Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Hà Nội: Thực trạng và giải pháp - Pdf 29

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan những thông tin, số liệu được sử dụng trong chuyên đề này
là xác thực và không bị chỉnh sửa. Các tài liệu được sử dụng để phục vụ cho quá trình
xây dựng đề tài là những tài liệu được phép công khai minh bạch. Tôi xin chịu mọi
trách nhiệm liên quan tới tính xác thực và tính công khai của các tài liệu được sử
dụng trong chuyên đề. Ngoài ra, chuyên đề này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi,
vì vậy mọi đánh giá, nhận xét được đưa ra dựa trên quan điểm cá nhân của tôi. Tôi
chịu trách nhiệm về các đánh giá này nhưng không chịu trách nhiệm về tính khách
quan của các đánh giá và phân tích trong chuyên đề này do các đánh giá, phân tích
được đưa ra dựa trên đánh giá chủ quan của cá nhân người viết là tôi. Tất cả các nội
dung của đề tài được xây dựng dựa trên những khảo sát và đánh giá của tôi, do vậy,
các thông tin trong tài liệu có thể trùng lặp với thông tin hiện có. Nhưng tôi xin cam
đoan, mọi đánh giá, phân tích, nhận xét cũng như các ý tưởng, đề xuất trong chuyên
đề này là do tôi tự xây dựng và nghiên cứu và cam kết không có sự sao chép từ bất cứ
một nguồn tài liệu nào. Tôi xin chịu trách nhiệm cho toàn bộ những vấn đề đã được
cam kết ở trên trước Nhà Trường, Khoa Kế hoạch – Phát triển và giảng viên hướng
dẫn PGS.TS. Phạm Văn Vận.
Hà Nội, ngày 8 tháng 5 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Nguyễn Tuấn Việt
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
MỤC LỤC
3.1.Cải cách thủ tục hành chính tạo điều kiện gia nhập thị trường.....................................................41
3.3.Chính sách thuế..........................................................................................................................45
3.4.Chính sách tín dụng và cấp vốn cho kinh tế tư nhân.................................................................49
3.5.Chính sách lao động, tiền lương, đào tạo và khoa học và công nghệ........................................52
3.6.Chính sách hỗ trợ phát triển kinh doanh...................................................................................55
4.Đánh giá chung..............................................................................................................................57
4.1. Những chính sách thành công.......................................................................................................57

quả năng lực thiết bị hiên có…” ( Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII,
1996, tr23). DNVVN có những ưu điểm nổi bật mà các loại hình doanh nghiệp
khác không có được, đặc
biệ
t
trong
thời kì chuyển đổi hiện nay ở đất nước ta như
có sức năng động, có khả năng thích nghi, dễ thay đổi công nghệ, hiệu quả đầu tư
tương đối
cao, dễ quản lý...
Song, DNVVN hiện nay còn ít vốn, trình độ khoa học công nghệ hạn chế,
gặp nhiều khó khăn trong việc nâng cao sức canh tranh của sản phẩm trên thị
trường trong nước cũng như quốc tế, hiệu quả sử dụng vốn thấp... Nói tóm lại
DNVVN chưa phát huy hết vai trò to lớn của mình, ít được sự ưu ái của các ngân
hàng, khó liên doanh liên kết và còn hạn chế về chính sách hỗ trợ vĩ mô của Nhà
nước. Xuất phát từ tình hình thực tế Đất nước nói chung, tình hình DNVVN ở Hà
Nội nói riêng, em đã lựa chọn đề tài: “Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
ở Hà Nội: Thực trạng và giải pháp” với mục đích:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Đánh giá một cách khách quan, đúng đắn thực trạng của DNVVN ở Hà Nội
và các chính sách hỗ trợ. Qua đó hiểu rõ hơn vai trò to lớn của DNVVN, các chính
sách hỗ trợ DNVVN trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Đưa ra một số giải pháp nhằm góp một tiếng nói chung thúc đẩy sự phát
triển DNVVN, đưa nền kinh tế đất nước sớm thành công trong quá trình CNH-
HĐH đất nước.
- Nâng cao trình độ lý luận và tư duy khoa học cho bản thân.
Bố cục của chuyên đề tốt nghiệp gồm ba chương sau:
Chương I: Lý luận chung về DNVVN và sự cần thiết hỗ trợ DNVVN.
Chương II: Thực trạng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Hà Nội.

