ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
NGUYỄN THỊ THỤY HƯƠNG PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG
TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 6 031 01
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. TRẦN THỊ THÁI HÀ
Hà Nội, 2006 MỤC LỤC
Thị trường Trái phiếu Chính phủ của một số nước đang phát
triển
20
1.2.3
Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
27
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỊ TRƯỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH
PHỦ Ở VIỆT NAM
30
2.1
Quá trình hình thành và phát triển thị trường Trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam
30
2.1.1
Những nhân tố thúc đẩy sự hình thành thị trường nợ Chính
phủ
30
2.1.2
Quá trình hình thành và phát triển của thị trường Trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam
33
2.2
Thực trạng hoạt động phát hành và giao dịch Trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam
36
2.2.1
Thực trạng hoạt động phát hành
36
2.2.2
Thực trạng hoạt động giao dịch trên thị trường thứ cấp
86
3.2
Một số giải pháp nhằm phát triển thị trường Trái phiếu
Chính phủ ở Việt Nam
92
3.2.1
Giải pháp trước mắt
92
3.2.2
Giải pháp dài hạn
110
KẾT LUẬN
118
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
119
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển thị trường tài chính nhằm tập trung và phân bổ nguồn lực
của nền kinh tế một cách hiệu quả cho tăng trưởng kinh tế là một trong
những nhiệm vụ quan trọng của các quốc gia đang trong quá trình chuyển
đổi nền kinh tế như Việt Nam. Thị trường trái phiếu là một kênh dẫn vốn
hữu hiệu cho nền kinh tế, tạo ra sự đa dạng hoá các công cụ đầu tư, giảm tải
cho hệ thống ngân hàng, cung cấp phương tiện định giá chuẩn cho các nhà
đầu tư nhờ vậy hỗ trợ sự phát triển cả thị trường tiền tệ và thị trường cổ
lợi của Chính phủ và các chính quyền địa phương, cũng như nhu cầu vốn để
tài trợ cho các dự án kinh tế lớn của các doanh nghiệp trong nước, thị trường
trái phiếu Chính phủ cần được hoàn thiện trên nhiều mặt để trở thành một thị
trường theo đúng nghĩa và đảm nhiệm được vai trò to lớn trong nền kinh tế
nước ta.
Luận văn “Phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam” nhằm nghiên cứu
thực trạng, đánh giá những yếu tố thị trường, phi thị trường trong phát hành
và giao dịch trái phiếu ở Việt Nam; đồng thời đề ra một số giải pháp phát
triển thị trường TPCP ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Là một bộ phận không thể thiếu của thị trường chứng khoán, thị
trường trái phiếu nói chung, thị trường TPCP nói riêng là đối tượng của
nhiều công trình nghiên cứu như: „Sử dụng công cụ TPCP để huy động vốn
cho đầu tư phát triển ở Việt Nam’- tác giả: Trần Xuân Hà, năm 2003; „Thị
trường trái phiếu Công ty của một số nước Châu Á sau khủng hoảng và một
số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam’- tác giả Vũ Chí Dũng, năm 2001; „Cơ
sở lý luận và thực tiễn cho việc phát triển thị trường trái phiếu ở Việt Nam’ -
tác giả: Phạm Trọng Bình, năm 2001…
Gần đây nhất, cuộc hội thảo „Phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam’
đã được tổ chức; trong đó, có một số tham luận về xây dựng thị trường TPCP
ở Việt Nam. Ngoài ra, việc xây dựng thị trường TPCP cũng là đề tài nghiên
cứu phổ biến ở nhiều nước trên thế giới.
3
Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu thị trường trái phiếu
dưới những góc độ khác nhau cả về mặt lý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, chưa
có công trình nào nghiên cứu dựa trên cơ sở đánh giá các yếu tố thị trường
và phi thị trường trong phát hành và giao dịch TPCP ở Việt Nam. Do vậy,
luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu về thực trạng phát hành và giao dịch TPCP ở
5
6. Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn
Luận văn cố gắng hệ thống hóa được một số khái niệm liên quan tới thị
trường tài chính, thị trường nợ và thị trường trái phiếu Chính phủ mà trong
một chừng mực nhất định còn là những khái niệm tương đối mới mẻ ở Việt
Nam.
Luận văn đã đưa ra được những nhân tố ảnh hưởng đến việc hình
thành thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam và tổng quan các giai đoạn
phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam.
