển kinh tế. Trong đó, có chăm sóc dân cư
khó khăn, giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội. TGXH là một trong những
công cụ quản lý của Nhà nước và có vai trò chính sau:

(Phạm Xuân Nam, 2001) đã dẫn đến nẩy sinh các vấn đề xã hội và gia tăng người
nghèo, NKT, TEMC, NCT cô đơn.... Bộ phận dân cư này thường chịu nguy cơ
tổn thương cao, không tự chủ quyết định cuộc sống và phụ thuộc vào sự hỗ trợ
của xã hội, Nhà nước. Các chính sách trợ cấp xã hội, cấp thẻ bảo hiểm y tế, hỗ
trợ giáo dục... đối với người khuyết tật, người cao tuổi, trẻ em mô côi, người
nghèo, dân tộc thiểu số sẽ giúp cho bộ phận dân cư giảm bớt khó khăn, ổn định
an ninh trật tự xã hội.

Phát triển kinh tế xã hội

Chính sách trợ giúp xã hội

Phân hoá xã
hội

Dân cư khó
khăn

Điều kiện tự
nhiên

Văn hóa
phong tục

Trợ giúp nhân đạo của
cộng đồng
(Nguồn: Cục BTXH)

Hình 2.1 TGXH với phát triển kinh tế - xã hội


hàng tháng, nhưng nếu như không bảo đảm được cuộc sống cho họ thì cần nuôi
dưỡng trong các nhà trợ giúp xã hội do cấp xã quản lý, trong trường hợp vẫn
chưa bảo đảm thì đưa vào nuôi dưỡng tập trung trong các cơ sở BTXH (Nguyễn
Thị Huyên, 2011).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 12


2.1.3.2 Lứa tuổi
TGXH có rất nhiều lứa tuổi khác nhau từ đó dẫn đến sự phức tạp trong quá
trình trợ giúp xã hội, dẫn đến sự chồng chéo giữa các chính sách.Ví dụ như trẻ
em mồ côi ở các lứa tuổi khác nhau thì được hưởng mức trợ cấp khác nhau;
người cao tuổi đủ 80 tuổi nếu không có lương hưu, trợ cấp BHXH thì được
hưởng trợ cấp TGXH; người cao tuổi hưởng trợ cấp người có công thì vẫn được
hưởng trợ cấp TGXH do vây nếu không có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ
quan chức năng thì dẫn đến tình trạng cho đối tượng hưởng không đúng chế độ
(Nguyễn Thị Huyên, 2011).
2.1.4 Nội dung của hoạt động trợ giúp xã hội thường xuyên
2.1.4.1 Các chính sách, chế độ trợ giúp xã hội
- Chính sách trợ giúp xã hội: Hệ thống chính sách trợ giúp xã hội gồm trợ
giúp xã hội ở cộng đồng, nuôi dưỡng chăm sóc trong các cơ sở bảo trợ xã hội và
trợ giúp đột xuất khi thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn... Hệ thống chính sách này đã
từng bước được hoàn thiện, đồng bộ và đã được quy định tại Luật người cao tuổi,
Luật người khuyết tật, Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em, Pháp lệnh
phòng chống lụt bão và các. Nghị định của Chính phủ, Thông tư, quyết định của
các Bộ (Nguyễn Ngọc Toản, 2011).
Chế độ trợ giúp xã hội: Cùng với quá trình hình thành và phát triển hệ
thống chính sách trợ giúp xã hội, việc xác định chế độ trợ giúp xã hội luôn là một

nhịp nhàng ăn ý, theo một khuôn khổ nhất định thì mới phát huy được sức mạnh
và đem lại hiêu quả cao trong việc thực hiện chính sách.
2.1.4.3 Xác định đối tượng
Đây là công đoạn phân loại đối tượng: Đối tượng nào thuộc nhóm trợ giúp
nào và trường hợp nào thì được hưởng trợ giúp xã hội trong nhóm đối tượng đó.
Công đoạn này rất quan trọng trong công tác thực thi chính sách trợ giúp xã hội.
Nhờ có công đoan này thì các nhà lãnh đạo mới đưa ra được một quy định phù
hợp nhất cho từng loại đối tượng (Nguyễn Ngọc Toản, 2011).
2.1.4.4 Hoạt động TGXH thường xuyên
* Hoạt động trợ cấp hàng tháng ở cộng đồng
Hoạt động trợ cấp hàng tháng là hoạt động chi một khoản tiền của Nhà
nước cấp cho đối tượng chính sách hàng tháng bao gồm có NCT, trẻ em bị bỏ
rơi, mồ côi, NKT, người bị nhiễm HIV, người đơn thân nghèo nuôi con nhỏ… để
mua lương thực, thực phẩm và các chi tiêu cần thiết khác phục vụ cho nhu cầu
cuộc sống. Các chế độ trợ cấp được tính toán dựa vào các mức chi tiêu tối thiểu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 14