có vị thế độc quyền trên thị trường, chuyên môn hoá thấp, số đầu mối quản lý
ít,..các tiêu thức này có ưu thế là phản ánh đúng của vấn đề nhưng thường khó
xác định trên thực tế. Do đó, nó chỉ được làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử
dụng trên thực tế để phân loại.
Tiêu thức định lượng: Thường sử dụng các tiêu thức như là số lao động
thường xuyên và không thường xuyên trong doanh nghiệp, giá trị tài sản hay vốn,
doanh thu, lợi nhuận. Trong đó:
- Số lao động có thể là lao động trung bình trong danh sách, lao động
thường xuyên, lao động thực tế...
- Tài sản hoặc vốn có thể dùng tổng giá trị tài sản (hay vốn), tài sản hay vốn
cố định, giá trị tài sản còn lại...
- Doanh thu có thể là tổng doanh thu trong một năm, tổng giá trị gia tăng
trong một năm(hiện nay có xu hướng sử dụng chỉ tiêu này).
DNVVN Việt Nam theo định nghĩa tại Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
“DNVVN là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được
chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn
tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh
nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên)”. Theo
các tiêu chí cụ thể xác định quy mô doanh nghiệp quy định tại Nghị định này thì
DNNVV có thể là các doanh nghiệp có số lao động dưới 300 người hoặc tổng nguồn
vốn dưới 100 tỷ đồng đối với khu vực nông lâm nghiệp và thuỷ sản, hoặc lao động
dưới 100 người hoặc tổng nguồn vốn dưới 50 tỷ đồng đối với khu vực thương mại và
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
dịch vụ. Theo thống kê của Cục Phát triển doanh nghiệp- Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
đến giữa năm 2009, Việt Nam có khoảng hơn 450 nghìn doanh nghiệp đăng ký kinh
doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp, trong đó khoảng 97% là các DNNVV
(phân theo quy mô lao động) và khoảng 94% (phân theo quy mô vốn).
2. Tiêu thức xác định DNVVN:
2.1. Tiêu thức xác định DNVVN ở một số nước trên thế giới:

Số lao động; Doanh thu
Số lao động
Số lao động; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Số lao động; Vốn đầu tư
Số lao động; Tỷ lệ góp vốn
Số lao động
Số lao động; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Số lao động; Tổng giá trị tài sản
Vốn đầu tư; Tổng giá trị tài sản; Doanh thu
Số lao động; Vốn đầu tư
Số lao động
Nguồn: Ban thương mại và đầu tư, tiểu ban kinh doanh vừa và
nhỏ của các nước APEC, 1995.
Ở Indonesia; Tổng cục thống kê nước này phân loại dựa vào số lao động:
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Doanh nghiệp


dướ
i 19 lao động được coi là nhỏ, doanh nghiệp có trên 20 lao
động được coi là vừa và lớn. Bộ công nghiệp xác định DNVVN dựa trên vốn đầu
tư vào máy móc: dưới 70 triệu rupi và tính bình quân trên một lao động có dưới
625 nghìn rupi là doanh nghiệp nhỏ. Còn Ngân hàng Indonesia coi doanh nghiệp
có tài sản dưới 100 triệu rupi là DNVVN. Ở Hồng kông; doanh nghiệp có lao
động dưới 200 người là DNVVN.


