TIỂU LUẬN: Phát triển thị trường trái phiếu Chính Phủ tại Việt Nam - Pdf 12

TIỂU LUẬN:
Phát triển thị trường trái phiếu
Chính Phủ tại Việt Nam
MỞ ĐẦU
* * *
1_ Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển thị trường trái phiếu, đặc biệt là TPCP được coi là một trong những
ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam từ nay
đến năm 2020. Với mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao mà Việt Nam đang thực
hiện, nhu cầu vốn đầu tư xã hội hàng năm ở Việt Nam ước chừng cần khoảng 39%
GDP. Để huy động được nguồn vốn này, Chính Phủ Việt Nam hiện đang nỗ lực thực
hiện việc thu hút vốn qua nhiều kênh huy động khác nhau, trong đó kênh huy động
vốn qua thị trường trái phiếu Chính Phủ là một ưu tiên quan trọng. Để thị trường trái
phiếu Chính Phủ đáp ứng được mục tiêu huy động vốn cho nền kinh tế, cần phải đưa
ra được các biện pháp giải quyết phù hợp, phối hợp đồng đều giữa hai mảng thị
trường phát hành và thị trường giao dịch TPCP. Chính vì vậy, Đề tài “ phát triển thị
trường trái phiếu Chính Phủ tại Việt Nam “ được viết với mục tiêu tập trung vào
nghiên cứu lý thuyết kết hợp thực tiễn đối với thị trường TPCP nhằm tạo lập một thị
trường giao dịch hiệu quả tại Việt Nam.

Chương 1: Các vấn đề cơ bản về thị trường trái phiếu Chính Phủ
1.1. Khái quát về trái phiếu Chính Phủ
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm trái phiếu Chính Phủ
1.1.1.1. Khái niệm
Trái phiếu là một loại chứng khoán quy định nghĩa vụ của người phát
hành(người vay tiền) phải trả cho người nắm giữ chứng khoán(người cho vay) một
khoản tiền xác định, thường là trong những khoảng thời gian cụ thể, và phải hoàn trả
khoản cho vay ban đầu khi nó đáo hạn. Như vậy, thực chất là với trái phiếu, trái chủ
là người cho vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả hoạt động sử
dụng vốn của người cho vay. Nhà phát hành có nghĩa vụ thanh toán theo các cam kết
nợ được xác định trong hợp đồng vay. Nếu một công ty không hoàn trả được lãi cho
trái phiếu, người ta sẽ xem xét vấn đề phá sản đối với công ty đó. Quyền yêu cầu về
thu nhập và tài sản của trái chủ được ưu tiên trước cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu
thường. Đây sẽ là sự đảm bảo quan trọng cho các nhà đầu tư và như vậy trái phiếu có
mức độ rủi ro thấp hơn so với cổ phiếu.
Trái phiếu Chính Phủ do Chính Phủ phát hành. Những trái phiếu này được
phát hành nhằm bù đắp sự thiếu hụt Ngân sách Nhà Nước hoặc để xây dựng các công
trình công cộng, hoặc để giải quyết những khó khăn về tài chính. Trái phiếu Chính
Phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán và cũng là loại trái phiếu có tính
thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất của trái phiếu Chính Phủ được xem là lãi
suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ
hạn.Mệnh giá của trái phiếu có thể được ghi bằng đồng ngoại tệ hoặc đồng bản tệ.
Nếu trái phiếu Chính Phủ được phát hành trong nước thì đó là bộ phận hình thành
những khoản nợ trong nước. Nếu trái phiếu Chính Phủ được phát hành tại nước ngoài
thì hình thành một khoản nợ nước ngoài. Trái phiếu Chính Phủ được đảm bảo chắc
chắn bởi uy tín của Chính Phủ và tài sản của quốc gia, trái phiếu Chính Phủ có khả
năng cầm cố, và chuyển nhượng. Các tổ chức nhân đạo, các tổ chức tôn giáo, các