Trên cơ sở đánh giá thực trạng thị trường TPCP, luận văn đã chỉ rõ
những thành công của thị trường TPCP ở Việt Nam trong thời gian qua,
đồng thời cũng đưa ra được những hạn chế cần khắc phục của thị trường này
trong hoạt động phát hành và giao dịch TPCP như là một thành phần cốt lõi
để từ đó đề xuất các giải pháp phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam.
7. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, Luận văn được bố
cục thành 3 chương với những nội dung sau :
Chƣơng 1 : Phát triển thị trường TPCP cơ sở lý luận và thực tiễn
Chƣơng 2 : Thực trạng phát triển thị trường TPCP ở Việt Nam
Chƣơng 3 : Định hướng và giải pháp phát triển thị trường TPCP
ở Việt Nam
6
CHƢƠNG 1
PHÁT TRIỂN THỊ TRƢỜNG TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1.1. Thị trƣờng trái phiếu Chính phủ trong hệ thống tài chính
1.1.1. Khái quát về thị trường tài chính Việt Nam
- Thị trường tiền tệ là thị trường vốn ngắn hạn, là nơi mua bán ngắn
hạn các giấy tờ có giá. Các giấy tờ có giá được giao dịch trên thị trường tiền
tệ bao gồm tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHTW, trái phiếu kho bạc, trái phiếu
công trình trung ương, trái phiếu đầu tư do ngân sách trung ương thanh toán,
công trái và các loại giấy tờ có giá khác do Thống đốc NHTW quy định
trong từng thời kỳ.
Thị trường tiền tệ bao gồm: Thị trường nội tệ liên ngân hàng (được
thành lâp và đi vào hoạt động năm 1993) và thị trường ngoại tệ liên ngân hàng
(hoạt động từ tháng 10/1994), thị trường đấu thầu tín phiếu kho bạc (hoạt
động từ năm 1995), nghiệp vụ thị trường mở (hoạt động từ tháng 7/2000). Thị
trường tiền tệ là cơ sở quan trọng để NHTW điều hành các công cụ chính sách
tiền tệ, là điều kiện cần thiết cho thị trường vốn phát triển. Từ khi Luật
NHTW và Luật Các tổ chức tín dụng ra đời, hoạt động của thị trường tiền tệ
từng bước được hoàn thiện. Hệ thống cơ sở kỹ thuật, công nghệ ngân hàng
nhất là hệ thống giao dịch và các công cụ giao dịch được hiện đại hóa và đa
dạng. Việc tự do hóa dần lãi suất đã khuyến khích các tổ chức tín dụng tham
gia thị trường. Các nghiệp vụ như cho vay qua đêm, thanh toán bù trừ điện tử,
nghiệp vụ thị trường mở được đưa vào áp dụng và sử dụng linh hoạt.
Thị trường nội tệ liên ngân hàng từng bước được hoàn thiện và có
những tác động tích cực đối với hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín
dụng và điều hành chính sách tiền tệ của NHTW. Trên thị trường ngoại tệ
liên ngân hàng thành viên tham gia thị trường tăng từ 23 năm 1994 lên 59
thành viên năm 2004. Tỷ giá mua bán ngoại tệ (USD) giữa tổ chức tín dụng
với khách hàng được dựa trên tỷ giá bình quân do NHTW công bố. Tỷ lệ kết
hối giảm từ 80% năm 1998 xuống còn 30% năm 2001 và 0% năm 2003.
8
Hoạt động trên thị trường chủ yếu diễn ra một chiều. Hình thức mua bán
ngoại tệ chủ yếu là giao dịch giao ngay, mua bán kỳ hạn chiếm tỷ trọng nhỏ
tiền gửi của tổ chức kinh tế chiếm tỷ trọng lớn nhất chiếm khoảng 50%, tiền
gửi tiết kiệm chiếm khoảng 22%. Nguồn vốn không kỳ hạn và ngắn hạn
chiếm tỷ trọng khoảng 70%. Nguồn vốn trung dài hạn chiếm tỷ trọng thấp
khoảng 30% tổng nguồn vốn, chủ yếu là nguồn vốn có thời hạn từ 1 đến 2
năm, nguồn vốn có thời hạn từ 5 năm trở lên có tỷ trọng không đáng kể
(khoảng 7% tổng nguồn vốn trung dài hạn).