Hàn
Quốc; tiêu thức phân loại doanh nghiệp

xuấ
t
,


lý do sau: tất cả các doanh nghiệp đều có số liệu về 2
tiêu thức này ( tính phổ dụng); có thể xác định 2 tiêu thức này ở mọi cấp độ, toàn bộ
nền kinh tế, ngành, doanh nghiệp ( tính khả thi). Trong điều kiện của Việt Nam,
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
đây là 2 tiêu thức có thể xác định được chính xác trị số của chúng (tính chuẩn
xác).
Tuy vậy, 2 tiêu thức này mới chỉ thể hiện được quy mô đầu vào mà chưa
phản ánh được kết quả tổng hợp thông qua kết quả kinh doanh.
Các tiêu thức khác như doanh thu, vốn pháp định, vốn cố định, vốn lưu động,
lợi nhuận... đều có hạn chế là rất khó xác định hoặc không có nhiều ý nghĩa. Tiêu
thức doanh thu (hoặc giá trị gia tăng) có nhiều ý nghĩa vì nó phản ánh quy mô
doanh nghiệp qua kết quả hoạt động của nó (gắn với hiệu
quả). Tuy nhiên trong
điều kiện của Việt Nam, tiêu thức này rất khó xác định
và không có số liệu chính
xác (chẳng hạn do việc dấu doanh thu để chốn
thuế).
Các tiêu thức khác như vốn pháp định, vốn cố định hay số dư vốn lưu động
không phản
ánh

đầy
đủ và thực chất quy mô của doanh nghiệp trong các ngành
khác nhau. Vốn pháp định thường khác xa vốn thực tế và chỉ mang tính hình thức.

xuống
20 tỷ đồng trở
xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
II. Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng trở
xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến 100
tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
III. Thương mại và
dịch vụ
10 người trở

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
triển bền vững" cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại TPHCM và một
số tỉnh miền Đông Nam bộ.
Các bộ tiêu chí đang được sử dụng nhiều trên thế giới, bao gồm bộ tiêu chí
"Phát triển bền vững Dow Jones'" (Dow Jones Sustainability Indexes) và bộ tiêu chí
của tổ chức Global Reporting Initiative (GRI). Riêng với các quốc gia thì có bộ tiêu
chí do Liên hiệp quốc soạn thảo.
Trước hết là bộ tiêu chí Dow Jones được công bố vào năm 1999. Đây là bộ
tiêu chí đầu tiên trên thế giới được thiết lập nhằm đánh giá thành tích trên ba chiều
kích của phát triển bền vững là kinh tế, môi trường và xã hội của các doanh nghiệp
lớn. Dưới đây là nội dung của bộ tiêu chí này:
Các chiều kích của phát
triển bền vững
Các chỉ tiêu
Trọng số của các chỉ
tiêu (%)
Kinh tế
- Qui tắc ứng xử/ tuân theo luật lệ/ hối lộ-đút lót.
- Quản trị doanh nghiệp
- Quản tri rủi ro và khủng hoảng
- Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
5.5
6.0
6.0
Tùy theo ngành nghề
Môi trường
- Thành tích về môi trường
- Có bản báo cáo về môi trường
- Các chỉ tiêu riêng của ngành nghề
7.0

người lao động, vấn đề đảm bảo sức khỏe và an toàn cho người lao động, tổng kinh
phí mà doanh nghiệp đã dùng cho các hoạt động từ thiện.
Tuy nhiên cho đến nay, bộ tiêu chí do GRI thiết lập vào năm 2002 mới được
xem là bộ tiêu chí đầy đủ và rõ ràng nhất dù nó vẫn xoay quanh ba chiều kích của
phát triển bền vững giống như bộ tiêu chí Dow Jones. Cụ thể bộ tiêu chí này như sau:
Các chiều kích Các khía cạnh
Kinh tế - Những tác động kinh tế trực tiếp của doanh nghiệp
- Sự hiện diện trên thị trường
- Những tác động kinh tế gián tiếp
Môi trường - Nguyên vật liệu
- Năng lượng
- Nước sạch
- Đa dạng sinh học
- Rác thải
- Sản phẩm và dịch vụ
- Vận tải
Lao động Nhân công
Quản lý các mối quan hệ lao động
Sức khỏe và an toàn
Đào tạo và giáo dục
Sự đa dạng và cơ hội
Quyền con người Chiến lược và quản lý
Không phân biệt đối xử
Quyền tự do lập nhóm
Lao động trẻ em
Lao động cưỡng bức
Việc tuân thủ các qui tắc lao động và an toàn
Tuân thủ luật lệ địa phương
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

