Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
MỞ ĐẦU
* * *
1_ Tính cấp thiết của đề tài
Phát triển thị trường trái phiếu, đặc biệt là TPCP được coi là một trong
những ưu tiên hàng đầu trong chiến lược phát triển thị trường chứng khoán
Việt Nam từ nay đến năm 2020. Với mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao
mà Việt Nam đang thực hiện, nhu cầu vốn đầu tư xã hội hàng năm ở Việt
Nam ước chừng cần khoảng 39% GDP. Để huy động được nguồn vốn này,
Chính Phủ Việt Nam hiện đang nỗ lực thực hiện việc thu hút vốn qua nhiều
kênh huy động khác nhau, trong đó kênh huy động vốn qua thị trường trái
phiếu Chính Phủ là một ưu tiên quan trọng. Để thị trường trái phiếu Chính
Phủ đáp ứng được mục tiêu huy động vốn cho nền kinh tế, cần phải đưa ra
được các biện pháp giải quyết phù hợp, phối hợp đồng đều giữa hai mảng thị
trường phát hành và thị trường giao dịch TPCP. Chính vì vậy, Đề tài “ phát
triển thị trường trái phiếu Chính Phủ tại Việt Nam “ được viết với mục tiêu
tập trung vào nghiên cứu lý thuyết kết hợp thực tiễn đối với thị trường TPCP
nhằm tạo lập một thị trường giao dịch hiệu quả tại Việt Nam.
2_ Mục đích nghiên cứu
Bài viết nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn cho việc phát triển thị
trường trái phiếu Chính Phủ ở Việt Nam hiện nay, qua đó làm sáng tỏ những
vấn đề về lí luận và đánh giá thực trạng thị trường trái phiếu Chính Phủ ở Việt
Nam , từ đây đề ra những giải pháp nhằm phát triển thị trường TPCP.
3_ Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu : Thị trường trái phiếu Chính Phủ
1
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Phạm vi nghiên cứu: Thị trường trái phiếu Chính Phủ ở Việt Nam
những năm vừa qua.
4_ Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên nguyên tắc khách quan, toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể,
nghĩa vụ thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay.
Nếu một công ty không hoàn trả được lãi cho trái phiếu, người ta sẽ xem xét
vấn đề phá sản đối với công ty đó. Quyền yêu cầu về thu nhập và tài sản của
trái chủ được ưu tiên trước cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu thường. Đây sẽ là sự
đảm bảo quan trọng cho các nhà đầu tư và như vậy trái phiếu có mức độ rủi ro
thấp hơn so với cổ phiếu.
Trái phiếu Chính Phủ do Chính Phủ phát hành. Những trái phiếu này
được phát hành nhằm bù đắp sự thiếu hụt Ngân sách Nhà Nước hoặc để xây
dựng các công trình công cộng, hoặc để giải quyết những khó khăn về tài
chính. Trái phiếu Chính Phủ là loại chứng khoán không có rủi ro thanh toán
và cũng là loại trái phiếu có tính thanh khoản cao. Do đặc điểm đó, lãi suất
của trái phiếu Chính Phủ được xem là lãi suất chuẩn để làm căn cứ ấn định lãi
suất của các công cụ nợ khác có cùng kỳ hạn.Mệnh giá của trái phiếu có thể
được ghi bằng đồng ngoại tệ hoặc đồng bản tệ. Nếu trái phiếu Chính Phủ
3
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
được phát hành trong nước thì đó là bộ phận hình thành những khoản nợ
trong nước. Nếu trái phiếu Chính Phủ được phát hành tại nước ngoài thì hình
thành một khoản nợ nước ngoài. Trái phiếu Chính Phủ được đảm bảo chắc
chắn bởi uy tín của Chính Phủ và tài sản của quốc gia, trái phiếu Chính Phủ
có khả năng cầm cố, và chuyển nhượng. Các tổ chức nhân đạo, các tổ chức
tôn giáo, các công ty phục vụ cho mục đích công cộng thường ưu tiên mua
trước và được miễn giảm phí giao dịch. Hệ thống ngân hàng là người trợ giúp
đắc lực của nhà nước trong quá trình phát hành và thanh toán trái phiếu Chính
Phủ.
