Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của tỉnh Thanh Hóa - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN THỊ HẢI LÝ

NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGUỒN NHÂN LỰC
CỦA TỈNH THANH HOÁ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội, 2011
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Danh mục các ký hiệu và chữ viết tắt
i
Danh mục các bảng
iii
Danh mục các hình vẽ, đồ thị
iiii
Mở đầu

1
Chƣơng 1.
Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lƣợng NNL
6
1.1.
Chất lượng NNL …………
6
1.1.1.
Khái niệm và vai trò của chất lượng NNL
6
1.1.2.
Tiêu chí đánh giá chất lượng NNL
14
1.1.3
Những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng NNL
18
1.2.
Nâng cao chất lượng NNL tại một số địa phương và bài
học kinh nghiệm
22
1.2.1.
Nâng cao chất lượng NNL tại TP Hà Nội

Phân tích thực trạng chất lượng NNL ở Thanh Hoá
58
2.2.1.
Quy mô và cơ cấu NNL
58
2.2.2.
Phân tích tình hình chất lượng NNL ở Thanh Hoá
60
2.3.
Đánh giá chung về chất lượng NNL ở Thanh Hoá
70
2.3.1.
Những thành công
70
2.3.2.
Những hạn chế và nguyên nhân
72

Kết luận chương 2
77
Chƣơng 3.
Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao
78

chất lƣợng NNL ở Thanh Hoá

3.1.
Bối cảnh kinh tế mới và phương hướng nâng cao chất
lượng NNL ở Thanh Hoá
78

Kết luận chương 3
121

Kết luận
122

Tài liệu tham khảo
124

Phụ lục

i

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
APEC
Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương
2
AFTA
Khu vực mậu dịch tự do Đông Nam Á
3
ASEAN
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
4
ASEM
Diễn đàn hợp tác Á-Âu

15
KH-CN
Khoa học-công nghệ
16
KT-XH
Kinh tế - xã hội
17


18
LĐKT
Lao động kỹ thuật
19
LĐ-TB&XH
Lao động-thương binh và xã hội
20
NNL
Nguồn nhân lực
21
NXB
Nhà xuất bản
22
THCN
Trung học chuyên nghiệp
23
THCS
Trung học cơ sở
ii

24

iii

DANH MỤC CÁC BẢNG

STT

Tên bảng
Trang
1
Bảng 2.1
Cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá qua các năm
36
2
Bảng 2.2
Quy mô phát triển khối giáo dục mầm non và phổ
thông
39
3
Bảng 2.3
Mạng lưới trường học
40
4
Bảng 2.4
Hệ thống giáo dục chuyên nghiệp tỉnh Thanh Hoá

58
12
Bảng 2.12
Dân số trong độ tuổi LĐ tỉnh Thanh Hoá
59
13
Bảng 2.13
Cơ cấu LLLĐ chia theo nhóm ngành kinh tế
59
14
Bảng 2.15
Tỷ lệ LĐ qua đào tạo và tỷ lệ LĐ qua đào tạo nghề
66
15
Bảng 2.16
Cơ cấu LĐ có trình độ cao đẳng, đại học trở lên đang
làm việc chia theo nhóm ngành kinh tế quốc dân
68
16
Bảng 3.1
Dự báo LĐ ở Thanh Hoá giai đoạn 2011 – 2015
87 iv

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

60
7
Hình 1.1
Sơ đồ hệ thống phân loại NNL
8
8
Hộp 2.1
Đào tạo của trường Đại học Hồng Đức
45 1
MỞ ĐẨU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh toàn cầu hoá, nhất là toàn cầu hóa trên lĩnh vực kinh tế
đã và đang thúc đẩy Việt Nam tiến nhanh, tiến mạnh hơn vào nền kinh tế tri
thức. Việt Nam đang trong quá trình thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá (CNH, HĐH) đất nước, để tạo bước nhảy vọt về phát triển kinh
tế, nhất là khi đã gia nhập vào các tổ chức kinh tế khu vực và thế giới như
APEC, AFTA, WTO thì vấn đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực (NNL)
đủ sức cạnh tranh cho nền kinh tế đang là nhu cầu hết sức cấp bách của Việt
Nam, đòi hỏi những thay đổi mang tính đột phá.
Là một tỉnh ở bắc miền trung, Thanh Hoá nằm trong vùng ảnh hưởng
của những tác động từ vùng kinh tế trọng điểm bắc bộ, các tỉnh bắc Lào và

