ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MINH THÙY CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
CHO CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Hà Nội – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THỊ MINH THÙY
7
1.1. Những vấn đề chung về chính sách hỗ trợ đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
7
1.1.1. Khái niệm về công nghệ và đổi mới công nghệ
7
1.1.2. Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa của Việt Nam
11
1.1.3. Vai trò và sự cần thiết của chính sách hỗ trợ đổi mới công
nghệ
14
1.2. Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp
nhỏ và vừa của Hà Nội
17
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của chính sách hỗ trợ đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội
17
1.2.2. Sự cần thiết của chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ tới khả
năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội
20
1.2.3. Tiêu chí đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ đổi
mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội
42
2.2.3. Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội giai đoạn 2000 -
2010 thông qua các dữ liệu sơ cấp 43
2.2.4. Những kết quả đạt được và những tồn tại trong việc thực hiện
chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa
của Hà Nội 50
Chương 3: ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ CHO CÁC DOANH
NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA HÀ NỘI 53
3.1. Một số định hướng chiến lược của Đảng, Nhà nước và
thành phố Hà Nội về hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa 53
3.1.1. Đường lối chung của Đảng và các chính sách hiện hành của
Nhà nước có liên quan tới việc phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và
việc hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của
61
3.2.3. Nâng cao năng lực chuyên môn và đổi mới quy trình ban hành
và thực thi để các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ đến được tay
các nhà quản trị 64
3.2.4. Thúc đẩy phát triển hơn nữa thị trường khoa học - công nghệ,
gắn với việc tăng cường thực thi pháp luật về sở hữu trí tuệ để thúc đẩy
hoạt động hỗ trợ đổi mới công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của
Hà Nội
65
3.2.5. Tăng cường việc giám sát, khen thưởng và kỷ luật trong
quá trình thực thi chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội 67
KẾT LUẬN
69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
71
PHỤ LỤC
27
6
Bảng 2.1
Năng lực công nghệ qua kết quả điều tra
40
7
Bảng 2.2
Đánh giá mức độ nhận biết về các chính sách của Nhà
nước có liên quan tới hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các
doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
45
8
Bảng 2.3
Đánh giá khả năng nhận biết về các chính sách của
thành phố Hà Nội có liên quan tới hỗ trợ đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội
46
9
Bảng 2.4
Mức độ nhận hỗ trợ đổi mới công nghệ theo chính sách
Nhà nước
48
10
Bảng 2.5
Mức độ nhận hỗ trợ đổi mới công nghệ theo chính sách
Hà Nội
49
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công nghệ đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng trưởng và quyết
định khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp và của quốc gia. Theo số liệu của
Bộ kế hoạch và đầu tư [27], tính đến ngày 23 tháng 8 năm 2011, cả nước đã
có 602.171 doanh nghiệp đăng kí hoạt động theo luật doanh nghiệp. Tính đến
thời điểm 31/7/2011 số lượng doanh nghiệp tồn tại pháp lý là 522.237 doanh
nghiệp. Trong đó, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tỷ lệ trên 95% trong
tổng số doanh nghiệp ở Việt Nam với khả năng cạnh tranh yếu kém do nhiều
nguyên nhân, trong đó có vấn đề năng lực công nghệ hạn chế. Vì vậy đổi mới
công nghệ là yêu cầu vô cùng cấp thiết đang được Đảng, Nhà nước và xã hội
hết sức quan tâm. Nhiều đường lối, chủ trương và chính sách đã được ban
hành nhằm thúc đẩy các doanh nghiệp Việt Nam đổi mới công nghệ nhưng
cho đến nay kết quả đạt được rất thấp.
Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội lớn của cả nước, Hà
Nội có khoảng 150.000 doanh nghiệp, trong đó đa số là các doanh nghiệp nhỏ
và vừa với khả năng cạnh tranh yếu kém ở cả cấp độ sản phẩm lẫn cấp độ
doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp nêu ra các lý do làm giảm khả năng cạnh
tranh như thiếu chính sách hỗ trợ của Nhà nước và thành phố về mặt bằng,
nguồn vốn ưu đãi, nguồn nhân lực, thị trường… Tuy nhiên nếu tham khảo các
báo cáo đánh giá và khảo sát qua các khu công nghiệp, cụm công nghiệp và
xem xét lại các chính sách hỗ trợ chung của Hà Nội cho các doanh nghiệp nhỏ
và vừa của Hà Nội trong 10 năm trở lại đây, có thể thấy rằng lý do chính đang
cản trở quá trình phát triển khả năng cạnh tranh của sản phẩm lại chính là
công nghệ và các năng lực công nghệ. 2
Thành phố Hà Nội luôn dẫn đầu cả nước về số lượng doanh nghiệp
thành lập và đăng ký kinh doanh, các doanh nghiệp có sự phát triển mạnh góp
hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp Việt Nam như:
- Đề tài cấp bộ: “Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và định hướng hoạt
động đổi mới công nghệ của doanh nghiệp trong một số ngành kinh tế” của
ThS. Phạm Thế Dũng. Bộ Khoa học - Công nghệ, 2009.
