Chính sách phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN VĂN THIỀNG

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT
NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC KINH TẾ.

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Phạm Văn Dũng

HÀ NỘI - 2004 MỤC LỤC

TRANG

MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1: CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI DNVVN TRONG NỀN KINH TẾ HIỆN ĐẠI

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN
6

1.3.1. Hàn Quốc
25
1.3.2. Singapore
30
1.3.3. Đài Loan
33
1.3.4. Một số kinh nghiệm của các nƣớc về chính sách phát triển các DNVVN
35 CHƢƠNG 2: CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DNVVN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA
38
2.1. Tiến trình chính sách và tác động tới sự phát triển DNVVN ở Việt Nam
38
2.1.1. Giai đoạn 1986 - 1990
40
2.1.2. Giai đoạn 1991 - 1999
43
2.1.3. Giai đoạn 2000 đến nay
50 2.2. Những kết quả đạt được và những tồn tại, yếu kém trong chính sách
phát triển DNVVN ở Việt Nam thời gian qua
61
2.2.1. Những kết quả chủ yếu
61
2.2.2. Những tồn tại, yếu kém chủ yếu
66
2.2.3. Một số nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, yếu kém

3.2.3. Chính sách thƣơng mại
86
3.2.4. Chính sách đầu tƣ
88
3.2.5. Chính sách vốn, tài chính, tín dụng
90
3.2.6. Chính sách thuế
92
3.2.7. Chính sách đất đai
95
3.2.8. Chính sách đào tạo nguồn nhân lực
96
3.2.9. Khuyến khích phát triển hiệp hội DNVVN
97 Kết luận
98 Tài liệu tham khảo
Phụ lục

NHỮNG TỪ VIẾT TẮT

Từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã có bước phát
triển rõ rệt. Theo như đánh giá của nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VIII thì thành công của đổi mới đã đưa "nước ta ra khỏi khủng
hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài". Một trong những
điểm mấu chốt đem lại sự thàng công đó chính là chúng ta đã biết huy
động các nguồn lực của đất nước, tính năng động, chủ động, sáng tạo
của tất cả các doanh nghiệp, trong đó có đóng góp rất quan trọng của
các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN).
Trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa thì loại hình DNVVN chiếm số lượng lớn
trong nền kinh tế ở nước ta và có xu hướng phát triển nhanh. DNVVN
không chỉ thích hợp với nền kinh tế của các nước đang phát triển mà
ngay cả với những nước phát triển. Những ưu thế của loại hình
DNVVN không chỉ được đưa ra trong lý luận mà còn được thể hiện
một cách rõ ràng và thuyết phục trong thực tiễn ở nhiều nước trên thế
giới.
Trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế hiện nay, vấn đề cạnh tranh
ngày càng trở nên gay gắt và có sự thay đổi căn bản trong tư duy kinh
tế so với cách đây một thập kỷ. Trình độ phát triển của nền kinh tế
Việt Nam hiện nay còn hết sức thấp kém, lạc hậu, do đó việc mong
muốn có những doanh nghiệp lớn, những tập đoàn mạnh chiếm lĩnh
thị trường thế giới là một điều khó có thể thực hiện được ngay lúc này.
Thiết thực hơn, chúng ta nên tìm cách phát triển những loại hình
doanh nghiệp phù hợp với đặc thù, trình độ KH&CN, tiềm lực kinh tế
của mình trên cơ sở phát huy tốt những lợi thế so sánh về thị trường,
về nguồn nguyên liệu và lao động rẻ,… chiếm lĩnh thị phần ở các thị
2
trường ngách, cung ứng ở những phần nhỏ của thị trường quốc tế rộng
lớn có nhiều đối thủ cạch tranh, từng bước tăng dần thực lực, tự tin hội
nhập một cách vững chắc.