vấn đề này, trong đó cần kể đến những công trình sau đây:
- Nhóm tác giả Đỗ Minh Cương và Mạc Văn Tiến với đề tài khoa học
độc lập cấp nhà nước “Phát triển LĐKT ở Việt Nam giai đoạn 2001-2010”.
- Tác giả Trần Thị Tuyết Mai với luận án tiến sĩ kinh tế: “Phát triển
NNL trong phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam”
- Tác giả Phạm Văn Quý với luận án tiến sĩ kinh tế “Các giải pháp chủ
yếu nhằm phát triển NNL khoa học công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp
hoá hiện đại hoá”
- Tác giả Nguyễn Văn Thành với đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ
“NNL chất lượng cao: hiện trạng phát triển, sử dụng và các giải pháp tăng
cường”

3
- Tác giả Vương Quốc Được với đề tài thạc sĩ “Xây dựng NNL cho
CNH, HĐH thành phố Đà Nẵng”.
- Tác giả Lê Ngọc Trà với đề tài cấp Sở “Quy hoạch tào tạo NNL tỉnh
Bình Thuận giai đoạn 2002-2010”.
- Tác giả Phạm Kim Sơn với đề tài cấp thành phố “Chính sách phát
triển nhân lực và thu hút nhân tài công nghệ thông tin thành phố Đà Nẵng”.
Ở nhiều góc độ, cấp độ nghiên cứu khác nhau, các công trình khoa học
nêu trên đã đưa ra những phương diện về lý luận cũng như thực tiễn xoay
quanh nội dung phát triển NNL ở một số tỉnh, thành phố và trên phạm vi cả
nước.
Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tập trung
vào vấn đề nâng cao chất lượng NNL của Thanh Hoá trên giác độ kinh tế
chính trị một cách hệ thống về mặt lý luận cũng như thực tiễn và đưa ra
những giải pháp cần thiết cho vấn đề này. Các công trình nói trên là những tài
liệu tham khảo bổ ích cho tác giả khi viết luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích

cao chất lượng NNL.
- Đánh giá những thành công, những hạn chế và nguyên nhân về chất
lượng NNL ở Thanh Hoá; trên cơ sở đó đề xuất các định hướng và giải pháp
chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng NNL ở Thanh Hóa .

5
- Là tài liệu tham khảo về nâng cao chất lượng NNL có thể được sử
dụng ở Thanh Hóa, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về đào tạo và
phát triển NNL tại địa phương.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn được kết cấu 3 chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chất lượng NNL
Chương 2: Thực trạng chất lượng NNL ở Thanh Hoá
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng
NNL ở Thanh Hoá.
niệm “nguồn lực con người”, thường được hiểu theo nghĩa hẹp là nguồn LĐ
(tổng số người đang có việc làm, số người thất nghiệp và số LĐ dự phòng).