tạo, tự chủ, nhạy bén trong lựa chọn thay đổi mặt hàng. Từ đó doanh nghiệp sẽ tạo ra
sự sống động trong phát triển kinh tế.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
- Sẵn sàng đầu tư vào các lĩnh vực mới, lĩnh vực có mức độ rủi ro cao.
Đó là bởi vì các doanh nghiệp loại này có mức vốn đầu tư nhỏ, sử dụng ít lao
động nên có khả năng mạo hiểm sẵn sàng mạo hiểm. Trong trường hợp thất bại thì
cũng không bị thiệt hại nặng nề như các doanh nghiệp lớn, có thể làm lại từ đầu
được. Bên cạnh đó các doanh nghiệp vừa và nhỏ có động cơ để đi vào các lĩnh vực
mới này: do tính chất nhỏ bé về quy mô nên khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn
trong sản xuất dây chuyền hàng loạt. Họ phải dựa vào lợi nhuận thu được từ các cuộc
kinh doanh mạo hiểm.
- Dễ dàng đổi mới trang thiết bị, đổi mới công nghệ, hoạt động hiệu quả với chi phí
cố định thấp.
Doanh nghiệp có nguồn vốn kinh doanh ít nên đầu tư vào các tài sản cố định
cũng ít, do đó dễ tiến hành đổi mới trang thiết bị khi điều kiện cho phép. Đồng thời
doanh nghiệp tận dụng được lao động dồi dào để thay thế vốn. Với chiến lược phát
triển, đầu tư đúng đắn,sử dụng hợp lý các nguồn lực của mình, các doanh nghiệp vừa
và nhỏ có thể đạt được hiệu quả kinh tế - xã hội cao, cũng như có thể sản xuất được
hàng hoá có chất lượng tốt và có sức cạnh tranh trên thị trường ngay cả khi điều kiện
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều hạn chế.
- Không có hoặc ít có xung đột giữa người thuê lao động với người lao động.
Quy mô doanh nghiệp vừa và nhỏ tất nhiên là không lớn lắm. Số lượng lao
động trong một doanh nghiệp không nhiều, sự phân công lao động trong xí nghiệp
chưa quá mức rõ rệt. Mối quan hệ giữa người thuê lao động và người lao động khá
gắn bó. Nếu xảy ra xung đột, mâu thuẫn thì dễ dàn xếp.
Hạn chế của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Các hạn chế của loại hình doanh nghiệp này đến từ hai nguồn. Các hạn chế
khách quan đến từ thực tế bên ngoài, và các hạn chế đến từ chính các lợi thế của
doanh nghiệp vừa và nhỏ.

tạo việc làm và thu nhập cho người lao động, khai thác tận dụng hiệu quả tiềm năng
về vốn, tay nghề và những nguồn lực tiềm ẩn trong dân cư. Nó còn góp phần phân
bố công nghiệp trên các địa
bàn

khác
nhau; giữ vai trò bổ sung cho công nghiệp lớn;
bảo tồn và phát triển các làng nghề truyền thống, thể hiện bản sắc văn hoá dân tộc.
4.1. Mức độ đóng góp của DNVVN Việt Nam trong nền kinh tế
Cho đến nay, chưa có số liệu chính thức được công bố về đóng góp của
khu vực
SME

trong
nền kinh tế Việt Nam. Tuy vậy, theo ước tính, DNNN và
doanh nghiệp có vốn đầu nước ngoài chiếm khoảng 43 - 45% GDP, sản xuất
nông nghiệp chiếm khoảng 27- 30% GDP, thì phần còn lại là sản phẩm của khu
vực DNVVN. Như vậy, các DNVVN không kể sản xuất nông nghiệp, đã tạo ra
khoảng 25-28% GDP. Theo báo cáo gần đây của Tổng cục
Thống kê thì DNTN,
Công ty TNHH, Công ty cổ phần đã tạo ra 8%
GDP;
Hộ kinh doanh cá thể tạo ra
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
8-9% GDP và các Hợp tác xã đã tạo ra khoảng 9% GDP.
- Do số lượng DNVVN tăng nhanh nên mặt hàng phong phú, đáp ứng ngày
càng tốt hơn nhu cầu c

