Lao động nữ ở nông thôn Việt Nam thực trạng và giải pháp - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGUYỄN KIM THUÝ

LAO ĐỘNG NỮ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ

HÀ NỘI – 2002
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

NGUYỄN KIM THUÝ
LAO ĐỘNG NỮ Ở NÔNG THÔN VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Chuyên ngành: Kinh tế chính trị XHCN
Mã số: 5.02.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Phạm Văn Dũng HÀ NỘI - 2002
MỤC LỤC

26
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG LAO ĐỘNG NỮ Ở NÔNG THÔN VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI
33
2.1 Bối cảnh kinh tế - xã hội của nông nghiệp, nông thôn Việt
Nam ảnh hưởng đến lao động nữ ở nông thôn
33
2.1.1 Đổi mới nền kinh tế
33
2.1.2 Các chính sách kinh tế - xã hội đối với nông nghiệp, nông
thôn
37
2.2 Đặc điểm lao động nữ ở nông thôn Việt Nam
46
2.2.1 Mấy nét về nhân khẩu học
46
2.2.2 Về trình độ học vấn
49 2.3 Những đóng góp chủ yếu của lao động nữ ở nông thôn
51
2.3.1 Hoạt động kinh tế của lao động nữ nông thôn
51
2.3.2 Đóng góp của lao động nữ với kinh tế hộ gia đình
64
2.4 Một số vấn đề đặt ra với lao động nữ nông thôn
70
2.4.1 Về chất lượng nguồn nhân lực
70

110 Lời nói đầu
Phụ nữ là một lực lượng lao động quan trọng trong lực lượng lao động xã
hội, là một nguồn lực tiềm tàng trong sự phát triển. Họ đã và đang tham gia tích
cực vào các hoạt động sản xuất và đóng một vai trò quan trọng trong phát triển
kinh tế ở nông thôn.
Nghiên cứu về người phụ nữ nói chung và lao động nữ nông thôn nói
riêng là một vấn đề đang được đặt ra và có ý nghĩa to lớn thúc đẩy sự phát triển
của nông nghiệp và nông thôn nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Do vậy, trong luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu “Lao động nữ
nông thôn Việt nam - Thực trạng và giải pháp”.
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự giúp đỡ, động
viên nhiệt tình của các thầy cô giáo, đồng nghiệp, bè bạn.
Tác giả xin chân thành cám ơn:
- Khoa Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội đã tạo mọi thuận lợi cho tác giả
hoàn thành chương trình Cao học và bảo vệ luận văn. Tác giả xin chân thành
cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa, đặc biệt xin bày tỏ lòng biết ơn đến thầy
giáo TS. Phạm Văn Dũng - người hướng dẫn khoa học, đã hướng dẫn và giúp đỡ
tác giả hoàn thành luận văn này.
- Trung tâm nghiên cứu Giới, Gia đình và Môi trường trong Phát triển
(CGFED) và GS. Lê Thị Nhâm Tuyết đã tạo điều kiện cho tác giả tham gia các
dự án nghiên cứu để có tư liệu viết nên luận văn.
- Các đồng nghiệp, bè bạn, người thân đã chia sẻ công việc, giúp đỡ tác
giả hoàn thành luận văn.
Tác giả


2. Tình hình nghiên cứu
Khi nói đến lao động nữ, người ta thường nhắc đến cuốn sách “Vai trò của phụ
nữ trong phát triển kinh tế” của Ester Boserup (1970). Theo nhà khoa học nữ này
thì cho đến những năm 1970, những nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù phụ nữ
thường là những người có đóng góp chính vào năng suất chủ yếu của cộng đồng,
nhất là trong nông nghiệp, nhưng những đóng góp của họ không được tính đến
trong thống kê quốc dân cũng như trong kế hoạch hoá và thực hiện các dự án
phát triển. Cuốn sách của E. Boserup đã được coi là lần đầu tiên đặt lại vấn đề
trong cách đánh giá về vai trò của phụ nữ, qua cuốn sách của mình, bà đã chứng
minh vai trò kinh tế của phụ nữ thông qua nghiên cứu phụ nữ nông dân vùng Tây
Sahara, châu Phi. Điều này trước những năm đầu của thập kỷ 70, các nhà tạo lập
chính sách và trong giới nghiên cứu kể cả những nhà khoa học nữ đã không thấy
hết và do vậy không công nhận một cách đúng đắn vai trò kinh tế rất quan trọng
của phụ nữ.
Ở Việt Nam công trình nghiên cứu về phụ nữ đầu tiên xuất bản được phát hành
rộng rãi và dịch ra nhiều thứ tiếng là cuốn “Phụ nữ Việt Nam qua các thời đại”
của Lê Thị Nhâm Tuyết (1973, 1975). Nhìn từ góc độ nhân học xã hội, tác giả đã
phân tích trong cuốn sách những nét cơ bản về các truyền thống của phụ nữ Việt
Nam trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Đặc biệt về vai trò truyền thống của
phụ nữ Việt Nam trong sản xuất nông nghiệp. Cuốn sách đã trình bày nhiều tư
liệu dân tộc học - lịch sử có giá trị khoa học, gây tiếng vang trong giới nghiên
cứu. Một phần tư thế kỷ sau, tác giả cuốn sách “Phụ nữ Việt Nam qua các thời
đại” lại cho xuất bản cuốn “Hình ảnh Phụ nữ Việt Nam trước thềm thế kỷ XXI”
[66]. Như lời giới thiệu cuốn sách của GS. Vũ Khiêu: Cuốn sách này đã thu thập
những ý kiến khác nhau xung quanh những vấn đề lớn của người phụ nữ Việt
Nam và đặc biệt là giới thiệu các kết quả thu được qua các cuộc điều tra khoa
học. Cuốn sách tập trung vào những đặc trưng của người phụ nữ Việt Nam trong
lịch sử, trong lao động nghề nghiệp, trong gia đình, trong quản lý xã hội.