1.1.1.2. Đặc điểm của trái phiếu Chính Phủ
Thông qua khái niệm về trái phiếu Chính Phủ ở trên, ta thấy TPCP là công
cụ vay nợ đặc biệt của Chính Phủ, nó có độ an toàn cao. Vì nó đặc biệt nên
ngoài những đặc điểm chung của trái phiếu, TPCP còn có những đặc điểm
riêng đó là:
+ Trái phiếu huy động vốn cho Quỹ hỗ trợ phát triển theo kế
hoạch tín dụng đầu tư phát triển hàng năm được Chính Phủ phê duyệt.
5
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
• Trái phiếu công trình trung ương là: loại trái phiếu Chính Phủ có
kỳ hạn từ 01 năm trở lên do Kho bạc Nhà nước phát hành, nhằm
huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính Phủ, cho các
dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của ngân sách trung ương, đã ghi
trong kế hoạch nhưng chưa được bố trí vốn ngân sách trong năm.
• Trái phiếu ngoại tệ là: loại trái phiếu Chính Phủ, có kỳ hạn từ 1
năm trở lên do Bộ Tài Chính phát hành cho các mục tiêu theo chỉ
định của Thủ tướng Chính Phủ. Đồng tiền phát hành là ngoại tệ
tự do chuyển đổi.
• Công trái xây dựng Tổ quốc do Chính Phủ phát hành nhằm huy
động nguồn vốn trong nhân dân để đầu tư xây dựng những công
trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục
vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước.
1.1.2.2. Phân loại theo thời gian đáo hạn
Do trái phiếu Chính Phủ phát hành có kỳ hạn 1 năm trở lên, nên khi
phân loại TPCP theo thời gian đáo hạn có những loại sau:
• Trái phiếu ngắn hạn (Shorts) có thời hạn từ 1 đến 5 năm;
• Trái phiếu trung hạn (Mediums) có thời hạn từ 5 đến 15 năm;
• Trái phiếu dài hạn (Longs) có thời hạn hơn 15 năm;
• Trái phiếu vô hạn (Perpetuities) không có ghi ngày đáo hạn.
1.1.2.3. Phân loại khác
Theo hình thức sử dụng vốn: Trái phiếu kho bạc gắn với việc thực hiện
những chính sách tài khóa, trái phiếu đầu tư huy động vốn cho các công trình
thuộc diện ngân sách nhà nước cấp phát…
6
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
vốn gốc, cũng có thể là ghi danh toàn bộ, cả gốc lẫn lãi.
Dạng ghi danh toàn bộ mà đang ngày càng phổ biến là
hình thức ghi sổ. Trái phiếu ghi sổ hoàn toàn không có
dạng vật chất, quyền sở hữu được xác nhận bằng việc lưu
giữ tên và địa chỉ của chủ sở hữu trên máy tính.
Tuy nhiên, cho dù phân loại theo hình thức nào thì TPCP cũng có
những đặc điểm giống trái phiếu khác về mệnh giá, lãi suất, kì hạn.
• Mệnh giá( giá trị danh nghĩa hay giá trị bề mặt ) là giá trị
ghi trên trái phiếu, nó xác định tổng số tiền gốc mà trái chủ
được nhận cho tới hết thời hạn của trái phiếu. Khác với cổ
phần, mệnh giá trái phiếu là yếu tố được xác lập rất rõ
ràng, vì đây là cơ sở đặt nền móng cho các quan hệ nghĩa
vụ suốt chiều dài tồn tại của trái phiếu. Mệnh giá trái phiếu
thường được định chuẩn ở các số càng chẵn càng tốt, tuỳ
theo giá trị đồng bạc ở mỗi nước, đồng thời cũng là để
giúp cho việc giao dịch thuận tiện. Thường mỗi thị trường
sẽ có những mệnh giá được chuộng nhất và được khuyến
khích sử dụng. Ví dụ ở Mỹ hiện nay, khi nói đến trái phiếu
trong TTCK thì dân chúng có thói quen liên tưởng ngay
đến loại 1.000USD. Loại 5.000USD cũng phổ biến nhưng
không bằng loại 1.000USD. Những loại nhỏ hơn
1.000USD gọi là "baby bond" (trái phiếu nhỏ lẻ) được các
công ty cần huy động vét (thường là để lập quỹ hoàn trái
8
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
hoặc hoán nợ cho các loại trái phiếu trả lãi cao đã huy
động trước đó) nhưng không nhỏ hơn 1.000USD. Các
baby bond phải chịu phí giao dịch đắt hơn.