- Thị trường chứng khoán đã được thành lập và đi vào hoạt động từ
tháng 7/2000 đã có những đóng góp ban đầu trong việc huy động nguồn vốn
dài hạn cho nền kinh tế. Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh (TTGDCK TP. HCM) là nơi niêm yết và thực hiện các giao dịch tập
trung của thị trường chứng khoán. Bên cạnh thị trường chính thức còn có thị
trường phi chính thức. Đây là nơi diễn ra các giao dịch chứng khoán không
niêm yết như cổ phiếu của các công ty nhỏ, của các công ty chuẩn bị niêm
yết. Thị trường trái phiếu- một bộ phận của thị trường chứng khoán bắt đầu
hoạt động từ năm 1995. Trái phiếu ở Việt Nam được phát hành bao gồm 3
loại: trái phiếu Chính phủ, trái phiếu đầu tư và trái phiếu công ty. Chính phủ
là chủ thể phát hành trái phiếu lớn nhất của Việt Nam. Các loại trái phiếu
được giao dịch trên thị trường là trái phiếu Chính phủ và trái phiếu công ty.
Từ ngày hoạt động đến nay, trái phiếu công ty chỉ có duy nhất trái phiếu của
ngân hàng Đầu tư và Phát triển giao dịch trên thị trường.
1.1.2. Cấu trúc của thị trường tài chính
Theo cách thức huy động vốn, người ta có thể phân loại thị trường tài
chính thành thị trường nợ và thị trường vốn cổ phần.
1.1.2.1. Thị trường vốn cổ phần
Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán các cổ phần của công ty
cổ phần. Công cụ trên thị trường này là cổ phiếu không có kỳ hạn mà chỉ có
thời điểm phát hành, không có ngày đáo hạn. Người mua cổ phiếu chỉ có thể
lấy lại tiền bằng cách bán lại cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công ty tuyên
bố phá sản. Cổ tức nhận được từ việc nắm giữ cổ phiếu chủ yếu phụ thuộc
11
- Trái phiếu ngoại tệ: là một loại trái phiếu Chính phủ có thời hạn từ
một năm trở lên, nhằm phục vụ các mục tiêu được xác định bởi Thủ tướng
Chính phủ, do Bộ Tài chính phát hành.
- Công trái xây dựng tổ quốc được phát hành bởi Chính phủ nhằm
mục đích huy động các nguồn vốn trong dân chúng cho các hoạt động đầu tư
xây dựng các công trình quan trọng của quốc gia và các công trình cốt yếu
khác nhằm phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất và kỹ thuật cho đất
nước.
1.1.3. Vai trò của thị trường trái phiếu Chính phủ
Thị trường TPCP là một kênh chủ yếu huy động các nguồn vốn trung và
dài hạn cho Chính phủ, do vậy sự tạo lập và phát triển thị trường TPCP có ý
nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trường tài chính cũng như đối
với sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Thị
trường TPCP thực hiện các vai trò chủ yếu sau đây:
1.1.3.1. Tài trợ cho chi tiêu của Chính phủ
Với tư cách là một bộ phận của thị trường tài chính, thị trường TPCP có
vai trò khuyến khích tiết kiệm và thu hút các nguồn vốn đầu tư, góp phần làm
đồng bộ hoá các khu vực thị trường.