 Trái phiếu kho bạc là: loại trái phiếu Chính Phủ có thời hạn từ 1 năm
trở lên được phát hành với mục đích huy động vốn theo kế hoạch ngân sách nhà nước
hàng năm đã được Quốc hội phê duyệt.
 Trái phiếu đầu tư là: loại trái phiếu Chính Phủ có thời hạn từ một năm
trở lên, bao gồm các loại sau:
+ Trái phiếu huy động vốn cho từng công trình cụ thể thuộc diện
ngân sách đầu tư, năm trong kế hoặch đầu tư đã được Chính Phủ phê duyệt nhưng
chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm kế hoạch
+ Trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển theo kế hoạch
tín dụng đầu tư phát triển hàng năm được Chính Phủ phê duyệt.
 Trái phiếu công trình trung ương là: loại trái phiếu Chính Phủ có kỳ
hạn từ 01 năm trở lên do Kho bạc Nhà nước phát hành, nhằm huy động vốn theo
quyết định của Thủ tướng Chính Phủ, cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của
ngân sách trung ương, đã ghi trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách
trong năm.
 Trái phiếu ngoại tệ là: loại trái phiếu Chính Phủ, có kỳ hạn từ 1 năm trở
lên do Bộ Tài Chính phát hành cho các mục tiêu theo chỉ định của Thủ tướng Chính
Phủ. Đồng tiền phát hành là ngoại tệ tự do chuyển đổi.
 Công trái xây dựng Tổ quốc do Chính Phủ phát hành nhằm huy động
nguồn vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia
và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ
thuật cho đất nước.
1.1.2.2. Phân loại theo thời gian đáo hạn
Do trái phiếu Chính Phủ phát hành có kỳ hạn 1 năm trở lên, nên khi phân loại
TPCP theo thời gian đáo hạn có những loại sau:
 Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;

ngân hàng để nhận lại khoản cho vay.
 Trái phiếu ghi danh: là loại trái phiếu có ghi tên và địa chỉ của
trái chủ, trên chứng chỉ và trên sổ của người phát hành. Hình thức ghi danh có thể chỉ
thực hiện cho phần vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi. Dạng ghi
danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn
toàn không có dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu giữ tên và
địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.
Tuy nhiên, cho dù phân loại theo hình thức nào thì TPCP cũng có những đặc
điểm giống trái phiếu khác về mệnh giá, lãi suất, kì hạn.
 Mệnh giá( giá trị danh nghĩa hay giá trị bề mặt ) là giá trị ghi
trên trái phiếu, nó xác định tổng số tiền gốc mà trái chủ được nhận cho tới hết thời
hạn của trái phiếu. Khác với cổ phần, mệnh giá trái phiếu là yếu tố được xác lập rất
rõ ràng, vì đây là cơ sở đặt nền móng cho các quan hệ nghĩa vụ suốt chiều dài tồn tại
của trái phiếu. Mệnh giá trái phiếu thường được định chuẩn ở các số càng chẵn càng
tốt, tuỳ theo giá trị đồng bạc ở mỗi nước, đồng thời cũng là để giúp cho việc giao
dịch thuận tiện. Thường mỗi thị trường sẽ có những mệnh giá được chuộng nhất và
được khuyến khích sử dụng. Ví dụ ở Mỹ hiện nay, khi nói đến trái phiếu trong TTCK
thì dân chúng có thói quen liên tưởng ngay đến loại 1.000USD. Loại 5.000USD cũng
phổ biến nhưng không bằng loại 1.000USD. Những loại nhỏ hơn 1.000USD gọi là
"baby bond" (trái phiếu nhỏ lẻ) được các công ty cần huy động vét (thường là để lập
quỹ hoàn trái hoặc hoán nợ cho các loại trái phiếu trả lãi cao đã huy động trước đó)
nhưng không nhỏ hơn 1.000USD. Các baby bond phải chịu phí giao dịch đắt hơn.
Tại Việt Nam, trong thời gian khởi động để chuẩn bị cho việc ra đời TTCK, ta
cũng đang quan tâm đến một mệnh giá đồng bộ để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật trong
giao dịch. Có thể nói, Ngân Hàng Đầu Tư Phát Triển VN (BIDV) là nhà phát hành
tiên phong loại trái phiếu tiêu chuẩn này, vào tháng 11 và 12 năm 1999, với các mệnh
giá chuẩn là 10.000.000 VNĐ và 1000 USD.