a

nông

nghiệp,
nông thôn.
DNVVN với mạng lưới rộng khắp đã có truyền thống gắn bó với nông nghiệp và
kinh tế xã hội nông thôn sẽ là động lực thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nông thôn
phát triển. Sẽ hình thành những tụ điểm, cụm công - nông nghiệp để tác động
chuyển hoá sản xuất nông nghiệp theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
4.4. DNVVN góp phần tích cực trong việc lưu thông hàng hoá và XK
Trong những năm 1950 các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ lấy mục tiêu
phục vụ thị trường trong nước là chính, đáp ứng nhu cầu trong nước và sử dung có
hiệu quả nguồn nhân lực. Khi
nêng

kinh
tế phát triển, sức mua tăng lên, nhu cầu
lớn hơn, các DNVVN nhạy bén trong việc điều chỉnh cơ cấu, tăng doanh thu. Điều
này rất khó thực hiện ở các doanh nghiệp lớn khi muốn đa dạng hoá các mặt hàng
sản xuất. Trong khi các DNVVN số lượng đông đảo và hoạt động có hiệu quả, họ có
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
thể tự sản xuất thay thế nhập khẩu.
Đầu thập kỷ 60, Chính phủ nhiều nước đã quyết định phát triển DNVVN
theo định hướng xuât khẩu. Bên cạnh việc góp phần lưu thông hàng hoá trong nước,
các doanh nghiệp đều lấy thị trường quốc tế làm thị trường chính.
Trước đây việc tiêu thụ sản phẩm ở nước ngoài phải do trung gian ngoại
thương làm môi giới, nhưng trong những năm gần đây DNVVN đã có khả năng tự
thúc đẩy tiêu thụ hàng hoá trên thế giới. Đây cũng là sự tương đồng ở Việt Nam, các
doanh nghiệp có quy mô nhỏ, khả năng lưu thông trong nước lẫn ngoài nước đều

tư thế nhỏ gọn, năng động, dễ quản lý, không cần thiết quá nhiều vốn, các
DNVVN rất linh hoạt trong việc đòi hỏi, phát triển và tránh những thiệt hại to lớn
do môi trường khách quan tác động. Trong những năm gần đây, các DNVVN của
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
các nước phải ứng phó với sự tăng giá của đồng tiền trong nước,
sự
thi
ếu
lao động
tạm thời và vấn đề ô nhiễm môi trường. Do dễ dàng quản lý, các DNVVN rất linh
hoạt trong việc điều chỉnh kết cấu sản xuất, chuyển kênh tiêu thụ ở nước ngoài để
tránh sự mất mát ngoại hối do đồng tiền trong nước tăng giá. Khả năng ứng biến
của DNVVN đối với sự đột biến của hoàn cảnh không thể không kể đến vai trò trợ
giúp tích cực của Chính phủ.
Các DNVVN dễ dàng tạo nên sự phát triển cân đối giữa các vùng và góp
phần giảm bớt nạn thất nghiệp. Vấn đề phát triển cân đối giữa các vùng không
thể thành công nếu nước đó chỉ chú trọng đến việc phát triển cân đối giữa các
doanh nghiệp đại quy mô. Ở nhiều nước, tính phổ biến các DNVVN rất có lợi thế
trong việc tuyển dụng nhân công tại địa phương và tận dụng các tài nguyên, tư liệu
sẵn có của địa phương. Lợi nhuận của các DNVVN góp phần tái sản xuất, đầu tư
cho địa phương, do đó hiệu quả kinh tế của các DNVVN cũng là hiệu quả về ổn định
và phát triển kinh tế ở địa phương. Các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ là khu vực
kinh tế thu hút nhiều lao động, có thể tạo ra nhiều
công ăn việc làm,góp phần giảm
bớt nạn thất nghiệp của mỗi địa phương nói
riêng và của nền kinh tế nói chung.
Theo tư liệu mấy năm gần đây, các DNVVN trong ngành thương nghiệp là các
doah nghiệp tạo việc làm nhiều nhất cho công nhân. Bởi vì số lượng các doanh
nghiệp loại