TPCP được phát hành để bù đắp thiếu hụt NSNN, tài trợ chi cho chi tiêu
của Chính phủ. Việc vay nợ thông qua TPCP là quan hệ tín dụng Nhà nước,
Nhà nước vay tiền của dân chúng và doanh nghiệp để trang trải các khoản chi
tiêu trong khi nguồn thu về thuế không đủ. Để thực hiện chính sách tài khoá Bộ
Tài chính đưa ra dự toán ngân sách đệ trình Quốc hội phê chuẩn, trong đó xác
định số thu về thuế, nhiệm vụ chi và mức tiền cần huy động trong nước, nước
ngoài để bù đắp thiếu hụt NSNN. Phần vay trong nước chủ yếu thực hiện bằng
cách phát hành các loại trái phiếu. Bên cạnh mục tiêu bù đắp thiếu hụt ngân sách,
Chính phủ còn có thể thực hiện phát hành trái phiếu để huy động vốn cho các dự
thành khối tiền trong lưu thông, bởi vậy việc phát hành trái phiếu có ảnh hưởng
đến cung cầu tiền tệ. Thông qua việc mua vào, bán ra các loại TPCP, Chính phủ
có thể điều chỉnh hoạt động của nền kinh tế. Nếu Chính phủ muốn khuyến
khích hoạt động của nền kinh tế thì Chính phủ mua lại trái phiếu của mình, khi
13
đó giá trái phiếu sẽ tăng và lợi tức trái phiếu sẽ giảm; từ đó sẽ tác động đến giá
và lợi tức trái phiếu của khu vực tư nhân và hạ thấp mức lãi suất chung đồng
thời thông qua việc mua lại TPCP bơm tiền vào lưu thông và kết quả là tăng
khối lượng tiền cung ứng. Nếu muốn điều chỉnh các hoạt động kinh tế Chính
phủ có thể tăng khối lượng trái phiếu bán ra khi đó tỷ lệ lãi suất sẽ tăng lên và
giảm khối lượng tiền cung ứng. Các kỹ thuật này chủ yếu được sử dụng trong
thị trường tín phiếu.
1.1.3.3. Tiền đề để phát triển thị trường trái phiếu Công ty
Thị trường TPCP có vai trò quan trọng trong việc nâng cao lòng tin
của nhà đầu tư vào trái phiếu và thị trường tài chính nói chung, cung cấp
đường cong lãi suất chuẩn là cơ sở cho nhiều quyết định quan trọng trên thị
trường tài chính. Chức năng của thị trường là định giá các chứng khoán do
Chính phủ phát hành dưới sự quản lý của Bộ Tài chính và NHTW, vì vậy tạo
cho các nhà đầu tư sự tin tưởng vào lãi suất trên thị trường, góp phần xây
dựng cấu trúc lãi suất hoàn vốn phù hợp. Lãi suất TPCP, theo kinh nghiệm
của các nước có thị trường trái phiếu phát triển, được coi là lãi suất chuẩn, là
cơ sở tham chiếu cho các loại trái phiếu khác. Do vậy, phát triển thị trường
TPCP để làm cơ sở cho việc phát triển thị trường trái phiếu công ty và thị
trường các sản phẩm phái sinh.
Trong điều kiện nền kinh tế ngày càng phát triển theo hướng thị
trường, việc bao cấp cho các doanh nghiệp nhà nước sẽ bị cắt giảm, thậm chí
là không còn tồn tại. Hệ thống ngân hàng không đủ khả năng cung cấp
nguồn vốn đầu tư cho doanh nghiệp, do các khoản gửi của ngân hàng phần
Chủ thể phát hành TPCP bao gồm chính quyền TW, các tỉnh, thành
phố (chính quyền địa phương) và các cơ quan của Chính phủ, trong đó Chính
phủ TW và các chính quyền địa phương là một trong những chủ thể phát
hành nhiều nhất của thị trường trái phiếu. Chính phủ tham gia thị trường trái
phiếu như một doanh nghiệp bình thường, cung cấp hàng hóa ra thị trường
thông qua việc phát hành trái phiếu (trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính
quyền địa phương, trái phiếu công trình) và Kho bạc Nhà nước là cơ quan
15
thay mặt Chính phủ phát hành các loại trái phiếu nhằm huy động vốn từ các
tầng lớp dân cư phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Các tổ chức
tài chính nhà nước, các tổ chức tài chính, tín dụng được Thủ tướng Chính
phủ chỉ định phát hành trái phiếu đầu tư nhằm huy động vốn để đầu tư theo
chính sách của Chính phủ. Bên cạnh đó, Bộ Tài chính trực tiếp phát hành trái
phiếu ngoại tệ và Chính phủ trực tiếp phát hành công trái xây dựng Tổ quốc.
Chính phủ cũng có thể bảo lãnh cho các trái phiếu do doanh nghiệp phát
hành nhằm huy động vốn cho các dự án đầu tư theo chỉ định của Thủ tướng
Chính phủ. Việc đa dạng hoá các nhà phát hành trái phiếu sẽ tạo khả năng
huy động vốn tốt hơn và làm phong phú thêm chủng loại trái phiếu trên thị
trường.