360 ngày và tháng có 30 ngày (kể cả tháng Hai). Nhưng trái phiếu Chính Phủ thì lại
tính một năm là 365 ngày và tháng tính theo ngày lịch thực tế.
Có 3 loại cơ cấu đáo hạn căn bản của một đợt phát hành trái phiếu:
 Loại trái phiếu có thời hạn cố định (term bonds) đáo hạn tất cả cùng một
lúc.
 Loại trái phiếu đáo hạn theo nhóm (serial bonds) từng kỳ, loại này được
phát hành một đợt nhưng có kỳ đáo hạn khác nhau theo lịch trình định trước. Ví dụ:
một trái phiếu đô thị có lượng phát hành 100 tỷ đồng có lịch đáo hạn mỗi năm 5 tỷ
suốt trong chiều dài tồn tại của đợt đó là 20 năm.
 Loại trái phiếu đáo hạn kết hợp (balloon bonds) đáo hạn từng phần nhưng
đa phần là vào kỳ cuối cùng. Ví dụ một đợt phát hành trái phiếu "balloon" có thể mỗi
năm thu hồi 3% giá trị phát hành ban đầu trong vòng 20 năm, rồi sau đó tất toán 40%
còn lại vào năm đáo hạn. Từ balloon cho ta khái niệm phần phình ra nằm ở cuối trái
bóng.
Để phù hợp với kế hoạch sử dụng tài chính và tính toán hiệu quả kinh tế, một
nhà phát hành có thể bán trái phiếu trải ra qua vài ba năm, họ sẽ thu xếp đợt phát
hành theo từng sê- ri tách biệt.
1.2. Thị trường trái phiếu Chính Phủ
1.2.1. Khái niệm, đặc điểm của thị trường trái phiếu Chính Phủ
Thị trường TPCP là một bộ phận của thị trường chứng khoán, mà TTCK
lại là một bộ phận cấu thành quan trọng của thị trường tài chính. Chính vì vậy, trước
khi tìm hiểu về thị trường TPCP ta sẽ tìm hiểu qua vài nét về thị trường tài chính.
1.2.1.1. Khái niệm, cấu trúc của thị trường tài chính
Thị trường tài chính là nơi diễn ra sự luân chuyển vốn từ những người có
vốn nhàn rỗi tới những người thiếu vốn. Thị trường tài chính cũng có thể được định
nghĩa là nơi mua bán, trao đổi các công cụ tài chính. Hoạt động trên thị trường tài

công cụ tài chính sau khi chúng đã được phát hành trên thị trường sơ cấp. Thị trường
thứ cấp còn được gọi là thị trường thứ hai
1.2.1.2. Khái niệm, đặc điểm thị trường trái phiếu Chính Phủ
Sau khi đã hiểu rõ về thị trường tài chính ta có thể khái quát về thị trường
trái phiếu Chính Phủ đó là:
 Thị trường trái phiếu Chính Phủ là một bộ phận cấu thành của thị
trường tài chính, qua đó Chính Phủ có thể huy động được vốn, bù đắp thâm hụt ngân
sách và đầu tư cơ sở hạ tầng
 Thị trường TPCP là nơi diễn ra các giao dịch mua – bán, trao đổi
TPCP, việc này diễn ra cả trên thị trường phát hành và thị trường giao dịch
 Quy mô của thị trường TPCP thường lớn hơn so với thị trường trái
phiếu doanh nghiệp và cổ phiếu. Ở Mỹ, thị trường chứng khoán cung ứng 30% vốn
trực tiếp trong đó 2% từ cổ phiếu, 4% từ TPDN, 24% từ TPCP.
Bảng 1.1: Các dòng vốn qua hệ thống tài chính đầu tư vào TPCP
Người có vốn
_ Hộ gia đình
_ tổ chức kinh
tế
_ nư
ớc ngoài