7
Thậm chí có khi còn được hiểu là LLLĐ (số người trong độ tuổi LĐ và có khả
năng LĐ).
Nguồn nhân lực được nghiên cứu trong luận văn là tổng hợp những con
người, chủ thể với những năng lực, phẩm chất nhất định đã, đang và sẽ tham
gia vào quá trình CNH, HĐH.
NNL được biểu hiện trên hai mặt:
- Về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi LĐ và thời gian
làm việc có thể huy động được của họ. Nguồn nhân lực tại một thời điểm
thường được xác định là bao nhiêu hay chiếm tỷ lệ bao nhiêu phần trăm trong
tổng dân số. Việc quy định cụ thể độ tuổi LĐ của mỗi quốc gia (kể cả cận
dưới và cận trên) rất khác nhau tuỳ theo yêu cầu của trình độ phát triển của
nền kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn. Hiện nay, Bộ luật LĐ Việt Nam quy
định độ tuổi LĐ từ đủ 15 đến 60 tuổi (với nam) và đủ 15 đến 55 (với nữ).
- Về chất lượng NNL, đó là các chỉ tiêu về tình trạng sức khoẻ, trình độ
kiến thức, tay nghề, tác phong nghề nghiệp, cơ cấu NNL về tuổi tác, giới tính,
phẩm chất đạo đức
NNL bao gồm (xem hình 1.1):
- NNL sẵn có: Gồm toàn bộ những người trong độ tuổi LĐ, có khả
năng LĐ, không kể đến trạng thái có hay không tham gia hoạt động kinh tế và
những người trên độ tuổi LĐ đang tham gia hoạt động kinh tế. Theo thống kê
của Liên Hợp quốc, khái niệm này gọi là dân cư hoạt động, nghĩa là tất cả
những người có khả năng làm việc tính theo độ tuổi LĐ quy định.
- NNL dự trữ: Chênh lệch giữa NNL sẵn có trong dân cư và NNL tham
gia hoạt động kinh tế là NNL dự trữ, bao gồm:
+ Những người đang đi học ở các trường THPT và chuyên nghiệp được
coi là NNL dự trữ quan trọng và có chất lượng. Đây là NNL ở độ tuổi thanh

NNL sẵn có trong dân

NNL dự trữ
NNL tham gia hoạt
động kinh tế
Đang
làm
nghĩa
vụ
quân
sụ
Lực
lượng lao
động
đang thất
nghiệp
Lao động
đang làm
việc trong
các ngành
kinh tế
quốc dân
Đi
học
Nội
trợ
Chưa

nhu
cầu


10
trong nước để sẵn sàng đón nhận tiến bộ kỹ thuật – công nghệ, hoà nhập với
nhịp độ phát triển của nhân loại.
1.1.1.2. Vai trò của chất lượng NNL
NNL là nhân tố quan trọng nhất của lực lượng sản xuất trong quá trình
đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Vị trí, vai trò của NNL được thể
hiện ở tất cả các mặt, lĩnh vực, các quan hệ trong đời sống KT - XH, an ninh,
quốc phòng của quốc gia, đặc biệt có vai trò quan trọng trong tăng trưởng
kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh của toàn
cầu hoá kinh tế và của nền kinh tế tri thức.
Thứ nhất, Chất lượng NNL với tăng trưởng kinh tế.
Bài toán tăng trưởng kinh tế của bất cứ một quốc gia nào, dù nước đó
giàu hay nghèo cũng đều được giải đáp bằng việc phát huy, sử dụng có hiệu
quả bốn nguồn lực cơ bản đó là NNL, tài nguyên thiên nhiên, vốn và công
nghệ. Tuỳ theo điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, sử dụng, phát huy định
lượng, tỷ trọng và định tính các nguồn lực trong tăng trưởng kinh tế ở mỗi
quốc gia là rất khác nhau và trình độ kết hợp chúng hiệu quả cũng đem lại kết
quả tăng trưởng kinh tế khác nhau.
Thực tiễn các nước phát triển cho thấy, giữa các nguồn lực thúc đẩy
quá trình phát triển KT-XH có mối quan hệ nhân quả với nhau trong quá trình
phát triển của mỗi quốc gia. So với các nguồn lực khác, NNL với yếu tố hàng
đầu là trí tuệ, chất xám, có ưu thế nổi bật ở chỗ nó không bị cạn kiệt nếu biết
bồi dưỡng, khai thác và sử dụng hợp lý, còn các nguồn lực khác dù nhiều đến
đâu cũng chỉ là yếu tố hữu hạn, chúng không có sức mạnh tự thân và sẽ cạn
kiệt dần trong quá trình khai thác, sử dụng của con người. Hơn thế nữa, các
nguồn lực này chỉ phát huy được tác dụng khi kết hợp được với nguồn lực
con người một cách có hiệu quả. Do vậy, chỉ có NNL mới là tài nguyên vô
tận, không bao giờ bị cạn kiệt, có khả năng phục hồi và tự tái sinh nếu biết


