THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM - Pdf 64

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM
I. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ Ở VIỆT NAM.
1. Quá trình phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam
theo nhiều nguồn khác nhau:
- Các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, tồn tại và phát triển từ thời kỳ kinh tế
kế hoạch hoá tập trung.
- Các doanh nghiệp do Nhà nước thành lập trong cơ chế cũ (các doanh
nghiệp nhà nước Trung ương và địa phương).
- Mới thành lập trong thời kỳ đổi mới cơ chế: do sắp xếp lại các doanh
nghiệp quốc doanh, thành lập theo các luật ban hành từ 1996,...
Quá trình phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ diễn ra theo nhiều
giai đoạn với những đặc điểm khác nhau. Thời kỳ khôi phục kinh tế trước
1960, Việt Nam thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, nhưng số
doanh nghiệp lúc bấy giờ còn rất ít, chủ yếu là các cơ sở tiểu thủ công nghiệp.
Từ đầu năm 1960 đến 1986, hình thức doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu
là các doanh nghiệp nhà nước, các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và hộ kinh
tế cá thể. Trong đó có các doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã được khuyến
khích phát triển.
Sau khi thống nhất đất nước (1975), riêng trong công nghiệp, cả nước
có 1.913 xí nghiệp và công tư hợp doanh (miền Bắc có 1.279, niềm Nam có 634
xí nghiệp) với 520 ngàn cán bộ, công nhân, trong số đó phần lớn là các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Sau hơn 10 năm cải tạo xã hội chủ nghĩa, đến 1985, số xí
nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh trong công nghiệp lên tới 3.220 xí
nghiệp, số hợp tác xã và tổ hợp tiểu thủ công nghiệp lên tới 29.971 cơ sở, khu
vực tư nhân, cá thể chỉ còn 1.951 cơ sở.
Từ 1986 đến nay, với chính sách đổi mới kinh tế, các thành phần kinh tế
chính thức được thừa nhận và được hoạt động lâu dài. Tiếp đó, một loạt văn
kiện ra đời: Nghị quyết 16 của Bộ Chính trị (1988), Nghị định 27, 28, 29/HĐBT
(1988) về kinh tế cá thể, kinh tế hợp tác và hộ gia đình, Nghị định 66/HĐBT về

Còn khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng mạnh hơn từ 239 doanh nghiệp
(2001) lên đến 959 doanh nghiệp (2005). (Xem số liệu)
Bảng số 8: Số cơ sở sản xuất công nghiệp phân theo khu vực và thành
phần kinh tế
Năm Tổng số
Chia ra
Khu vực DNNN
Ngoài quốc
doanh
Đầu tư trực
tiếp nước
ngoài
2001 615.389 1.973 612.977 439
2002 626.129 1.879 623.710 540
2003 617.805 1.843 615.296 666
2004 592.948 1.821 590.240 881
2005 618.198 1.768 615.453 959
Nguồn: Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm 1997 - 2006. Tổng cục
thống kê, Hà Nội 2/2007 tr 140.
Trong toàn bộ nền kinh tế, số lượng doanh nghiệp phân theo hình thức
tổ chức sản xuất thuộc các thành phần kinh tế. (Xem bảng sau)
Bảng 9: Số doanh nghiệp trong toàn nền kinh tế đến 1 - 7 -2001
Loại hình doanh nghiệp
Trong toàn bộ
nền kinh tế
Chia ra
CN, XD
Thương
nghiệp, KS
Ngành

1-5tỷ 845 37,2 2,3 247
Tổng số 1.774 100 5,3 149
<1 tỷ 844 47,6 0,4 59
1-5tỷ 582 32,8 2,4 150
Nguồn: Tổng cục thống kê.
- Doanh nghiệp nhà nước: vốn bình quân một doanh nghiệp là 6,9 tỷ
đồng, lao động bình quân một doanh nghiệp là 279 người. Số liệu thống kê cho
thấy hơn 84,8% doanh nghiệp nhà nước có quy mô vừa và nhỏ, riêng quy mô
nhỏ là 49,9%.
- Khu vực kinh tế tư nhân: Các chỉ số nói trên thấp hơn nhiều so với
doanh nghiệp nhà nước. Số liệu thống kê bảng sau của Tổng cục thống kê cho
thấy: Quy mô trung bình của một doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh
(công ty TNHH, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, hợp tác xã) là 31,3 lao
động, 1.116,5 triệu đồng vốn kinh doanh. Trong đó, số lao động bình quân một
doanh nghiệp cao nhất là hợp tác xã (102 người), thấp nhất là doanh nghiệp
tư nhân (gần 112 người). Vốn kinh doanh thực tế bình quân một doanh
nghiệp: cao nhất là công ty cổ phần (32,2 tỷ đồng) và thấp nhất là doanh
nghiệp tư nhân (211 triệu đồng).
Bảng 11: Lao động, vốn trung bình một doanh nghiệp khu vực ngoài quốc doanh
2000
Tính
chung
Công ty
TNHH
Công ty
cổ phần
Doanh
nghiệp
tư nhân
Hợp tác