Người cần vốn Chính Phủ
V
ốn

V
ốn

- Trái phiếu hóa các nguồn vốn cần huy động, vốn mà Chính Phủ cần sẽ được
huy động thông qua thị trường phát hành.
- Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền nhàn
rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài hạn.
Đặc điểm của thị trường phát hành TPCP
- Thị trường phát hành trái phiếu Chính Phủ là thị trường tạo vốn cho Chính
Phủ và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch. Trên bình diện toàn
bộ nền kinh tế, thị trường phát hành trái phiếu Chính Phủ làm tăng vốn đầu tư.
- Những người bán trái phiếu Chính Phủ trên thị trường trái phiếu Chính Phủ
là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước
- Thị trường phát hành chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng khoán
nhất định, trong thời gian hạn định.
1.2.2.2. Thị trường giao dịch trái phiếu Chính Phủ
Thị trường giao dịch TPCP là nơi giao dịch TPCP đã được phát hành trên thị
trường phát hành. Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu. Thị trường
giao dịch đảm bảo tính thanh khoản cho TPCP đã phát hành.
Đặc điểm của thị trường giao dịch TPCP
- Trên thị trường giao dịch TPCP, các khoản tiền thu được từ việc bán trái
phiếu thuộc về nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ không thuộc về nhà
phát hành. Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những người phát hành trái
phiếu mà vận chuyển giữa những người đầu tư trái phiếu trên thị trường. Thị trường
giao dịch TPCP là một bộ phận quan trọng của thị trường trái phiếu TPCP, gắn bó
chặt chẽ với thị trường phát hành.
- Giao dịch trên thị trường giao dịch phản ảnh nguyên tắc cạnh tranh tự do, giá
trái phiếu Chính Phủ trên thị trường giao dịch do cung và cầu quyết định.
- Thị trường giao dịch TPCP là một thị trường hoạt động liên tục, các nhà đầu
tư có thể mua và bán các chứng khoán nhiều lần trên thị trường giao dịch

năng của thị trường trái phiếu Chính Phủ.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thị trường TPCP
Đánh giá sự phát triển của thị trường TPCP ta dựa trên hai yếu tố: Các yếu tố
định tính, và các yếu tố định lượng
 Các yếu tố định lượng:
+ Doanh số phát hành, giao dịch: Thị trường TPCP càng phát triển thì
lượng vốn huy động được từ việc phát hành, giao dịch TPCP sẽ càng lớn và ngược
lại, nếu lượng vốn huy động được từ việc phát hành, giao dịch TPCP là không đáng
kể thì điều đó có nghĩa là thị trường TPCP còn rất nhỏ bé và chưa phát triển.
+ Số lượng và sự đa dạng về hàng hóa trên thị trường TPCP: sự phát
triển của thị trường trái phiếu Chính Phủ được thể hiện bởi số lượng TPCP phát hành,
giao dịch trên thị trường và sự phong phú về chủng loại hàng hóa trên thị trường, đa
dạng về kỳ hạn TPCP. Nếu hàng hóa trên thị trường trái phiếu Chính Phủ đa dạng sẽ
giúp nhà đầu tư có nhiều lựa chọn hơn, và sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn.
+ Tần suất phát hành, giao dịch TPCP: tần suất phát hành, giao dịch
TPCP phải hợp lí, chưa hẳn tần suất lớn đã là tốt, lượng cung trái phiếu lớn mà cầu
trái phiếu nhỏ thì sẽ làm cho các đợt phát hành bị thất bại. Cần tập trung phát hành
TPCP theo lô lớn.
+ Phí giao dịch: Để thị trường TPCP trở nên sôi động thì phí giao dịch
thấp là một nhân tố thu hút nhà đầu tư.
+ Thời gian giao dịch: Thời gian giao dịch càng rút ngắn càng thể hiện
sự phát triển của thị trường TPCP. Thời gian giao dịch ngắn thể hiện trình độ công
nghệ được nâng cao, thị trường hoạt động chuyên nghiệp hơn.
+ Thành viên tham gia vào thị trường TPCP: một thị trường TPCP phát
triển là thị trường có sự tham gia của nhiều công ty chứng khoán, ngân hàng thương
mại, các quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài, nhà tạo lập thị trường…
 Các yếu tố định tính