để bảo đảm duy trì cuộc sống cho đối tượng (bao gồm cả chi phí nuôi dưỡng và
chi phí cho người chăm sóc (trong những trường hợp không tự chăm sóc được
bản thân) (Nguyễn Ngọc Toản, 2011).
Các nhóm đối tượng khác nhau được hưởng các mức trợ cấp khác nhau dựa
vào theo nguyên tắc bảo đảm không thấp hơn mức chuẩn chung và khó khăn nhiều
hỗ trợ nhiều, khó khăn ít hỗ trợ ít. Chế độ trợ cấp được điều chỉnh phù hợp với
điều kiện phát triển kinh tế xã hội của đất nước và khả năng ngân sách Nhà nước.
* Hoạt động trợ giúp chăm sóc tại cơ sở bảo trợ
Đây là hoạt động hỗ trợ giành cho các đối tượng yếu thế trong xã hội như
NKT không có đủ khả năng lao động để nuôi sống bản thân, người già không có

khách quan và thực tiễn không. Năng lực được đánh giá cả bằng hệ thống tổ chức
bộ máy, chuyên môn của cán bộ thực thi chính sách từ Trung ương đến cấp cơ sở
(Nguyễn Thị Huyên, 2011).
c. Nguồn kinh phí tổ chức thực hiện chính sách
Nguồn kinh phí là một yếu tố vô cùng quan trọng trong việc thực hiện
chính sách. Kinh phí lớn đồng nghĩa với việc chế độ trợ giúp cao, đối tượng được
mở rộng (Nguyễn Thị Huyên, 2011).
d. Sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành
Sự phối hợp giữa các cơ quan ban ngành có chặt chẽ giữa các chính sách thì mới
không xảy ra hiện tượng một đối tượng được hưởng cùng lúc nhiều chính sách,
không có hiện tượng bỏ sót đối tượng, sự chồng chéo giữa các chính sách
(Nguyễn Thị Huyên, 2011).
e. Giám sát, kiểm tra việc thưc hiện chính sách
Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách là quá trình lãnh đạo
cấp trên tổ chức kiểm tra định kỳ hàng năm xem việc thực hiện chính sách do cấp
trên ban hành có đúng không, có vấn đề bất cập nào cần giải quyết hay
không…từ đó có biện pháp khắc phục, điều chỉnh sao cho chính sách được thực
hiện đúng và mang lại hiệu quả cao nhất. Đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời
các vi phạm nếu có (Nguyễn Thị Huyên, 2011).
2.2 Cơ sở thực tiễn về hoạt động trợ giúp xã hội
2.2.1 Kinh nghiêm của một số nước trên thế giới về thực hiện hoạt động trợ
giúp xã hội
Tổng hợp kinh nghiệm của một số nước cho thấy tùy vào đặc điểm điều
kiện mỗi quốc gia đã có hệ thống chính sác TGXH, khác nhau về ưu tiên, đối
tượng hưởng lợi, nguyên tắc, tiêu chí và các chính sách bộ phận. Nghiên cứu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 16



điều kiện trung tâm hoạt động và chi trả chi phí (Nguyễn Ngọc Toản, 2011).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế

Page 17


2.2.1.2 Kinh nghiệm ở Trung Quốc
Trung Quốc thực hiện cải cách ASXH vào những năm cuối của thế kỷ 20.
Với mục tiêu đến đầu thế kỷ 21 cơ bản xây dựng xong hệ thống ASXH liên quan
và bền vững tài chính, đa dạng nguồn lực. TGXH là một trong các trụ cột quan
trọng của ASXH và bao gồm chính sách bảo hộ đối với người thu nhập thấp ở
thành thị, chính sách phúc lợi xã hội đối với NCT không có thu nhập, NKT,
TEMC, người vô gia cư sống lang thang đường phố. Quá trình cải cách, xây
dựng chính sách ASXH nói chung và TGXH nói riêng tuân thủ các nguyên tắc
(Nguyễn Ngọc Toản, 2011):
(1) Các mức TGXH được xây dựng, điều chỉnh tương ứng với trình độ phát
triển kinh tế. Theo nguyên tắc này mức trợ giúp xã hội cho đối tượng phải ngang bằng
với mức sống tối thiểu dân cư. Đồng thời mức sống dân cư cũng có thể là một trong
những tiêu chí để xác định đối tượng hưởng lợi .
(2) Kết hợp giữa bảo đảm công bằng xã hội và hiệu suất thị trường. Lý luận
truyền thống cho rằng, TGXH là sự phân phối lần thứ hai của Nhà nước đối với thu
nhập quốc dân và phân phối lần thứ nhất phải chú trọng hiệu suất, phân phối lần thứ
hai phải chú trọng công bằng xã hội.
(3) Tách chức năng quản lý nhà nước với chức năng thực hiện cung cấp
dịch vụ xã hội của thị trường. Nhà nước chi ngân sách để đầu tư các loại dịch vụ
TGXH thông qua các tổ chức sự nghiệp phúc lợi xã hội và các cơ sở sản xuất
kinh doanh. Việc cung cấp dịch vụ, chất lượng dịch vụ, giá thành do thị trường
điều tiết và xác định.
(4) Tách bạch giữa khu vực thành thị và nông thôn, vì thông thường khu
vực thành thị cần chi tiêu nhiều hơn mới bảo đảm được mức sống tương đương


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status