Tại Việt Nam, trong thời gian khởi động để chuẩn bị cho việc ra đời
TTCK, ta cũng đang quan tâm đến một mệnh giá đồng bộ để đáp ứng yêu cầu
trái phiếu. Với tất cả các loại trái phiếu bình thường, việc
hoàn trả lại tiền gốc sẽ được thực hiện vào ngày đáo hạn
(maturity). Ngày đáo hạn còn là cơ sở quan trọng để xác
định các kỳ trả lãi. Kỳ trả lãi được xác định mỗi năm hai
lần. Ví dụ: trái phiếu J&J, trả lãi vào ngày 1 tháng Giêng
và 1 tháng Bảy; trái phiếu F&A trả lãi vào ngày 1 tháng
Hai và 1 tháng Tám; J&D trả lãi ngày 1 tháng Sáu và 1
tháng Chạp (dương lịch),… Tại các thị trường phát triển,
việc quy định số ngày trong năm và phương pháp đếm
ngày được chuẩn hoá tuỳ theo loại trái phiếu. Ở Mỹ trái
phiếu công ty và trái phiếu đô thị được tính theo năm có
360 ngày và tháng có 30 ngày (kể cả tháng Hai). Nhưng
trái phiếu Chính Phủ thì lại tính một năm là 365 ngày và
tháng tính theo ngày lịch thực tế.
Có 3 loại cơ cấu đáo hạn căn bản của một đợt phát hành trái phiếu:
• Loại trái phiếu có thời hạn cố định (term bonds) đáo hạn tất cả cùng
một lúc.
10
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
• Loại trái phiếu đáo hạn theo nhóm (serial bonds) từng kỳ, loại này
được phát hành một đợt nhưng có kỳ đáo hạn khác nhau theo lịch
trình định trước. Ví dụ: một trái phiếu đô thị có lượng phát hành 100
tỷ đồng có lịch đáo hạn mỗi năm 5 tỷ suốt trong chiều dài tồn tại của
đợt đó là 20 năm.
• Loại trái phiếu đáo hạn kết hợp (balloon bonds) đáo hạn từng phần
nhưng đa phần là vào kỳ cuối cùng. Ví dụ một đợt phát hành trái
phiếu "balloon" có thể mỗi năm thu hồi 3% giá trị phát hành ban
đầu trong vòng 20 năm, rồi sau đó tất toán 40% còn lại vào năm đáo
hạn. Từ balloon cho ta khái niệm phần phình ra nằm ở cuối trái
bóng.
phần. Thị trường nợ là thị trường mua bán các công cụ nợ
như trái phiếu, các khoản cho vay,…Thị trường nợ có đặc
trưng là các công cụ giao dịch đều có kỳ hạn nhât định, có
thể là ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn tùy theo cam kết
nợ giữa chủ nợ và người mắc nợ. sự hoạt động trên thị
trường nợ phụ thuộc rất lớn vào biến động của lãi suất
ngân hàng. Thị trường vốn cổ phần là thị trường mua bán
các cổ phần của công ty cổ phần. Đặc trưng của thị trường
này là các công cụ trên thị trường này không có kỳ hạn mà
chỉ có thời điểm phát hành, không có ngày mãn hạn.
Người mua cổ phiếu chỉ có thể lấy lại tiền bằng cách bán
12
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
lại cổ phiếu trên thị trường hoặc khi công ty tuyên bố phá
sản. Khác với thị trường nợ, hoạt động của thị trường vốn
cổ phần chủ yếu phụ thuộc vào hiệu quả kinh doanh của
công ty cổ phần.