- “Đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội”, luận
án thạc sĩ khoa học của tác giả Nguyễn Khắc Tiến, 2008.
- Chuyên đề nghiên cứu “Tổng quan các chính sách của Nhà nước
khuyến khích hoạt động đổi mới công nghệ trong sản xuất giai đoạn 1995-
2005” của tác giả Nghiêm Công, Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và
Công nghệ, 2006.
- Cuốn sách “Quản lý đổi mới công nghệ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp nhỏ và vừa” của TS. Trần Ngọc Ca, Nhà xuất
bản Chính trị Quốc gia, 2000.
- Giáo trình “Quản trị Công nghệ” của TS. Hoàng Đình Phi, Nhà xuất bản
Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011.
Tuy nhiên từ trước đến nay, tác giả chưa thấy có công trình nghiên cứu cụ
thể nào dưới góc độ chuyên ngành kinh tế chính trị về chính sách hỗ trợ đổi mới
công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội, trong đó có việc
nghiên cứu, đánh giá thực trạng ban hành và thực thi các chính sách trong thời
gian qua và đưa ra các đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả chính sách hỗ trợ đổi
mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội trong thời gian tới.
4
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích:
Thông qua cơ sở lý luận cơ bản về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ
cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đánh giá tình hình ban hành và thực hiện
năm 2000 đến năm 2011. Các dữ liệu sơ cấp (dữ liệu mềm) được tác giả tự
tổng hợp qua phiếu điều tra và phỏng vấn các doanh nghiệp theo mục tiêu
luận văn trong khoảng thời gian từ 10/2011 - 2/2012.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Luận văn nghiên cứu dưới góc độ của chuyên ngành kinh tế chính trị, sử
dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
- Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp phân tích, tổng
hợp, so sánh, nghiên cứu lý thuyết và tài liệu có liên quan tới đề tài nghiên
cứu, khảo sát qua phiếu điều tra, phỏng vấn trực tiếp, tổng hợp và phân tích
thông tin, đưa ra nhận định.
6. Những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hóa và làm rõ hơn một số cơ sở lý luận cơ bản về chính sách
hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam nói
chung và của Hà Nội nói riêng.
- Đánh giá tình hình ban hành và thực hiện chính sách hỗ trợ đổi mới
công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội trong một số ngành
sản xuất giai đoạn 2000-2010. 6
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả của chính sách hỗ trợ đổi
mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được kết
cấu thành 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận cơ bản về chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho
các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Chương 2. Chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và
vừa của Hà Nội
Chương 3. Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của chính
8
sản phẩm hay dịch vụ”. Theo phương trình công nghệ trong giáo trình [12] thì
công nghệ bao gồm 3 nhóm yếu tố là máy móc và công cụ (Machines & Tools
= M); tri thức (Knowledge = K) và kỹ năng (Skills = S):
CÔNG NGHỆ
Technology
(T)
=
MÁY MÓC
Machines, Tools
(M)
+
TRI THỨC
Knowledge
(K)
+
KỸ NĂNG
Skills
(S)
Hình 1.1. Phương trình công nghệ
Nguồn: Hoàng Đình Phi, 2006.
- Thành phần M: là tất cả các thiết bị phần cứng của công nghệ như
máy móc, thiết bị, công cụ… có gắn hoặc không gắn với đất đai, văn phòng,
nhà xưởng, hệ thống sản xuất liên quan trực tiếp tới công nghệ.