nhập của toàn xã hội được nâng cao, phần tích lũy ngày càng lớn, dẫn đến nhu cầu
đầu tư tăng cao, khi Chính Phủ tiến hành thu hút vốn phục vụ cho mục đích đầu tư
phát triển bằng cách phát hành trái phiếu thì các nhà đầu tư sẽ rất an tâm trong việc
bỏ vốn vào đầu tư trung và dài hạn. Trong giai đoạn đầu hình thành và phát triển
TTCK, Chính Phủ sẽ tổ chức tiến hành phát hành TPCP làm mặt hàng chính cho thị
trường. Thêm vào đó, việc tiến hành mua bán TPCP thường xuyên trên thị trường sơ
cấp sẽ giúp cho tính thanh khoản của TPCP được nâng cao và làm nguồn vốn khả
dụng của các tổ chức nắm giữ TPCP được tăng lên, từ đó tạo ra một khung lãi suất
chuẩn cho các loại trái phiếu khác giúp các nhà đầu tư có những sự lựa chọn đầu tư
vốn của mình một cách chính xác và có hiệu quả hơn.
Nếu một quốc gia không có sự ổn định về chính trị và kinh tế sẽ kéo theo đời
sống của người dân cũng gặp khó khăn, điều này đồng nghĩa với việc Chính Phủ sẽ
không huy động được vốn và thị trường TPCP sẽ không phát triển được. Như vậy, Sự
ổn định về chính trị và kinh tế là một yếu tố hết sức quan trọng cho sự phát triển của
thị trường TPCP.
1.3.1.2. Nhân tố pháp lý
Để thị trường TPCP có thể hoạt động và phát triển được thì điều kiện trước tiên
là phải có hệ thống các quy định về pháp luật đối với chính sách phát triển kinh tế
theo từng giai đoạn cụ thể. Để môi trường pháp lý phát huy hiệu lực đối với hoạt
động của thị trường, cần thiết phải có sự phối hợp nhịp nhàng của các cơ quan quản
lý nhà nước và đảm bảo có một khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ và thống nhất. Hệ
thống chính sách có tác động rất lớn đến bản thân TTCK và hoạt động của các doanh
nghiệp. Mỗi thay đổi chính sách có thể kéo theo các tác động tốt hoặc xấu tới TTCK
nói chung và thị trường TPCP nói riêng, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm.
Môi trường pháp luật là yếu tố quan trọng tác động tới TTCK. Do vậy môi trường
pháp lý cần đuợc xem xét trên các góc độ: Hệ thống hành lang pháp lý của TTCK
được xây dựng như thế nào, có đủ bảo vệ quyền lợi chính đáng của người đầu tư hay