diễn ra một cách nhanh chóng, khách quan, không một quốc gia nào có thể
đứng ngoài.
Trong thời gian qua nhờ chủ động hội nhập kinh tế quốc tế đã đem lại
cho nền kinh tế Việt Nam những thành quả đáng khích lệ. Thực hiện chủ
trương đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, đến nay nước ta đã có
quan hệ thương mại với 221 quốc gia và vùng lãnh thổ, đã tham gia vào các tổ
chức, diễn đàn quốc tế lớn như: ASEAN, APEC, ASEM, WTO…. Nhờ gia
tăng quan hệ kinh tế thương mại, gia tăng kim ngạch xuất khẩu nên đã góp
phần tăng trưởng kinh tế Việt Nam những năm qua. Từ một nước có tốc độ
tăng trưởng kém, đến nay, Việt Nam luôn đạt tốc độ tăng trưởng hơn 7%,
đứng thứ hai sau Trung Quốc.
Song, theo đánh giá của thế giới, năng lực cạnh tranh nền kinh tế là
vấn đề thách thức, đáng lo ngại nhất hiện nay. Báo cáo năng lực cạnh tranh
toàn cầu 2011-2012 do Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF) công bố xếp Việt
Nam ở vị trí thứ 65 trên tổng số 142 quốc gia được khảo sát, rớt 6 bậc so với
năm 2010. Báo cáo xếp loại dựa trên 12 tiêu chí: các định chế, cơ sở hạ tầng,
kinh tế vĩ mô, y tế và giáo dục tiểu học, hàng hóa và tính hiệu quả của thị
trường, giáo dục đào tạo bậc cao, tính hiệu quả của thị trường LĐ, tính sẵn có
của công nghệ, sự phát triển thị trường tài chính, quy mô thị trường, kinh
nghiệm trong kinh doanh và đổi mới [52]. Trong 12 tiêu chí đó, các chỉ tiêu
cơ sở hạ tầng, hàng hoá và tính hiệu quả của thị trường, giáo dục đào tạo bậc
cao và đặc biệt là chỉ tiêu tính sẵn có của công nghệ cũng như chỉ tiêu kinh
nghiệm trong kinh doanh và đổi mới được xếp thứ hạng thấp.
Tuy những chỉ số này để tham khảo, nhưng không được phép coi nó là
bình thường. Về mặt lượng của một nền kinh tế có thể là tăng trưởng cao,

13
nhưng tụt hạng năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với tụt hậu xa hơn về mặt chất
của nền kinh tế.
Thực tế đã chỉ rõ muốn tồn tại và phát triển trong một “thế giới phẳng”