ràng hơn về DNVVN. Nhiều kiến nghị và giải pháp đã được trình cho
chính phủ làm cơ sở cho việc hoạch định những chính sách kinh tế quan
trọng khuyến khích phát triển loại hình doanh nghiệp này.
Mặc dù đã có những chuyển biến về nhận thức đối với các
DNVVN nhưng các chính sách của chính phủ vẫn còn tồn tại nhiều bất
cập đòi hỏi cần phải tiếp tục sủă đổi bổ sung cho phù hợp. Bên cạnh đó,
xu thế toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạng
mẽ và có những tác động rất lớn tới tất cả các quốc gia trên thế giới,
đặc biệt là về kinh tế, đòi hỏi Việt Nam cần phải nhanh chóng điều
chỉnh về mặt chính sách kinh tế theo xu thế chung của thời đại, phù hợp
với thông lệ quốc tế. Do vậy cũng đã có một số công trình chỉ tập trung
nghiên cứu về chính sách phát triển của Chính phủ đối với các DNVVN.
Nhiều công trình đuợc biên soạn khá công phu và đã đưa ra được nhiều
giải pháp hay, chẳng hạn như: Chính sách hỗ trợ phát triển DNVVN Việt
Nam (PGS. TS. Nguyễn Cúc), Giải pháp phát triển DNVVN ở Việt Nam
(của GS. TS. Nguyễn Đình Hương),… Tuy nhiên, những kết quả nghiên
cứu trên chưa thể coi là kết luận cuối cùng, đặc biệt trong giai đoạn nền
kinh tế nước ta đang đẩy nhanh tiến trình hội nhập khu vực và thế giới.
Do đó, việc nghiên cứu các chính sách phát triển DNVVN Việt
Nam cần được tiếp tục nhằm bổ sung những cơ sở khoa học giúp Chính
phủ trong việc hoạch định chính sách kinh tế trong tình hình mới. Luận
văn này cũng chỉ hy vọng và mong muốn sẽ góp một phần nhỏ bé vào
sự nghiệp phát triển kinh tế chung của đất nước.
3. Mục đích của luận văn
Qua việc nghiên cứu lý luận và khảo sát thực tế về sự phát triển
của DNVVN, tác động của chính sách phát triển đối với DNVVN, luận
4
văn đưa ra khuyến nghị về các chính sách cụ thể như: chính sách công
nghệ, chính sách hỗ trợ tín dụng đối với các DNVVN, chính sách
thương mại,… nhằm hoàn thiện các chính sách đối với DNVVN, góp

sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn
Chương 2: Chính sách phát triển DNVVN ở Việt Nam thời gian qua
Chương 3: Quan điểm và một số khuyến nghị về chính sách phát triển
đối với DNVVN Việt Nam
Trong thực tế việc xác định DNVVN của một nước thường được cân
nhắc đối với từng giai đoạn phát triển kinh tế, tình hình việc làm nói chung
trong cả nước và tính chất nền kinh tế của nước đó. Như vậy việc xác định
DNVVN không có tính chất "cố định" mà có xu hướng thay đổi theo tính
chất hoạt động của nó, mục đích của việc xác định và mức độ phát triển của
7
doanh nghiệp. Tiêu chuẩn để xác định DNVVN có thể là: Tổng vốn đầu tư
giá trị tài sản cố định, số lao động sử dụng thường xuyên, doanh thu, lợi
nhuận, vốn bình quân trong lao động Mỗi nước có những quan niệm khác
nhau và lựa chọn tiêu thức không hoàn toàn giống nhau. Chúng tôi nghiên
cứu cách phân loại DNVVN một số quốc gia, lãnh thổ trên thế giới và trong
khu vực sau:
Đài Loan: DNVVN trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: là
doanh nghiệp có vốn dưới 40 triệu đô la Đài Loan, số lao động thường
xuyên dưới 300 người; trong khai khoáng có vốn dưới 40 triệu đô la Đài
Loan, số lao động thường xuyên dưới 500 người; trong thương mại, vận tải
và dịch vụ khác: có tổng doanh thu hàng năm dưới 40 triệu đô la Đài Loan,
số lao động dưới 50 người.
Thái Lan: Là một trong những nước có tốc độ phát triển kinh tế nhanh.
Họ quan niệm doanh nghiệp quy mô vừa có từ 50 đến 200 lao động, doanh
nghiệp quy mô nhỏ có dưới 50 lao động. Thái Lan chỉ quan tâm đến một tiêu
thức là lao động và cũng không tính đến tính chất đặc thù của ngành kinh tế
(tiêu thức này gần giống với Việt Nam).
Phillipines: Trong sản xuất, doanh nghiệp được chia thành 4 loại:
Doanh nghiệp cực nhỏ và hộ gia đình: có vốn dưới 1,5 triệu pêsô.
Doanh nghiệp nhỏ có vốn từ 1,5 triệu đến 15 triệu pê sô.
Doanh nghiệp vừa có vốn từ 15 triệu đến 100 triệu pê sô.
Doanh nghiệp lớn có vốn trên 100 triệu pê sô.
Philipines lấy tiêu thức chủ yếu là vốn.
Nhật Bản: DNVVN được phân loại như sau:

Lao động
Tổng vốn hoặc
giá trị tài sản
Doanh thu
Ôxtrâylia
<500 trong CN và DV Canada
<500 trong CN và DV

< 20 triệu $Canada
Hồng Kông
<100 trong CN và <50 trong DV Inđônêxia
<100
<0.6 tỷ Rupi
<2 tỷ Rupi
Nhật
<50 trong bán lẻ
<100 trong bán buôn
<300 trong các ngành khác
<10 triệu Yên
<30 triệu Yên
<100 triệu Yên

Philippin
<200

Nghị định số 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001 của Chính phủ quy
định DNVVN là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập đã đăng ký kinh doanh
theo pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao
động trung bình hàng năm không quá 300 người. Căn cứ vào tình hình kinh tế
- xã hội cụ thể của ngành, địa phương, hai tiêu chí trên có thể linh hoạt áp
dụng đồng thời hoặc một trong hai chỉ tiêu trên (Điều 3, Định nghĩa
DNVVN).
Theo Nghị định này, chúng tôi xin cụ thể hoá thêm: "Doanh nghiệp
nhỏ là doanh nghiệp có số lao động ít hơn 50 người hoặc có tổng số vốn
dưới 1 tỷ đồng; doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 51
đến 300 người hoặc có tổng số vốn từ 1 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng; doanh
nghiệp lớn là doanh nghiệp có số lao động trên 300 người hoặc có tổng giá
trị vốn trên 10 tỷ đồng".
Tóm lại, DNVVN là tổ chức kinh tế, có đầu tư và xúc tiến hoạt động
sản xuất, kinh doanh thực hiện các nghĩa vụ về tài chính, đăng ký và chịu
10
sự quản lý của các cấp chính quyền Nhà nước theo luật pháp, đáp ứng
những quy định của Chính phủ về quy mô lao động và vốn.
Tuy nhiên tiêu thức xác định DNVVN nêu trên chỉ nên coi là tiêu chí
chung có tính chất "khung" để định hướng và điều chỉnh các chủ trương,
chính sách phát triển khu vực kinh tế này. Trong quá trình điều hành cũng
cần có sự xem xét, cụ thể hoá tiêu chí xác định DNVVN cho từng lĩnh vực
kinh tế từng ngành nghề cho phù hợp.
Trong luận văn này, tác giả có chủ đích tập trung vào nghiên cứu đối
tượng là các DNVVN trong khu vực kinh tế tư bản tư nhân (xét theo thành
phần kinh tế), bao gồm các loại hình doanh nghiệp sau: Công ty cổ phần,
công ty TNHH, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có
vốn ĐTNN.
Tuy nhiên, theo phân loại về thành phần kinh tế như Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng Cộng sản Việt Nam, thì thành phần