phải luôn luôn quan tâm để hài hoà giữa phát triển và kiểm soát lạm phát, trong đó
việc cân đối liều lượng, thời điểm, phương thức áp dụng các biện pháp là rất quan
trọng. Lạm phát cao làm đồng tiền mất giá, kéo theo lãi suất tiết kiệm tăng cao, nhà
đầu tư sẽ phân vân giữa đầu tư vào thị trường trái phiếu hay gửi tiết kiệm. Lạm phát
thuần túy (lạm phát ngầm) không nguy hiểm cho TTCK vì tiền mua cổ phiếu thực
chất là đầu tư vào hiện vật.
 Lãi suất: Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi suất thị
trường càng cao thì các dòng tiền bị chiết khấu với lãi suất càng lớn, do vậy dẫn đến
giá trái phiếu càng nhỏ. Vì vậy, khi lãi suất cao, giá trái phiếu thấp có thể là một cơ
hội tốt để mua vào trái phiếu. Khi kinh tế phát triển mà không có lạm phát lớn thì trái
phiếu dài hạn là đối thủ cạnh tranh trực tiếp số một của cổ phiếu. Lãi suất cao thu hút
dân chúng đầu tư vào trái phiếu, kể cả tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn vì đó là những bến
đậu an toàn cho đồng vốn. Ở mức lãi suất thấp, tiền tiết kiệm được đầu tư vào cổ
phiếu nhiều hơn, tính thanh khoản tăng cao làm TTCK phát triển.
Khi nền kinh tế phát triển tốt thì TTCK có xu hướng đi lên và ngược lại khi kinh
tế giảm sút thì TTCK đi xuống. Như vậy, nếu dự đoán được xu hướng phát triển của
nền kinh tế, thì có thể dự báo được xu thế phát triển chung của TTCK. Vì vậy, các
nhà đầu tư cần phải cố gắng dự đoán tình hình kinh tế để tìm ra những đỉnh điểm của
chu kỳ kinh tế và chọn thời cơ để tham gia hoặc rút lui khỏi thị trường chứng khoán
một cách hợp lý nhất.
1.3.2. Các nhân tố vi mô
1.3.2.1. Nhân tố về các tổ chức trung gian tài chính
Đây là một trong những chủ thể quan trọng của thị trường chứng khoán nói
chung cũng như thị trường trái phiếu Chính Phủ nói riêng, với vai trò của mình các tổ
chức phát hành, kinh doanh , và hỗ trợ cho thị trường thông qua các nghiệp vụ như
bảo lãnh phát hành, đại lý phát hành, mô giới, tư vấn…. Với sự tham gia của các
trung gian tài chính đã tạo động lực thúc đẩy cho thị trường trái phiếu ngày càng phát

2.1. Khái quát quá trình phát triển thị trường trái phiếu Chính Phủ ở Việt Nam
Lịch sử phát hành và sự hình thành phát triển thị trường trái phiếu Chính Phủ
ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn sau:
2.1.1. Giai đoạn trước năm 1990: Giai đoạn chưa hình thành thị trường TPCP
Ở thời kỳ này, nhu cầu chi tiêu cho cuộc kháng chiến là rất lớn, trong khi
nguồn thu của ngân sách Nhà Nước còn hạn hẹp do chính sách giảm thuế của chính
quyền cách mạng, vì vậy việc huy động vốn qua hình thức TPCP đã có ý nghĩa rất
lớn, tuy nhiên, nó còn nhiều hạn chế do nguồn lực tài chính trong dân còn nhỏ, dựa
trên lòng yêu nước là chính, có loại công trái không hoàn cả gốc lẫn lãi mà người dân
vẫn mua, có thể thấy rằng giai đoạn này việc phát hành công trái không dựa trên quan
hệ kinh tế mà là trên quan hệ chính trị, nhằm mục đích phục vụ cho chiến tranh là
chính. Như vậy, ở giai đoạn này chưa tồn tại khái niệm thị trường trái phiếu Chính
Phủ.
2.1.2. Giai đoạn 1990 - nay: Giai đoạn bắt đầu hình thành và phát triển thị trường
trái phiếu Chính Phủ
Trong giai đoạn 1990 đến nay, Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới toàn
diện nền kinh tế - xã hội theo các nghị quyết của đại hội đảng lần thứ VII, VIII và IX.
Nền kinh tế trong giai đoạn này đã liên tục tăng trưởng và đạt được những thành tựu
quan trọng. Nhiệp độ tăng GDP bình quan hàng năm giai đoạn 1991 – 1995 đạt
8,2%, giai đoạn 1996 – 2000 đạt 7,0% và giai đoạn 2001 – 2004 đạt xấp xỉ 7.3%. Để
thực hiện các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội, Đảng và Nhà nước đã
đưa ra những chủ trương, chính sách lớn trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ nói chung và
công tác huy động vốn nói riêng đó là: Xây dựng chính sách tài chính quốc gia và
thực hiện cải cách cơ bản nền tài chính Nhà nước theo hướng thúc đẩy khai thác
nguồn lực trong nước, xây dựng và phát triển thị trường tài chính, từng bước hình
thành thị trường chứng khoán, thu hút các nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu đầu tư phát
triển. Công tác huy động vốn của Chính Phủ trong giai đoạn 1991 – 2004 chủ yếu