2003 113,8 110,8 109,5 123,2
2004 112,5 107,7 107,5 124,4
2005 111,6 105,4 110,9 121,6
2006 115,7 112,1 118,3 118,6
2002-
2006
113,5 109,5 111,5 121,8
Nguồn: Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm 1997 - 2006. Tổng cục
thống kê, Hà Nội 2/2007 tr 152.
Tuy sản lượng các doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh, nhưng giá trị
tổng sản lượng của chúng lại tăng 9,5% mỗi năm. Còn các khu vực khác thì
tăng mạnh hơn, đặc biệt là khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài.
Nhìn chung, sự phát triển của các khu vực kinh tế vẫn chủ yếu theo chiều
rộng (tăng giá trị chủ yếu là tăng số doanh nghiệp). Sự đầu tư phát triển theo
chiều sâu còn nhiều hạn chế. Theo số liệu thống kê, mức độ phát triển của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế không cao: 59% số doanh nghiệp không tăng
quy mô vốn sản xuất, chỉ có 6,2% số doanh nghiệp tăng quy mô vốn gấp đôi.
Mức độ phát triển theo chiều sâu của khu vực ngoài quốc doanh (chủ yếu là
các doanh nghiệp vừa và nhỏ) lại càng thấp hơn. Gần 70% doanh nghiệp tư
nhân và 61% số hợp tác xã không tăng quy mô vốn. (Xem bảng sau)
Bảng 13: Mức độ tăng quy mô vốn theo loại doanh nghiệp những năm
2001 - 2002.
Đơn vị: %
Tổng
số
Mức độ phát triển so với trước
Như cũ
Mở rộng
dưới 1,5
lần

chỉ tiêu đạt được trong năm 2004 và so sánh với năm 2003 của các doanh
nghiệp vừa và nhỏ dựa vào số liệu trong bảng sau:
* Các chỉ tiêu đạt được năm 2004.
Bảng 14: Các chỉ tiêu đạt được của các doanh nghiệp vừa và nhỏ năm
2003, 2004
Đơn vị: %
Tỷ lệ DN 2003 2004
1. Tăng sản xuất
Trong đó > 15%
81
70
48
32
2. Tăng doanh thu
Trong đó tăng đáng kể
75
60
63
39
3. Tăng xuất khẩu
Trong đó tăng đáng kể
70
56
31
19
4. Tăng lợi nhuận
Trong đó tăng đáng kể
65
27
17

biến động do tăng lượng hàng hoá cũng như số công ty có thể thay thế.
- Đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng với giá thành rẻ
hơn và thuận tiện hơn...
- Đa dạng hoá và tăng thu nhập dân cư, góp phần xoá đói giảm nghèo.
2.4. Tình hình thiết bị công nghệ.
Thiết bị, công nghệ của các doanh nghiệp vừa và nhỏ rất lạc hậu. Chỉ trừ
một số ít các doanh nghiệp mới thành lập, còn phần lớn sử dụng thiết bị lạc
hậu tới 20 - 50 lần so với các nước trong khu vực.
Bảng 15: Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị đang sử dụng tại Thành
phố Hồ Chí Minh so với cùng loại trên thế giới (%)
Loại doanh nghiệp
Trình độ công nghệ, máy móc, thiết bị
Hiện đại Trung bình Lạc hậu
1. Quốc doanh 11,4 53,1 35,5
2. Ngoài quốc doanh 0,7 27 60,3
- Công ty cổ phần, TNHH 19,4 54,8 25,8
- Doanh nghiệp tư nhân 19,7 30,3 50
- Hợp tác xã 16,7 33,3 50
- Tổ hợp, cá thể 3,6 22,8 73,6
Chung 10 38 52
Nguồn: Phát triển kinh tế, số 6 - 2003, tr 16.
Năng lực công nghệ và kỹ thuật hạn chế, trang bị vốn thấp (chỉ bằng 3%
mức trang bị kỹ thuật trong doanh nghiệp công nghiệp lớn). Tỷ lệ đổi mới
trang bị rất thấp, nếu lấy Thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm công nghệ cao
nhất cả nước làm ví dụ thì tỷ lệ này cũng chỉ là khoảng 10%/một năm tính
theo vốn đầu tư. Như vậy phải mất 10 năm mới khấu hao hết máy móc thiết bị.
Nhiều sản phẩm công nghệ hiện nay như các sản phẩm điện tử, viễn thông, hoá
thực phẩm có chu kỳ sống rất ngắn. Tỷ lệ công nghệ lạc hậu quá cao. Trong đó
66,3% công nghệ của khu vực ngoài quốc doanh thuộc loại lạc hậu và rất lạc
hậu. Nên với tốc độ đổi mới máy móc thiết bị như trên thì nước ta không thể