Chất lượng NNL được thể hiện qua một hệ thống các tiêu chí, trong đó
có các tiêu chí chủ yếu sau:
Thứ nhất, Tình trạng sức khoẻ NNL
Sức khoẻ là sự phát triển hài hoà của con ngườii về thể chất cũng như
tinh thần. Sức khỏe thể chất là sự cường tráng, năng lực LĐ chân tay. Sức
khỏe tinh thần là sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, khả năng vận động của
trí tuệ, khả năng biến tư duy thành hành động thực tiễn, khả năng thích ứng
đối phó với các biến động của môi trường xã hội. Hiến chương của tổ chức Y
tế thế giới đã nêu: Sức khỏe là một trạng thái hoàn toàn thoải mái về thể chất,
tinh thần chứ không chỉ không có bệnh tật hay thương tật. Tình trạng sức
khỏe của NNL được phản ánh bằng một hệ thống các chỉ tiêu: tuổi thọ bình
quân của dân số; chiều cao, cân nặng trung bình của người LĐ; chỉ tiêu về y
tế, bệnh tật.
Bên cạnh việc đánh giá tình trạng sức khỏe của người lao đông người ta
còn đưa ra các chỉ tiêu đánh giá của một quốc gia như: tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết, tỷ
lệ tăng tự nhiên, tỷ lệ tử vong của trẻ em dưới một và năm tuổi, tỷ lệ thấp cân
trẻ sơ sinh, tuổi thọ trung bình, cơ cấu giới tính, tuổi tác, mức GDP/đầu người
v.v…
Sức khoẻ của con người là cơ sở tự nhiên giúp con người hoạt động tốt
trong quá trình cải tạo tự nhiên và xã hội. Con người không có sức khoẻ sẽ rất
hạn chế trong quá trình hoạt động. Vì vậy sức khoẻ con người là chỉ tiêu quan
trọng phản chất lượng NNL.
Bộ y tế Việt Nam quy định có 03 loại thể lực:

15
Loại A: Thể lực tốt, không có bệnh tật, có khả năng LĐ tốt;
Loại B: Trung bình, khả năng LĐ bị hạn chế một phần nào đó;
Loại C: Yếu, không có khả năng LĐ.
Sức khoẻ và dinh dưỡng là yếu tố quan trọng tác động đến chất lượng
dân số và NNL. Mối quan hệ giữa sức khoẻ và phát triển là mối quan hệ hai

của NNL được đánh giá thông qua các chỉ tiêu: Tỷ lệ LĐ đã qua đào tạo và
chưa đào tạo; Cơ cấu LĐ đã qua đào tạo theo các cấp trình độ: công nhân kỹ
thuật và sơ cấp, trung học chuyên nghiệp (THCN), cao đẳng, ĐH, trên ĐH.
Theo thống kê điều tra LĐ – việc làm hàng năm, LLLĐ có chuyên môn
kỹ thuật bao gồm:
- Những người đã tốt nghiệp các trường đào tạo từ công nhân kỹ thuật
trở lên
- Những người có bằng sơ cấp, chứng chỉ nghề.
- Những người tuy chưa qua trường lớp nào nhưng tự tìm hiểu, tự học,
vừa học vừa làm, hoặc được truyền nghề mà có trình độ chuyên môn kỹ thuật
tương đương và thực tế đã đảm nhận những công việc đòi hỏi phải có kỹ thuật
từ 5 năm trở lên.
Trong tổng số LĐ có chuyên môn kỹ thuật, những người có trình độ từ
công nhân kỹ thuật có bằng trở lên là bộ phận chủ yếu quyết định chất lượng
của lực lượng LĐ, là vốn nhân lực để phát huy khả năng sáng tạo của con
người góp phần tăng năng suất LĐ xã hội, thúc đẩy nhanh quá trình phát triển
kinh tế - xã hội theo hướng CNH, HĐH.
Chỉ tiêu trình độ chuyên môn kỹ thuật của NNL là chỉ tiêu quan trọng
nhất phản ánh chất lượng NNL, thông qua chỉ tiêu quan trọng này cho thấy
năng lực sản xuất của con người trong ngành, trong một quốc gia, một vùng
lãnh thổ, khả năng sử dụng khoa học hiện đại vào sản xuất.

17
Thứ tư, Chỉ số phát triển con người (HDI – Human Development
Index):
Để xác định trình độ phát triển con người của các nước người ta sử
dụng chỉ số phát triển con người, chỉ số này được Liên hợp quốc đưa ra lần
đầu tiên vào năm 1990 và được cộng đồng thế giới công nhận là chỉ tiêu quan
trọng nhất để đo lường và đánh giá một cách tổng hợp mức độ phát triển của
một quốc gia hay một cộng đồng. Chỉ số này được xác định theo ba chỉ tiêu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status