+ Tạo ra nhiều việc làm với chi phí thấp: Nhiều DNVVN có thể tạo
ra công ăn việc làm cho số lượng lớn người lao động. ở những nước khác,
DNVVN là một trong những khu vực tạo ra nhiều việc làm nhất, giải quyết
cơ bản một trong những vấn đề phức tạp mà các quốc gia phải đương đầu
với nạn thất nhiệp trong quá trình phát triển.
+ Tăng nguồn tiết kiệm và đầu tư của dân cư địa phương làm cho
nền kinh tế năng động và hiệu quả hơn: Các DNVVN có thể phát triển và
sử dụng hiệu quả nguồn tài chính được huy động trong nước và các nguồn
nguyên liệu vật liệu hoặc các sản phẩm trung gian có sẵn trong nước.
+ Các DNVVN có thể đóng góp vào nỗ lực phân bổ các ngành công
nghiệp đến nhiều vùng dân cư khác nhau, nhờ đó giảm bớt được khoảng
cách phát triển giữa các khu vực khác nhau và tạo ra được sự phát triển cân
đối giữa các vùng khác nhau trên toàn quốc.
+ Các DNVVN có thể hỗ trợ cho các ngành công nghiệp lớn cung
cấp đầu vào cho các ngành này và tạo sự cạnh tranh cần thiết để đẩy mạnh
quá trình phát triển và nâng cao tính cạnh tranh trên thị trường.
12
+ Các DNVVN có thể đóng góp đáng kể vào việc duy trì và phát
triển các ngành nghề thủ công truyền thống nhằm sản xuất các loại hàng
hoá mang bản sắc dân tộc.

Nói tóm lại, vai trò của các DNVVN thể hiện ở mức độ đóng góp vào
sự phát triển kinh tế của quốc gia, thu hút lao động, vốn đầu tư, tạo ra giá
trị gia tăng, góp phần tăng trưởng kinh tế là tầng cơ sở trong cấu trúc của
nền sản xuất xã hội. Số liệu thống kê của các nước cho thấy, tỷ trọng thu
hút lao động, tạo ra giá trị gia tăng của khu vực các DNVVN ở một số nước
khu vực châu Á là rất đáng kể.
Từ số liệu thống kê ở bảng ta có thể thấy các DNVVN chiếm từ 81
đến 98% số doanh nghiệp, thu hút 30 - 60% lao động và tạo ra 20 - 40% giá
trị gia tăng trong nền kinh tế ở các nước này. Như vậy, dù ở trình độ phát

doanh nghiệp lớn.
13
- Sử dụng được đông đảo lao động xã hội và sử dụng được đa dạng
các loại thiết bị với trình độ và công nghệ khác nhau. Hoạt động với chi phí
thấp nhưng dễ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao, nhanh chóng góp
phần hạn chế được nạn thất nghiệp. Nước ta có nguồn lao động dồi dào,
DNVVN lại có ưu thế trong việc tạo việc làm, bên cạnh đó, vốn đầu tư cho
mỗi chỗ làm việc thấp hơn, tạo ra việc làm mới nhanh chóng hơn so với
doanh nghiệp lớn; tổng đầu tư không quá lớn nên tính khả thi cao, có thể
phát triển ở mọi nơi để thu hút lao động, yêu cầu đối với người lao động và
trình độ tay nghề không cao.
- Doanh nghiệp nhỏ có thể phát triển gắn với nguồn nguyên liệu và
cung ứng hàng hoá, do đó rất thích hợp với lĩnh vực sản xuất, chế biến
nông lâm sản, chế biến thuỷ hải sản và lĩnh vực bán lẻ.
- Tổ chức quản trị kinh doanh, quản trị doanh nghiệp rất gọn nhẹ; cơ
chế tổ chức không có bộ máy gián tiếp cồng kềnh dẫn đến chi phí kinh
doanh hoặc giá sản phẩm quá cao.
Với quy mô vừa và nhỏ các doanh nghiệp loại hình này còn rất linh
hoạt, ứng biến nhanh nhạy với sự biến đổi nhanh chóng của thị trường. Do
đó, phát triển DNVVN là rất thích hợp với điều kiện của Việt Nam hiện nay.