năm 2007 thì có tới 97% số doanh nghiệp được điều tra là các doanh nghiệp nhỏ và
vừa (DNNVV) nếu phân theo số lao động (dưới 300 người) và 95% nếu phân theo
vốn đăng ký (dưới 10 tỷ đồng)
1
. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh mà chủ yếu là
các DNNVV đã và đang đóng góp vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế
quốc dân. Đây là khu vực phát triển nhanh nhất trong khu vực doanh nghiệp. Các
DNNVV có vai trò tạo việc làm mới
2
, sử dụng gần 4 triệu lao động, chiếm gần 50%
lao động trong khu vực doanh nghiệp, đóng góp hơn 40% GDP và 29% tổng kim
ngạch xuất khẩu của cả nước, khoảng 14,8% tổng thu ngân sách Nhà nước. Và điều
dễ nhận thấy là các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã có những đóng góp quan trọng trong
việc xoá đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn.
Mặc dù có những đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân, các
DNNVV với đặc trưng riêng của mình thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình
phát triển như: đất đai, vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, thị trường,... Những khó
khăn này có chiều hướng gia tăng trong điều kiện kinh tế toàn cầu suy giảm, nền kinh
tế Việt Nam đang gặp nhiều khó khăn với tốc độ tăng trưởng chỉ khoảng gần 4%
trong 6 tháng đầu năm 2009. Những khó khăn của nền kinh tế sẽ tác động đến các
hoạt động của DNNVV trong đó đáng kể nhất là đối với các khía cạnh tài chính
(nguồn tín dụng sẽ bị hạn chế, khả năng chi trả của doanh nghiệp thấp nên sẽ khó
vay), thị trường bị thu hẹp, đặc biệt là thị trường quốc tế, giải quyết lao động cho
người lao động. Mặc dù đã có những dấu hiệu phục hồi của kinh tế thế giới cũng như
kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, theo ước tính những khó khăn, thách thức vẫn còn ảnh
hưởng đáng kể đến hoạt động của các doanh nghiệp. Ước tính có khoảng 20% số các
doanh nghiệp sẽ bị phá sản hoặc có nguy cơ phá sản, 60% doanh nghiệp bị đình trệ
hoặc thu hẹp sản xuất, kinh doanh trong năm 2009. Hệ quả là các doanh nghiệp nói
chung, đặc biệt là các DNNVV khó có thể tránh khỏi xảy việc cắt giảm số lượng lao
động và từ đó làm tăng số lượng thất nghiệp đối với người lao động, nhất là lao động

III. Kinh ngh i ệm h ỗ trợ x uấ t nhậ p k h ẩ u cho DNVVN c ủ a m ộ t số
n ước:
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang đặt ra những thách thức
lớn cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung đặc biệt là DNVVN ngoài quốc
doanh nói riêng trong mọi lĩnh vực và
quan

trọng
nhất là lĩnh vực xuất nhập khẩu.
Với những khó khăn đó DNVVN ngoài quốc doanh sẽ phải quyết tâm rất lớn, bên
cạnh đó thì sự hỗ trợ của Nhà nước trong hoàn cảnh đó là một
điều rất cần thiết
đối với họ.
Một trong những biện pháp có ý nghĩa lúc này là những kinh nghiệm thành
công cũng như thất bại của các nước đi trước có thành tựu lớn trong phát triển
kinh tế và thực hiện công nghiệp hoá nhanh, có điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá
tương đồng với chúng ta.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Các biện pháp hỗ trợ của Đài Loan
Đài Loan là một quốc gia điển hình có nhiều DNVVN. Sự thần kỳ của kinh tế
Đài Loan cũng gắn với mức tăng trưởng cao và sự phồn vinh của các DNVVN. Quá
trình phát triển này cũng gắn liền với nỗ lực của các xí nghiệp nhỏ và vừa trong
sản xuất, tiết kiệm nhằm tăng sức cạnh tranh và đẩy mạnh xuất