đổi trong cách tư duy của Chính Phủ trong chiến lược tạo nguồn vốn trung và dài hạn
phục vụ đầu tư phát triển.Trong giai đoạn này bằng những hình thức phát hành mới,
công tác huy động vốn của Chính Phủ đa có những tiến bộ vượt bậc. Điều này đã tạo
tiền đề cho sự xuất hiện mặc dù chưa thật sự rõ nét thị trường TPCP ở Việt Nam.
2.1.2.2. Giai đoạn 2000 – 2004
Nhằm hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy thị trường TPCP phát triển.
Chính Phủ đã liên tục ban hành những nghị định thay thế cho nghị định 72/CP bằng
nghị định số 01/2000/NĐ-CP, ngày 13/01/2000 và mới đây nhất là nghị định số
141/2003/NĐ-CP, ngày 20/11/2003 của Chính Phủ ban hành về quy chế phát hành
trái phiếu Chính Phủ; nghị định 48/1998/NĐ-CP ngày 1/7/1998 được thay thế bằng
nghị định số 144/2003/NĐ-CP 28/11/2003 về chứng khoán và thị trường chứng
khoán. Thị trường TPCP đã thực sự được xác lập bắt đầu từ tháng 7/2000 khi trung
tâm giao dịch chứng khoán TP.Hồ Chí Minh ra đời, đánh dấu một sự kiện quan trọng
trong dời sống kinh tế - xã hội, nó tạo ra những yêu cầu, thách thức, cũng như cơ hội
mới cho công tác huy động vốn, đặc biệt là nhu cầu hàng hóa để kích thích hoạt động
mua bán, trao đổi và luân chuyển vốn trên thị trường, Từ đây, trái phiếu Chính Phủ
được phát hành theo những phương thức mới là đấu thầu qua trung tâm giao dịch
chứng khoán và bảo lãnh phát hành. Theo đó, các loại TPCP trung và dài hạn đã đủ
tiêu chuẩn niêm yết và giao dịch trên thị trường chứng khoán. Như v ậy sự hình
thành và phát triển thị trường TPCP qua các giai đoạn, đặc biệt là từ khi hệ thống kho
bạc Nhà nước ra đời đến nay, đã giải quyết một số vấn đề sau:
 Tạo nguồn tài chính quan trọng, đáp ứng nhu cầu đầu tư của Chính Phủ
phục vụ công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế đất nước.
 Phát hành TPCP đã trở thành giải pháp có hiệu quả trong việc kiềm chế
lạm phát và chấm dứt phát hành tiền để bù đắp thiếu hụt ngân sách Nhà nước
 Thị trường TPCP phát triển đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị
trường chứng khoán.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status