• Căn cứ vào tính chất của việc phát hành các công cụ tài
chính, thị trường tài chính được chia thành thị trường sơ
cấp và thị trường thứ cấp. Thị trường sơ cấp là thị trường
trong đó các công cụ tài chính được phát hành lần đầu và
được bán cho người đầu tiên mua chúng. Do là phát hành
lần đầu nên thị trường này còn được gọi là thị trường cấp
một. Thị trường thứ cấp là thị trường giao dịch các công
cụ tài chính sau khi chúng đã được phát hành trên thị
trường sơ cấp. Thị trường thứ cấp còn được gọi là thị
trường thứ hai
1.2.1.2. Khái niệm, đặc điểm thị trường trái phiếu Chính Phủ
Sau khi đã hiểu rõ về thị trường tài chính ta có thể khái quát về thị
trường trái phiếu Chính Phủ đó là:
Vốn
VốnTT TPCPVốn
TGTC
Vốn
(Nguồn: GT TTCK – Khoa NH – TC, ĐH KTQD)
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
- Thực hiện quá trình chu chuyển tài chính trực tiếp đưa các khoản tiền
nhàn rỗi tạm thời trong dân chúng vào đầu tư, chuyển tiền sang dạng vốn dài
hạn.
Đặc điểm của thị trường phát hành TPCP
- Thị trường phát hành trái phiếu Chính Phủ là thị trường tạo vốn cho
Chính Phủ và đồng thời cũng tạo ra hàng hóa cho thị trường giao dịch. Trên
bình diện toàn bộ nền kinh tế, thị trường phát hành trái phiếu Chính Phủ làm
tăng vốn đầu tư.
- Những người bán trái phiếu Chính Phủ trên thị trường trái phiếu
Chính Phủ là Kho bạc, Ngân hàng Nhà nước
- Thị trường phát hành chỉ được tổ chức một lần cho một loại chứng
khoán nhất định, trong thời gian hạn định.
1.2.2.2. Thị trường giao dịch trái phiếu Chính Phủ
Thị trường giao dịch TPCP là nơi giao dịch TPCP đã được phát hành trên
thị trường phát hành. Là thị trường chuyển nhượng quyền sở hữu trái phiếu.
Thị trường giao dịch đảm bảo tính thanh khoản cho TPCP đã phát hành.
Đặc điểm của thị trường giao dịch TPCP
- Trên thị trường giao dịch TPCP, các khoản tiền thu được từ việc bán
trái phiếu thuộc về nhà đầu tư và các nhà kinh doanh trái phiếu chứ không
thuộc về nhà phát hành. Nói cách khác, các luồng vốn không chảy vào những
người phát hành trái phiếu mà vận chuyển giữa những người đầu tư trái phiếu
15
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
trên thị trường. Thị trường giao dịch TPCP là một bộ phận quan trọng của thị
Nước và thực hiện mục tiêu chính sách tài chính, đồng thời tạo công cụ đầu tư
cho các nhà đầu tư. Thị trường sẽ đạt mục tiêu khi tạo khả năng tích tụ, tập
trung tiền cho ngân sách Nhà Nước, chuyển thời hạn vốn, góp phần ổn định
và tăng trưởng kinh tế, tránh lạm phát…Nhưng để đạt được mục tiêu đó, thì
thị trường phải hoạt động với lượng vốn lớn, tính thanh khoản cao, khối
lượng giao dịch lớn, chi phí giao dịch nhỏ, có sự tham gia ngày càng đông của
các nhà đầu tư, đặc biệt nhà đầu tư có tổ chức, cơ sở vật chất kỹ thuật giao
dịch hiện đại, phương thức giao dịch tiên tiến, khả năng linh hoạt lớn, khả
năng kiểm soát thị trường tốt…Như vậy, phát triển thị trường TPCP là sự thay
đổi các yếu tố của thị trường theo hướng tích cực nhằm thực hiện tốt hơn
chức năng của thị trường trái phiếu Chính Phủ.
1.2.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của thị trường TPCP
Đánh giá sự phát triển của thị trường TPCP ta dựa trên hai yếu tố: Các
yếu tố định tính, và các yếu tố định lượng
• Các yếu tố định lượng:
+ Doanh số phát hành, giao dịch: Thị trường TPCP càng phát
triển thì lượng vốn huy động được từ việc phát hành, giao dịch TPCP sẽ càng
lớn và ngược lại, nếu lượng vốn huy động được từ việc phát hành, giao dịch
17
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
TPCP là không đáng kể thì điều đó có nghĩa là thị trường TPCP còn rất nhỏ
bé và chưa phát triển.