1.1.4.2. Các nhà đầu tư
Có hai loại chủ thể đầu tư, đó là các nhà đầu tư cá nhân và các nhà đầu
tư có tổ chức. Các nhà đầu tư cá nhân thường là những hộ gia đình, những
người có vốn tiết kiệm, thay vì việc gửi khoản tiền nhàn rỗi này vào ngân
hàng, họ đem mua trái phiếu để hưởng tiền lãi và các khoản chênh lệch giá khi
bán trái phiếu đi. Còn đối với các nhà đầu tư có tổ chức, bao gồm các quỹ đầu
tư, quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, ngân hàng là những tổ chức đầu tư chuyên
nghiệp, có nguồn vốn dài hạn do huy động được từ dân chúng để đầu tư vào
trái phiếu nên họ thường nắm giữ trái phiếu dài hạn. Các ngân hàng mua trái
1.1.4.3. Các tổ chức đăng ký và lưu ký chứng khoán
a. Tổ chức đăng ký chứng khoán thực hiện việc đăng ký sở hữu chứng
khoán cho khách hàng. Việc đăng ký chứng khoán thường phát sinh khi thực
hiện quyền của người sở hữu chứng khoán. Các chứng khoán thường xuyên
được mua đi bán lại trên thị trường, do đó đến thời điểm phát sinh các quyền
đối với chứng khoán (quyền được hưởng lãi, cổ tức; quyền mua cổ phiếu,
trái phiếu; quyền tham dự đại hội cổ đông; ) thì cần thiết phải thực hiện việc
đăng ký chứng khoán để xác định ai là người được hưởng các quyền của các
chứng khoán đó. Tổ chức đăng ký có thể là tổ chức phát hành chứng khoán
17
hoặc tổ chức khác do tổ chức phát hành ủy quyền thực hiện việc đăng ký sở
hữu chứng khoán.
b. Tổ chức lưu ký chứng khoán cung cấp dịch vụ lưu giữ, bảo quản an
toàn và quản lý thông tin về chứng khoán cho khách hàng dưới hình thức mở
tài khoản theo dõi chứng khoán (gọi là tài khoản lưu ký chứng khoán). Đây
là hình thức tập trung chứng khoán để đảm bảo an toàn, tránh giả mạo, mất,
hỏng chứng khoán; nhưng quan trọng hơn là để đảm bảo không mất khả
năng thanh toán các giao dịch chứng khoán trên thị trường tập trung. Việc
tập trung quản lý chứng khoán cho phép các tổ chức phát hành chứng khoán
dưới hình thức phi vật chất (chứng khoán ghi sổ). Với hình thức này tổ chức
phát hành tiết kiệm được chi phí in ấn, người đầu tư không phải bảo quản
chứng khoán và rất thuận tiện trong việc thực hiện giao dịch chứng khoán.
Như vậy có thể nói rằng, tổ chức đăng ký và lưu ký chứng khoán có
vai trò không thể thiếu trong hoạt động của thị trường chứng khoán. Mô hình
phổ biến hiện nay của các thị trường chứng khoán trên thế giới là thành lập
một trung tâm lưu ký chứng khoán độc lập trên phạm vi quốc gia với hình
thức sở hữu thành viên hoặc công ty cổ phần. Tại Việt Nam, ngày 27/7/2005
Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 189/2005/QĐ-TTg về việc thành
thức ghi sổ tại Ngân hàng Dự trữ liên bang. Điều này có nghĩa là nhà đầu tư chỉ
giữ giấy biên nhận làm bằng chứng sở hữu thay cho chứng chỉ trái phiếu, do đó
tạo thuận lợi cho việc chuyển nhượng sở hữu trái phiếu. Phần thu nhập từ lãi
trái phiếu Chính phủ phải chịu thuế theo mức thuế thu nhập liên bang những
được miễn thuế thu nhập bang và địa phương. Các thị trường giao dịch toàn cầu
đều giao dịch các trái khoán của chính phủ Mỹ vào bất cứ lúc nào ngày hay
đêm với mức giá không ngờ tới và với chi phí giao dịch thấp do lãi suất của trái
phiếu Chính phủ Mỹ được coi là lãi suất chuẩn không chỉ trong nền kinh tế Mỹ
mà còn trên các thị trường vốn toàn cầu. Có hai nguyên nhân tạo nên vai trò
quan trọng của trái phiếu Chính phủ Mỹ đó là khối lượng tính theo tổng giá trị
trái phiếu bằng đồng USD đang lưu hành và tính thanh khoản của nó. Ở Mỹ,
các đợt phát hành trái phiếu bắt buộc phải có đại diện người sở hữu trái phiếu,
19
được phát hành theo mức giá xác định (theo lãi suất coupon đảm bảo hưởng
mức lợi suất như mức lợi của các đợt phát hành trên thị trường thứ cấp có thời
hạn tương đương). Để thực hiện hoạt động của thị trường mở, Cục Dự trữ liên
bang chỉ cho phép các nhà kinh doanh sơ cấp và các ngân hàng thương mại lớn
được tham gia đặt thầu cho mình và cho khách hàng, còn các nhà kinh doanh
khác chỉ được tham gia đặt thầu cạnh tranh cho riêng mình và phải thực hiện ký
quỹ để đảm bảo họ có khả năng hoàn thành nghĩa vụ mua trái phiếu mà họ đặt
thầu. Bên cạnh, việc các nhà kinh doanh sơ cấp đủ tiêu chuẩn được ưu tiên
không cần phải ký quỹ khi đặt thầu cho khách hàng, tuy nhiên họ không được
phép đặt thầu trên 30% tổng giá trị của mỗi đợt phát hành.