Từ những đặc điểm trên, có thể thấy DNVVN có những lợi thế sau:
DNVVN có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu có
hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng sử dụng nhiều lao
động với trình độ khoa học kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là sự mềm mại
và nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu thay đổi của kinh tế thị trường, do
vậy nó có nhiều lợi thế:
+ Dễ dàng khởi sự và năng động nhạy bén với thị trường
Thành lập DNVVN rất dễ dàng vì đòi hỏi ít vốn, diện tích mặt bằng
kinh doanh không nhiều, các điều kiện sản xuất đơn giản; có thể thay đổi

Các DNVVN thường không có tình trạng độc quyền, dễ dàng và sẵn
sàng chấp nhận tự do cạnh tranh. Tự do cạnh tranh là con đường tốt nhất để
phát huy mọi tiềm lực.
15
+ Có thể phát huy tiềm lực thị trường trong nước
Sự phát triển DNVVN ở giai đoạn ban đầu là phương thức tốt để sản
xuất thay thế nhập khẩu. Các nước đang phát triển như nước ta, chỉ cần lựa
chọn một số mặt hàng để sản xuất thay thế nhập khẩu với mức chi phí và
vốn đầu tư thấp, kỹ thuật không phức tạp, sản phẩm phù hợp với sức mua
của dân, từ đó nâng cao năng lực sản xuất và sức mua của thị trường.
+ Dễ dàng tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng
DNVVN có thể phát triển ở khắp mọi nơi, mọi vùng của đất nước
như vùng sâu, vùng xa, vùng miền núi,… lấp vào khoảng trống và thiếu
vắng của doanh nghiệp lớn, tạo nên sự phát triển cân bằng giữa các vùng
góp phần ổn định kinh tế trong cả nước, đây là một chiến lược kinh tế xã
hội quan trọng của đất nước.
+ DNVVN là một trong những nơi đào tạo huấn luyện các nhà doanh
nghiệp và là cơ sở kinh tế ban đầu để phát triển thành doanh nghiệp lớn.
Qua thực tế hoạt động sản xuất - kinh doanh, một mạng lưới
DNVVN trên khắp mọi miền của đất nước đã đào tạo, sàng lọc các nhà
doanh nghiệp. Có thể nói đây là một trong những nơi đào tạo hữu hiệu
nhất. Mặt khác, quá trình phát triển DNVVN cũng là quá trình tích tụ vốn,
tìm kiếm mở mang thị trường… để phát triển thành doanh nghiệp lớn. Nhìn
lại lịch sử, hầu hết các doanh nghiệp ở các nước phát triển đều trải qua mô
hình vừa và nhỏ, trừ một số doanh nghiệp lớn của Nhà nước. Riêng ở Việt
Nam, DNVVN còn có một lợi thế là mới phát triển, quy mô nhỏ bé, tồn tại
ở mọi thành phần kinh tế và đang trong quá trình vận động chuyển hoá, có
khả năng chuyển hoá dễ dàng nhanh chóng các công nghệ mới thành cơ hội
làm ăn, có điều kiện đi vào ngành nghề truyền thống, đạt hiệu quả cao, do
đó có nhiều thuận lợi để phát triển, nó chưa chịu ảnh hưởng lớn của độc

doanh nghiệp quy mô nhỏ. Khó khăn nhất đối với đội ngũ quản lý DNVVN
là trình độ và kỹ năng quản trị kinh doanh yếu, thiếu cơ bản và rất lúng túng
trước sự biến động của thị trường.
17
Thứ tƣ, với dân số khoảng 80 triệu dân, trong đó có khoảng 75% dân
số sống ở nông thôn là điều kiện thuận lợi về mặt thị trường cho DNVVN.
Tuy nhiên thị trường rộng lớn của DNVVN đang bị thu hẹp lại do sức mua
của người nông dân quá thấp; do hàng hoá nhập lậu qua biên giới không thể
nào kiểm soát đã làm giảm đáng kể thị phần của DNVVN; do khả năng cạnh
tranh của hàng hóa của loại hình doanh nghiệp này lại rất yếu, do công nghệ
lạc hậu, trình độ tay nghề của người lao động và trình độ quản trị kinh doanh
yếu. Khả năng tiêu thụ hàng trong nước đã khó, xuất khẩu lại càng khó hơn.