+ Số lượng và sự đa dạng về hàng hóa trên thị trường TPCP: sự
phát triển của thị trường trái phiếu Chính Phủ được thể hiện bởi số lượng
TPCP phát hành, giao dịch trên thị trường và sự phong phú về chủng loại
hàng hóa trên thị trường, đa dạng về kỳ hạn TPCP. Nếu hàng hóa trên thị
trường trái phiếu Chính Phủ đa dạng sẽ giúp nhà đầu tư có nhiều lựa chọn
hơn, và sẽ thu hút được nhiều nhà đầu tư hơn.
+ Tần suất phát hành, giao dịch TPCP: tần suất phát hành, giao
dịch TPCP phải hợp lí, chưa hẳn tần suất lớn đã là tốt, lượng cung trái phiếu
Chính Phủ có những bước đi nhằm giúp cho thị trường trái phiếu phát triển và
hoạt động một cách có hiệu quả. Các nhân tố ảnh hưởng đến thị trường TPCP
được chia làm 2 nhân tố chính:
1.3.1. Các nhân tố vĩ mô
1.3.1.1. Nhân tố về sự ổn định chính trị và tăng trưởng kinh tế
Đây là nhân tố quan trọng nhất, nó quyết định tới sự phát triển của thị
trường tài chính nói chung cũng như thị trường TPCP nói riêng của bất kỳ
19
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
quốc gia nào trên thế giới. Cùng với sự ổn định về chính trị thì ổn định môi
trường kinh tế vĩ mô đặc biệt là thị trường tài chính là yếu tố cực kỳ quan
trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Các chỉ tiêu: tốc độ tăng trưởng
GDP, chỉ số lạm phát, tỷ giá hối đoái,… mang yếu tố quyết định khi tiến hành
hoạch định chiến lược phát triển hệ thống tài chính trong đó có thị trường
TPCP.Ngoài ra, các chính sách tài chính tiền tệ cũng có tác động tới sự quản
lý vĩ mô nền kinh tế của Chính Phủ.
Với một quốc gia có sự ổn định về chính trị và kinh tế sẽ làm cho đời
sống, thu nhập của toàn xã hội được nâng cao, phần tích lũy ngày càng lớn,
dẫn đến nhu cầu đầu tư tăng cao, khi Chính Phủ tiến hành thu hút vốn phục vụ
cho mục đích đầu tư phát triển bằng cách phát hành trái phiếu thì các nhà đầu
tư sẽ rất an tâm trong việc bỏ vốn vào đầu tư trung và dài hạn. Trong giai
đoạn đầu hình thành và phát triển TTCK, Chính Phủ sẽ tổ chức tiến hành phát
hành TPCP làm mặt hàng chính cho thị trường. Thêm vào đó, việc tiến hành
mua bán TPCP thường xuyên trên thị trường sơ cấp sẽ giúp cho tính thanh
khoản của TPCP được nâng cao và làm nguồn vốn khả dụng của các tổ chức
nắm giữ TPCP được tăng lên, từ đó tạo ra một khung lãi suất chuẩn cho các
loại trái phiếu khác giúp các nhà đầu tư có những sự lựa chọn đầu tư vốn của
mình một cách chính xác và có hiệu quả hơn.