- Thành phần K: là tất cả các yếu tố liên quan tới tri thức trong công
nghệ, bao gồm nhưng không giới hạn như: thiết kế, bản vẽ, bí quyết sản xuất,
- Đổi mới quy trình công nghệ là việc sử dụng các phương pháp sản
xuất mới (kể cả phương pháp phân phối) hoặc được cải tiến cơ bản về công
nghệ như: đổi mới thiết bị, tổ chức sản xuất và áp dụng nhằm nâng cao hiệu
quả sản xuất, kinh doanh so với các phương pháp trước đó.
Theo sổ tay hướng dẫn của Oslo V3: Đổi mới công nghệ là một sự thực
hiện hoặc cải tiến một sản phẩm hoặc dịch vụ mới, một phương pháp thị
trường mới hoặc một phương pháp tổ chức doanh nghiệp mới, giải pháp mở
rộng phát triển sản xuất cho ra sản phẩm mới.
Giáo trình quản trị công nghệ [12] là tài liệu cập nhật mới nhất và đã đưa
ra một khái niệm cụ thể: “đổi mới công nghệ được hiểu theo bản chất là việc 10
đổi mới các yếu tố cấu thành một công nghệ theo phương trình công nghệ,
trong mối tương quan so sánh với công nghệ hiện có của doanh nghiệp hay
đối thủ cạnh tranh trên thế giới. Đổi mới công nghệ liên quan tới việc nâng
cao chất lượng các yếu tố cấu thành công nghệ và qua đó là mức độ hiện đại
của một công nghệ”.
1.1.1.3. Mục tiêu của quá trình đổi mới công nghệ của doanh nghiệp
Về mục tiêu, đổi mới công nghệ chủ yếu tập trung vào việc đổi mới quy
trình sản xuất hay chất lượng của sản phẩm hoặc dịch vụ nhằm chế tạo ra sản
phẩm mới, thay thế sản phẩm cũ, nâng cấp sản phẩm (nâng cao các tính năng
kinh tế - kỹ thuật), phát triển sản phẩm thân thiện môi trường, tăng thị phần,
giảm chi phí sản xuất hoặc cải thiện điều kiện làm việc, giảm tác hại môi
trường…, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Công tác đổi mới công nghệ liên quan trực tiếp tới các nhóm năng lực
mua bán, vận hành công nghệ và năng lực sáng tạo công nghệ. Điều này
được thể hiện qua hai mục tiêu chính là đổi mới thiết bị công nghệ cùng
quy trình và đổi mới sản phẩm hay dịch vụ.
Về nội dung cụ thể, đổi mới công nghệ thường được thực hiện qua các
nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng
lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao
động. Mỗi nước đều có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa
tùy theo quy mô và mức độ phát triển của nền kinh tế. Một doanh nghiệp nhỏ
ở Singapore có thể có quy mô lớn hơn một doanh nghiệp cỡ vừa ở Việt Nam
về số vốn, lao động, công nghệ, thương hiệu, doanh thu. 12
Ở Việt Nam, theo điều 3, Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009
của Chính phủ, doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh
doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa
theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được
xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình
quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên). Bảng 1.1 là phân loại cụ thể
của các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam theo các nhóm ngành.
Bảng 1.1: Phân loại doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
Quy mô Khu vực
Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Doanh nghiệp nhỏ
Doanh nghiệp vừa
Số lao động
Tổng
nguồn vốn
Số lao
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20
tỷ đồng
đến 100 tỷ
đồng
từ trên
200
người đến
300
người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
50 người
từ trên 10
tỷ đồng
đến 50 tỷ
đồng
từ trên 50
người đến
100
người
thể theo các tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới hoạt động đổi mới công
nghệ của doanh nghiệp.
- Có những chính sách hỗ trợ có tác động gián tiếp tới quá trình đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa, chẳng hạn như: chính sách ưu 14
đãi về mặt bằng sản xuất, kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính
sách ưu đãi về vay vốn cho sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp nhỏ và
vừa; chính sách ưu đãi về đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp nhỏ và
vừa; các chính sách ưu đãi về thuế cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cho các
sản phẩm công nghệ cao…
- Có những chính sách hỗ trợ có tác động trực tiếp tới quá trình đổi
mới công nghệ của doanh nghiệp nhỏ và vừa, chẳng hạn như: chính sách
khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa đầu tư vào các khu công nghệ cao,
vườn ươm doanh nghiệp nhỏ và vừa; chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và
vừa triển khai các đề tài nghiên cứu và phát triển; chính sách cho phép
doanh nghiệp nhỏ và vừa trích quỹ khoa học – công nghệ trước khi nộp thuế
thu nhập doanh nghiệp…
1.1.3. Vai trò quan trọng và sự cần thiết của chính sách hỗ trợ đổi mới
công nghệ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
1.1.3.1. Vai trò của chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh
nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam
Hoạt động đổi mới công nghệ có vai trò quan trọng trong việc duy trì
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như khả năng cạnh tranh của sản
phẩm và dịch vụ do doanh nghiệp làm ra. Tuy nhiên, theo nhiều báo cáo tổng
kết thì ở Việt Nam quá trình đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp nhỏ
và vừa đang gặp rất nhiều khó khăn.