Để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể phát triển thuận lợi, môi trường
kinh doanh cần phải ổn định, an toàn. Các yếu tố của môi trường kinh doanh
phải đồng bộ.
Ở Việt Nam, việc chuyển sang cơ chế thị trường và những cố gắng của
Nhà nước trong việc cải cách nhiều lĩnh vực kinh tế - xã hội bước đầu đã tạo
môi trường thuận loại cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển. Điều đó
thể hiện như sau: Đảm bảo ổn định chính trị, kiềm chế lạm phát, xử lý lãi suất
theo quan hệ thị trường, ban hành một số luật, cải cách hệ thống thuế, khuyến
khích xuất khẩu, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế. Tuy vậy, môi trường kinh
doanh chung còn gặp nhiều khó khăn. Để các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể
hoạt động hiệu quả, cần phải giải quyết nhiều vấn đề tạo lập môi trường kinh
doanh thuận lợi hơn. Đây chỉ là một yếu tố quan trọng và cấp bách hiện nay
trong môi trường kinh doanh đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta:
Môi trường luật pháp: Thời gian qua Nhà nước đã có nhiều nỗ lực trong
việc tạo lập khuôn khổ pháp lý cho các loại hình doanh nghiệp hoạt động. Tính
đến cuối năm 2002 nước ta đã có 55 luật, 64 pháp lệnh, 251 Nghị định. Trong
đó có các luật quan trọng mới được ban hành như: Luật Khuyến khích đầu tư
trong nước, Luật Doanh nghiệp nhà nước, Luật Hợp tác xã... Đặc biệt là Luật
Doanh nghiệp đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá X thông qua ngày 12-6-2005 thay thế cho Luật Công ty, Luật Doanh
nghiệp tư nhân trước đây.
Tuy vậy, hệ thống pháp luật chung cho toàn bộ nền kinh tế chưa hoàn
chỉnh, thiếu đồng bộ, thiếu những đạo luật quan trọng khác. Đồng thời qua
việc thực thi luật pháp và các chính sách, trên thực tế đã bộc lộ nhiều nhược
điểm như:
- Môi trường pháp lý đối với các loại hình doanh nghiệp chưa bình đẳng,
kể cả khi hình thành doanh nghiệp cũng như quốc tế hoạt động kinh doanh.
Việc hoạch định chính sách chủ yếu vẫn theo loại hình sở hữu, chưa chú trọng
ngành nghề, quy mô doanh nghiệp. Thiếu bình đẳng giữa luật đầu tư trong
nước và luật đầu tư nước ngoài theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp có