Nếu một quốc gia không có sự ổn định về chính trị và kinh tế sẽ kéo
theo đời sống của người dân cũng gặp khó khăn, điều này đồng nghĩa với việc
21
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
1.3.1.4. Các nhân tố khác
Ngoài các nhân tố trên, còn có 3 nhân tố vĩ mô cơ bản tác động trực tiếp
đến hoạt động đầu tư trên TTCK nói chung và trên thị trường TPCP nói riêng
• Tỷ giá hối đoái: tỷ giá hối đoái thay đổi không chỉ ảnh hưởng tới thị
trường ngoại hối mà còn tác động tới thị trường trái phiếu. Nguồn vốn
nước ngoài được đầu tư vào thị trường trái phiếu, nếu tỷ giá hối đoái
tăng mạnh sẽ làm nảy sinh lí do khiến các nhà đầu tư nước ngoài rút
vốn khỏi thị trường trái phiếu. Khi một lượng vốn lớn nhanh chóng bị
rút khỏi thị trường sẽ làm giảm giá trái phiếu và điều này sẽ tác động
làm tăng lãi suất. Nếu lãi suất tăng sẽ trở thành gánh nặng cho các
doanh nghiệp. Do vậy, vấn đề hiện nay là cần phải duy trì tỷ giá hối
đoái ở mức cân bằng.
• Lạm phát: là sự mất giá của đồng tiền, nó làm thay đổi hành vi tiêu
dùng và tiết kiệm của dân cư và doanh nghiệp. Tỷ lệ lạm phát không
hợp lý sẽ gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ngăn cản
sự tăng trưởng và đổi mới doanh nghiệp. trong thực tế, cứ tăng trưởng
kinh tế cao thì thường kéo theo lạm phát. Hiện tượng này gần như là
một nguyên lý mà các nhà kinh tế, kế hoạch, tài chính quốc gia phải
luôn luôn quan tâm để hài hoà giữa phát triển và kiểm soát lạm phát,
trong đó việc cân đối liều lượng, thời điểm, phương thức áp dụng các
biện pháp là rất quan trọng. Lạm phát cao làm đồng tiền mất giá, kéo
theo lãi suất tiết kiệm tăng cao, nhà đầu tư sẽ phân vân giữa đầu tư
vào thị trường trái phiếu hay gửi tiết kiệm. Lạm phát thuần túy (lạm
phát ngầm) không nguy hiểm cho TTCK vì tiền mua cổ phiếu thực
chất là đầu tư vào hiện vật.
22
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
• Lãi suất: Giá của trái phiếu là giá trị hiện tại của các dòng tiền. Khi lãi
lượng và cần Chính Phủ phải thực hiện một cách nghiêm chỉnh các cam kết
đối với các nhà đầu tư. Ngoài các yếu tố của bản thân nhà phát hành thì sự hỗ
trợ của Chính Phủ, của các tổ chức trung gian tài chính cũng có ý nghĩa quan
trọng tác động đến quyết định của các nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường
trái phiếu Chính Phủ.
1.3.2.3. Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước
Để bảo vệ quyền lợi của các nhà đầu tư và để tạo lập một thị trường trái
phiếu Chính Phủ hoạt động có hiệu quả thì các cơ quan quản lý nhà nước cần
phải tập trung vào công tác quản lý và giám sát thị trường một cách chặt chẽ,
ngăn chặn kịp thời những hành vi trái pháp luật làm ảnh hưởng xấu tới hoạt
động của thị trường nhằm đảm bảo cho các giao dịch diễn ra minh bạch và
công bằng với tất cả các đối tượng tham gia thị trường.
Kết luận chương 1
Trái phiếu Chính Phủ trong nền kinh tế thị trường là một vấn đề tương
đối mới mẻ và mang tính thời sự, bằng việc sử dụng tổng hợp các phương
pháp nghiên cứu , trong chương 1 đã đưa ra một cái nhìn tổng quan về TPCP
và thị trường TPCP. Đồng thời chỉ ra sự cần thiết của thị trường TPCP trong
việc tăng nhanh tốc độ luân chuyển vốn và khả năng huy động các nguồn vốn
trong nền kinh tế.
24
Chuyên Đề Thực Tập Tốt Nghiệp
Chương 2: Thực trạng thị trường trái phiếu
Chính Phủ ở Việt Nam
2.1. Khái quát quá trình phát triển thị trường trái phiếu Chính Phủ ở
Việt Nam
Lịch sử phát hành và sự hình thành phát triển thị trường trái phiếu
Chính Phủ ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn sau:
2.1.1. Giai đoạn trước năm 1990: Giai đoạn chưa hình thành thị trường
TPCP
Ở thời kỳ này, nhu cầu chi tiêu cho cuộc kháng chiến là rất lớn, trong