Do quy mô nhỏ và vừa nên vốn ít, nhìn chung, chất lượng nguồn nhân
lực thấp, trình độ của đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật trong các doanh
nghiệp thực hiện nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ thuộc lĩnh vực
ưu tiên, trọng điểm” (Điều 37, khoản 3, điểm e); “Doanh nghiệp được dành 16
một phần vốn để đầu tư phát triển khoa học và công nghệ nhằm đổi mới công
nghệ, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, vốn đầu tư phát triển khoa học
và công nghệ của doanh nghiệp được tính vào giá thành của sản phẩm; doanh
nghiệp được lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ để chủ động đầu tư
phát triển khoa học và công nghệ; doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu những vấn
đề khoa học và công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên, trọng điểm của Nhà nước
được xét tài trợ một phần kinh phí nghiên cứu”.
- Quyết định 236/2006/QĐ –TTg về kế hoạch phát triển doanh nghiệp
nhỏ và vừa giai đoạn 2006-2010.
- Nghị định 56/2009/NĐ – CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ
và vừa.
- Nghị quyết số 22/2009/NQ – CP của Chính phủ về chương trình hành
động phát triển kinh tế - xã hội và khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam
đổi mới công nghệ.
- Quyết định số 677/QĐ-TTg về việc phê duyệt chương trình đổi mới
công nghệ quốc gia đến năm 2020.
Trên thực tế, nhìn chung việc thực hiện các chính sách và hiệu lực thi
hành những luật này còn thấp, văn bản hướng dẫn thi hành luật nhiều khoản
mục còn chưa cụ thể. Đặc biệt, nhiều chính sách đã được ban hành nhưng
thông tin và tính phổ biến còn thấp, thực hiện chưa có hiệu quả. Do vậy, vấn
đề thực thi nhanh và có hiệu quả các chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ cho
doanh nghiệp nhỏ và vừa là thực sự cần thiết nhằm nâng cao khả năng cạnh
tranh cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam, chính sách
hỗ trợ đổi mới công nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội được
hiểu là các văn bản quy phạm pháp luật do Ủy ban nhân dân thành phố Hà
Nội ban hành về các mục tiêu và giải pháp hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và
vừa có trụ sở và đăng ký kinh doanh tại Hà Nội thực hiện công tác đổi mới
công nghệ nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh.
Đặc điểm khác biệt cơ bản của chính sách hỗ trợ đổi mới công
nghệ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của Hà Nội là đối tượng và phạm vi áp
dụng trên địa bàn Hà Nội và các chính sách này thường hướng tới các mục
tiêu phát triển các ngành công nghiệp quan trọng hay các mặt hàng trọng điểm
phục vụ nhu cầu Thủ đô và xuất khẩu theo từng thời kỳ phát triển.
Về cơ bản, các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa đổi mới
công nghệ của Hà Nội được xây dựng dựa vào chính yêu cầu của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố, phù hợp với chính sách hiện hành của
Nhà nước, công khai, minh bạch, có trọng điểm đối với một số sản phẩm, ngành
nghề… nhằm tạo điều kiện để các doanh nghiệp nhỏ và vừa thành phố khắc phục
những khó khăn, hạn chế mang tính đặc trưng của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
- Thành phố xin ý kiến của các Bộ, ngành Trung ương nghiên cứu
thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ bảo lãnh tín dụng với mục
đích tài trợ các chương trình giúp nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa, chú trọng hỗ trợ hoạt động đổi mới phát triển sản phẩm có tính cạnh
tranh cao và thân thiện với môi trường; đầu tư, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật,
công nghệ tiên tiến; nâng cao năng lực quản trị doanh nghiệp…
- Trên cơ sở công khai quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, kế
hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển kinh tế ngành của thành phố, Ủy ban