đã ra đời và đi vào hoạt động một cách chập chững và nó không phải là thị
trường vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngoài ra, thị trường còn bị độc
quyền và đặc quyền nặng nề, làm cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ ngay từ khi
ra đời đã phải cạnh tranh không cân sức. Thị trường đầu vào như đất đai,
vốn... đang khó khăn lớn, về cơ bản vẫn là cơ chế "xin cho" bất lợi cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Khó khăn lớn nhất của thị trường trong nước là sức mua
thấp, đặc biệt là ở nông thôn, phần lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa
vươn ra được thị trường ngoại tỉnh và nước ngoài. Thị trường đầu ra bị chèn
ép do hàng ngoại nhập lậu tràn lan, phần lớn thị trường tiêu dùng bị hàng hoá
nước ngoài chiếm lĩnh, thiếu thông tin hướng dẫn về thị trường.
Về thị trường nước ngoài: Do hạn chế về công nghệ, chất lượng sản
phẩm thấp, thiếu thị trường và ít có điều kiện tiếp xúc với thị trường nước
ngoài nên khó xuất khẩu. Nhiều ngành nghề như thủ công mỹ nghệ, mây tre
đan, chạm khảm... bị đình đốn khi mất thị trường Liên Xô và Đông Âu, hơn nữa,
chính sách xuất khẩu theo hạn ngạch hoặc quy định mức vốn tối thiểu đối với
doanh nghiệp tham gia xuất khẩu đã gây khó khăn cho nhiều doanh nghiệp.
Trên thực tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nước ta chủ yếu làm gia công cho
các tổ chức trung gian trong và ngoài nước, xuất khẩu uỷ thác qua các doanh
nghiệp nhà nước quy mô lớn.
Như vậy, khó khăn về thị trường do cả 2 phía: Một mặt, do năng lực,
trình độ hạn chế của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chất lượng hàng hoá thấp,
trình độ quản lý kém; mặt khác, do môi trường thị trường chưa tốt: sức mua
thấp, giá đầu vào cao, thiếu thông tin, bị hàng ngoại chèn ép.
4. Những khó khăn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam.
Do đặc điểm của các doanh nghiệp vừa và nhỏ là quy mô nhỏ, vốn ít,
trình độ công nghệ thấp, năng lực quản lý hạn chế nên các doanh nghiệp này
gặp rất nhiều khó khăn trở ngại trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Dưới
đây là một trong số những khó khăn trở ngại đó.
* Về tài chính: Thiếu vốn đang là một trong những khó khăn tài chính
lớn nhất đối với doanh nghiệp. Nguyên nhân của tình trạng đó vừa mang tính

chung.
* Chưa có sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và cộng đồng như các
hiệp hội nghề nghiệp.
Trên là những khó khăn cơ bản của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt
Nam hiện nay. Tuy nhiên, để tìm ra nguyên nhân của vấn đề cần đánh giá mức
độ khó khăn của các yếu tố khác nhau đối hoạt động của doanh nghiệp. Có
nghĩa là cần xem xét những yếu nào ảnh hưởng lớn nhất tới doanh nghiệp.
Trên cơ sở đó mà có những giải pháp phù hợp cho việc hỗ trợ phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Ta xem xét cách đánh giá sau:
Tiêu chí đánh giá theo thang điểm 1 - 5 (1. Không ảnh hưởng; 5. Ảnh
hưởng rất nhiều). Điểm bình quân của tất cả các yếu tố được xếp từ cao đến
thấp như sau:
* Những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp (điểm
từ 3-5)
- Thị trường xuất khẩu hạn chế: 3,5
- Luật lệ thiếu rõ ràng hay thay đổi: 3,4
- Thuế cao: 3,14
- Thiếu thông tin: 3,09
- Nhu cầu trong nước chưa cao: 3,09
- Vay vốn khó khăn: 3,04
Cùng với cuộc khủng hoảng tài chính trong khu vực, vấn đề mà tất cả
các doanh nghiệp thực sự vấp phải là thiếu thị trường xuất khẩu (các doanh
nghiệp đánh giá mức độ không thuận lợi là 3,5/5). Trong năm 2004 vừa qua,
mặc dù Chính phủ đã có nhiều cố gắng trong sửa đổi luật pháp, tạo môi trường
thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhưng vấn đề luật lệ thiếu rõ ràng, hay thay
đổi dẫn đến không đồng bộ được các doanh nghiệp đánh giá ảnh hưởng không
thuận lợi đứng thứ hai. (Điểm 3,4/5)
* Những yếu tố có ảnh hưởng không thuận lợi tương đối lớn, trên mức
trung bình (2,5 điểm trở lên).
- Buôn lậu, hàng giả: 2,84

theo chiều sâu.
- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ là nhằm huy động mọi nguồn vốn,
tạo nhiều việc làm, góp phần thực hiện chiến lược công nghiệp hoá, hiện đại
hoá.

Trích đoạn Các chính sách hỗ trợ khác đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Chính sách khuyến khích thành lập các tổ chức hỗ trợ và các hiệp hội của các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status