tục ban hành các pháp lệnh "khuyến khích đầu tư", "đầu tư hoa kiều"...Với nhiều
ưu đãi dành cho các SME thực hiện tái sản xuất mở rộng và đổi mới thiết bị. Chẳng
hạn, Chính phủ miễn thuế 5 năm cho các xí nghiệp mới xây dựng, miễn thuế 4
năm cho các xí nghiệp đổi mới thiết bị tính từ lúc bắt đầu bán sản phẩm. Bên cạnh
đó, Đài Loan còn thực hiện biện pháp "hạn chế lập xưởng", nghĩa là trên cơ sở
đánh giá thị trường, chính quyền hạn chế khắt khe đầu tư vào một số ngành nào đó
để đảm bảo có thị trường cho các DNVVN trọng điểm, tránh tình trạng sản xuất
trùng lặp, gây lãng phí tiền lương, lao động và vốn.
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Trong thời gian 1970-1977 Đài Loan đã miễn giảm thuế, việc giảm thuế đã
kích thích đầu tư. Do đó, số DNVVN mới không ngừng tăng lên, các DNVVN cũ
không ngừng gia tăng tài sản, khiến cho mức thuế cơ bản tăng lên, và giá trị tuyệt
đối của thuế cũng không ngừng tăng lên. Cho tới những năm 80, Chính quyền Đài
Loan ban hành một hệ thống chính sách tổng hợp hỗ trợ SME và ngay lập tức đã có
tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của khu vực này, tạo nên một nàn sóng phát
triển các DNVVN.
Hệ

thống
chính sách hỗ trợ SME của Đài Loan hiện nay bao
gồm:
1. Chính sách hỗ trợ về tài chính tín dụng
2. Chính sách hỗ trợ về công nghệ
3. Chính sách nghiên cứu và phát triển
4. Chính sách về kiểm soát chất lượng sản phẩm
5. Chính sách quản lý đào tạo
6. Chính sách an toàn công nghiệp
7. Chính sách hỗ trợ nghiên cứu thị trường quốc tế
8. Chính sách trợ giúp các SME hợp tác lẫn nhau cùng phát triển

thành
tựu lớn trong ngoại thương. Cụ thể
xin xem dưới bảng sau:
Bảng 3: Tỷ lệ xuất khẩu của DNVVN thời kỳ 1976-1988.
Đơn vị:100%
Thời
kỳ
Tổng DN lớn DNV&N
1976
1977
1978
1979
1980
1981
1982
1983
1984
1985
100
100
100
100
100
100
100
100
100
100
43,2
41,8

đầu tư theo mục tiêu.
Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu đối với công nghiệp.
Thứ nhất: Hệ thống tái cấp vốn tín dụng xuất khẩu. Để thực hiện mục tiêu
của Chính phủ nhằm thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu hàng công nghiệp chế biến,
Ngân hàng Trung ương Malaysia và Ngân hàng Negara đã thực hiện hệ thống tái
cấp vốn tín dụng xuất khẩu với lãi suất ưu đãi cho các nhà
xuất khẩu nói chung và
các
DNVVN
Malaysia nói riêng, tạo điều kiện cho
họ
cạnh tranh hữu hiệu hơn
trên thị trường quốc tế. Các đặc tính chính của hệ