Với tất cả các đợt phát hành trái phiếu kho bạc Bộ Tài Chính thường
tổ chức đấu thầu định kỳ (thường là 3 tháng/lần) được tổ chức dưới hình thức
đấu thầu vi tính hoá thay vì phải gửi dự thầu niêm phong tới Cục dự trữ liên
bang để thị trường có sự chuẩn bị lần lượt đón nhận các đợt phát hành. Chính
phủ Mỹ áp dụng hai hình thức đấu thầu để xác định mức lợi suất trái phiếu
Thị trường TPCP Nhật bản xuất hiện khá muộn (cuối những năm 1960
đầu những năm 1970) để bù đắp thâm hụt ngân sách. Cho đến nay, thị trường
trái phiếu Nhật Bản là một thị trường lớn trên thế giới và đã vượt lên trên thị
trường Mỹ về khối lượng trái phiếu phát hành. Thị trường trái phiếu sơ cấp
và thị trường trái phiếu thứ cấp Nhật Bản tương đối phát triển. Trái phiếu
Chính phủ Nhật bản gồm tín phiếu, TPCP trung và dài hạn, và TPCP siêu
dài hạn, trái phiếu công trình, trái phiếu thanh toán các khoản nợ.v.v. được
phát hành theo nhiều phương thức: bán lẻ, bảo lãnh phát hành, đấu thầu,
nhưng chủ yếu là áp dụng phương thức đấu thầu và bảo lãnh phát hành. Kỳ
hạn phát hành đa dạng từ ngắn hạn (90 ngày, 180 ngày), trung hạn 2-5 năm,
dài hạn 7-12 năm và 12-30 năm. Lãi suất phát hành bao gồm phương thức
phát hành theo hình thức lãi suất cố định, lãi suất thả nổi, lãi suất có điều
chỉnh theo lạm phát hoặc theo hình thức coupon và đã hình thành đường
cong lãi suất chuẩn.
Phương thức bảo lãnh phát hành áp dụng đối với trái phiếu có kỳ hạn
10 năm và 5 năm, Bộ Tài chính Nhật Bản là cơ quan ra quyết định về việc
21
phát hành trái phiếu Chính phủ. Tổ hợp bảo lãnh phát hành trái phiếu bao
gồm các ngân hàng, các TCTD và tiết kiệm, các công ty chứng khoán và các
định chế tài chính nước ngoài. Lãi suất trái phiếu do Bộ Tài chính quy định
trong sự phối hợp với NHTW và tổ chức bảo lãnh phát hành. Trái phiếu
Chính phủ Nhật Bản được niêm yết tại Sở Giao dịch chứng khoán, nhưng
phần lớn các giao dịch được thực hiện qua thị trường OTC. Ngoài ra ở Nhật
còn có trái phiếu do chính quyền địa phương và các cơ quan Chính phủ phát
hành. Chính quyền địa phương muốn phát hành trái phiếu phải xin phép Bộ
Nội vụ. Trái phiếu chính quyền địa phương Nhật Bản có thời hạn từ 1-10
năm. Hiện nay có 23 tổ chức phát hành trái phiếu chính quyền địa phương ra
công chúng. Đóng vai trò quan trọng trên thị trường trái phiếu công ty của