1.1.4. Sự cần thiết phải hỗ trợ và phát triển DNVVN
Xuất phát từ vai trò của loại hình doanh nghiệp này và những lợi ích
to lớn do việc hỗ trợ đó mang lại cả cho chính các DNVVN cũng như có lợi
cho Nhà nước trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội.
* Lợi ích của chính sách hỗ trợ đối với Nhà nƣớc và xã hội
Thực tế của nhiều nước cho thấy, sự hỗ trợ không chỉ có lợi đối với các
doanh nghiệp mà có lợi cho cả Nhà nước và xã hội. Lợi ích đó thể hiện trên các
mặt:
+ Trước hết sự hỗ trợ các doanh nghiệp là cách thức để nuôi dưỡng
các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
+ Hỗ trợ doanh nghiệp là một cách đầu tư gián tiếp của Nhà nước thay
vì Nhà nước phải đầu tư trực tiếp để thành lập các DNNN như mô hình
kinh tế hiện vật trước đây bằng việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp đã có, đặc
biệt là các DNVVN khu vực tư nhân.
+ Thông qua chính sách hỗ trợ của Nhà nước, việc đầu tư phát triển
sản xuất hiệu quả hơn vì vừa huy động được tiềm năng sáng tạo trong dân,
vừa thực hiện tốt chức năng quản lý của Nhà nước.

nay nhưng lại tiềm ẩn khả năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai đang còn
hạn chế nhiều mặt. Nếu không có những chính sách hỗ trợ phát triển hợp lý
thì khó có thể phát triển phù hợp với những yêu cầu đòi hỏi mới của tình
hình. Sự hỗ trợ hợp lý của Nhà nước đối với DNVVN, chính là phải đảm
bảo được sự bình đẳng trong hoạt động kinh tế chống lại sự độc quyền trong
19
kinh doanh của các công ty lớn và mạnh nhằm đẩy các DNVVN vào tình
trạng phá sản do mất thị trường.
Như vậy, khuyến khích phát triển DNVVN chính là để duy trì sự cạnh
tranh trong nền kinh tế, tức là duy trì và tạo ra động lực cho sự phát triển.
Phát triển DNVVN chính là huy động mọi nguồn vốn phát triển kinh tế,
tăng thu nhập bình quân đầu người, tạo thêm nhiều việc làm góp phần thực
hiện mục tiêu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020. Nước ta đang cần nhiều vốn để đầu tư phát triển, Nhà nước chỉ có
khả năng dùng ngân sách để đầu tư vào cơ sở hạ tầng là chính thay vì chủ
yếu đầu tư vào các ngành sản xuất như trong cơ chế kế hoạch hoá tập trung,
các ngành sản xuất cần được đầu tư từ các nguồn khác. Phát triển DNVVN
chính là cách tốt nhất huy động có hiệu quả các nguồn đầu tư của nhân dân
để phát triển kinh tế.
Phát triển DNVVN chính là cách để thực hiện công nghiệp hoá, hiện
đại hóa nông nghiệp, nông thôn chuyển dần lao động sản xuất nông nghiệp
sang lao động công nghiệp có quy mô vừa và nhỏ phát triển ở các vùng
nông thôn; giải quyết sức ép về lao động, việc làm và vấn đề xã hội do tình
trạng di cư vào các trung tâm đô thị và thành phố lớn.
Phát triển DNVVN tạo ra sự năng động, linh hoạt cho toàn bộ nền
kinh tế, giúp các doanh nghiệp thích ứng được trước những biến đổi nhanh
chóng của thị trường trong nước cũng như quốc tế.
Các DNVVN có ưu thế là năng động, dễ thay đổi cơ cấu sản xuất thích
ứng nhanh với tình hình. Đó là những yếu tố rất quan trọng trong kinh tế thị
trường để đảm bảo khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả của sản xuất kinh

pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế -
xã hội nhằm giải quyết các vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu
nhất định theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.
Một số chính sách chủ yếu có tác động quan trọng tới DNVVN
- Chính sách hỗ trợ tín dụng.

Trích đoạn Một số nhõn tố ảnh hưởng đến chớnh sỏch đối với cỏc DNVVN Chớnh sỏch phỏt triển DNVVN ở một số quốc gia Một số kinh nghiệm về chớnh sỏch phỏt triển DNVVN CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DNVVN Ở VIỆT NAM THỜI GIAN QUA 2.1 Tiến trỡnh chớnh sỏch và tỏc động của nú tới sự phỏt triển của Giai đoạn 2000 đến nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status