thống này là:
- Hệ thông này do các Ngân hàng thương mại thực hiện, và Ngân hàng
Negara sẽ tái cấp vốn cho Ngân hàng thương mại để tăng tín dụng xuất khẩu cho
nhà xuất khẩu. Nhà xuất khẩu có thể có hoá đơn xuất khẩu ghi bằng ngoại tệ,
nhưng việc cấp vốn chỉ thực hiện bằng đồng ringgit Malaysia.
- Có hai loại tín dụng trong hệ thống này, đó là tín dụng xuất khẩu trước khi
giao hàng được sử dụng để cấp vốn lưu động cho các nhà xuất khẩu trực tiếp và gián
tiếp (người cung cấp các khoản đầu vào cho người xuất khẩu cuối cùng), và tín
dụng xuất khẩu sau khi giao hàng tạo điều kiện cho nhà xuất khẩu Malaysia có
vốn ngay sau khi xuất khẩu hàng hoá theo phương thức trả chậm.
- Để được phép nhận tín dụng xuất khẩu hàng xuất khẩu phải thoả mãn các
tiêu chuẩn sau
đây:

Mộ
t là, sản phẩm không thuộc vào danh mục không được

-Triển lãm và/hoặc tham gia vào các triển lãm công nghiệp và thương mại
được Bộ công nghiệp và thương mại quốc tế chấp thuận.
- Các dịch vụ phục vụ công tác quan hệ xã hội liên quan đến xuất khẩu
- Cước phí đi công tác ra nước ngoài của nhân viên.
- Chi phí ăn, ở các cán bộ kinh doanh người Malaysia ra nước ngoài
Các biện pháp khuyến khích xuất khẩu đối với ngành nông nghiệp.
Trợ cấp xuất khẩu bằng 5% kim ngạch xuất khẩu được thực hiện để
khuyến khích xuất khẩu một số sản phẩm nông nghiệp nhất định theo quy định của
Bộ trưởng Bộ Thương mại. Khoản tiền này được cấp bằng cách khấu trừ trực tiếp
từ lãi gộp của công ty. Nếu khoản này vượt quá khoản lãi gộp thì coi như bị lỗ và
được chuyển sang năm tài chính tiếp theo.
Ngoài những biện pháp đã nêu ở trên, để tăng cường khả năng xuất khẩu
của các DNVVN. Chính phủ Malaysia còn miễn thuế nhập khẩu toàn bộ đối với
nguyên vật liệu trong trường hợp DNVVN sản
xuấ
t
thành
phẩm để xuất khẩu với
điều kiện các vật tư nguyên liệu đó chưa được sản xuất ở trong nước, hoặc
đ
ã
được sản xuất ở trong nước nhưng với chất lượng và giá cả chưa thể chấp nhận
được.
3. Các biện pháp hỗ trợ của Hàn Quốc
Xem xét quá trình phát triển kinh tế của Hàn Quốc từ cuối thập kỷ 50 đến
nay, có thể
nhận

thấy
nổi lên 3 giai đoạn phát triển với những ưu điểm phát triển

Lãi suất cho vay đối với xuất khẩu từ 6-10%, trong khi mức lãi suất chung
là 17-23%.
Từ

cuố
i những năm 1980, sự chênh lệch lãi suất mới được xoá bỏ. Nếu
xem xét mức lãi suất trên thị
trường
tài chính phi chính thức tại thời điểm đó vào
khoảng hơn 30%, thì sự ưu đãi đối với xuất khẩu qua tín dụng lãi suất thấp thật
lớn. Hầu như mọi khoản tín dụng xuất khẩu đều được hỗ trợ thông qua cơ chế tạo
tiền của Ngân hàng Trung ương dưới hình thức chiết khấu. Trong khoảng thời gian
từ 1976-1986 tỷ lệ tín dụng của Ngân hàng Hàn Quốc trong tổng số khoản vay của
Ngân hàng nội địa là 79,4%, đặc
biệt vào những năm 1973-1981 tỷ lệ này lên tới
90,1%.
III.3. Các biện pháp hỗ trợ khác
Ngoài ra còn có rất nhiều biện pháp hỗ trợ khác của Chính phủ đối với hoạt
động xuất
nhập

khẩu
của các DNVVN như chiết khấu thuế ra khỏi giá mua thiết bị
và phương tiện đầu tư để sản xuất; trợ cấp cho việc cải tiến đóng gói và mẫu mã
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

Trích đoạn Chính sách hỗ trợ phát triển kinh doanh Chính sách hỗ trợ công nghệ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status