4
3. Mục đích nghiên cứu
Xem xét thực trạng lực lượng lao động nữ ở nông thôn nước ta hiện nay
để thấy được những tiềm năng và trở ngại, hạn chế của họ, từ đó đề ra các giải
pháp để phát huy hơn nữa vai trò của lực lượng lao động này trong sự nghiệp
phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta hiện nay.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn nghiên cứu vấn đề lao động nữ ở
nông thôn Việt Nam, không chỉ với tư cách là một nguồn lực quan trọng, mà còn
là chủ thể quyết định sự phát triển kinh tế-xã hội ở nông thôn.
Luận văn nghiên cứu vấn đề lao động nữ ở nông thôn với bối cảnh kinh tế
- xã hội của nông thôn Việt Nam trong thời kỳ đổi mới.

5. Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử được sử dụng trong luận văn, trong đó các phương pháp cụ thể
sau đây được sử dụng phổ biến: logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, thống

Luận văn cũng khai thác và sử dụng những tài liệu, số liệu đã được công bố,
đồng thời cũng sử dụng các kết quả nghiên cứu trong các đề tài khoa học mà tác
giả đã trực tiếp tham gia từ năm 1996 đến nay.

6. Dự kiến những đóng góp mới của luận văn
- Hệ thống hoá trên phương diện lý thuyết những vấn đề cơ bản về lao động nữ
nông thôn ở các nước đang phát triển, những đặc điểm và các nhân tố ảnh
hưởng.

5
- Làm rõ thực trạng của lực lượng lao động nữ ở nông thôn nước ta hiện nay,

Ở MỘT SỐ NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN

1.1 Đặc điểm của lao động nữ nông thôn ở các nước đang phát
triển
1.1.1 Lao động nữ nông thôn chiếm tỷ trọng lớn trong lực lƣợng lao động
Lao động nữ nông thôn luôn chiếm một tỷ lệ khá cao trong lực lượng lao động
và điều này đúng trong hầu hết các nhóm tuổi. Những nghiên cứu từ các quốc
gia trong khu vực châu Á cho thấy: tỷ lệ tham gia hoạt động kinh tế của phụ nữ
theo các nhóm tuổi khác nhau thường rất cao. Một vài số liệu thống kê sau đây
sẽ chứng minh cho nhận định đó:
Bangladesh: Có 67,3% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng lao động so với
82,5% nam giới. Tỷ lệ này của phụ nữ nông thôn cao gấp hơn 2 lần phụ nữ thành
thị (67,3% và 28,9%). Theo nhóm tuổi, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động nhiều
nhất ở độ tuổi 30-49, tiếp đó là ở các nhóm tuổi 25-29, 50-54. Đáng chú ý rằng,
gần 61% phụ nữ nông thôn ở độ tuổi 60-64 vẫn tham gia lực lượng lao động, cao
gấp gần 2 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi. Đặc biệt phụ nữ nông thôn trên
65 tuổi vẫn có 36% tham gia lực lượng lao động.

Bảng 1.1: Tỷ lệ tham gia lực lƣợng lao động theo nhóm tuổi, giới tính và nơi
cƣ trú, 1989 (%)
Nhóm tuổi
Bangladesh
Thành thị
Nông thôn

Nam
Nữ
Nam
Nữ
Nam

96.5
68.9
92.8
27.8
97.1
76.9
30-34
98.7
74.9
97.9
37.5
98.9
82.2
35-39
98.4
78.0
98.5
40.6
98.4
84.3
40-44
98.3
76.9
98.3
38.1
98.3
82.8
45-49
98.3
75.6

55.9
14.7
66.3
35.8
Nguồn: United Nation (1995), Women of Bangladesh - A Country profile
Khác với Bangladesh, ở Trung Quốc, nhóm phụ nữ nông thôn tham gia lực
lượng lao động cao nhất ở độ tuổi 20-29, tiếp đó là nhóm tuổi 30-39 và giảm dần
theo các nhóm tuổi cao hơn. Điểm tương đồng với Bangladesh là ở nông thôn
Trung Quốc phụ nữ độ tuổi 60-64 vẫn còn 32,53% tham gia lực lượng lao động,
con số này cao gấp 2,5 lần phụ nữ thành thị cùng nhóm tuổi.
Bảng 1.2: Tỷ lệ lao động theo tuổi và giới tính: Điều tra dân số
năm 1982 và 1990 (%)
Nhóm tuổi
Điều tra 1982
Điều tra 1990 Trung Quốc
Thành thị
Nông thôn

Nam
Nữ
Nam
Nữ
Nam
Nữ
Nam
Nữ
15-19

90.93
97.36
89.76
99.17
91.49
35-39
98.86
88.46
98.83
91.02
98.06
89.52
99.16
91.76
40-44
98.63
83.34
98.66
88.12
98.18
85.22
98.86
89.31
45-49
97.47
70.57
97.68
81.01
96.91
73.37

31.11
4.73
32.59
7.95
18.96
3.58
37.02
9.33

Nguồn: United Nation (1997), Women in China - A Country profile

Một đặc điểm là phụ nữ thường làm trong nhiều lĩnh vực khác nhau hơn là nam
giới. Ở các nước phát triển, hầu hết các phụ nữ không tham gia sản xuất nông
nghiệp thì tham gia vào các công việc dịch vụ, nhưng ở các nước đang phát triển,
lực lượng nữ tham gia sản xuất trong các nhà máy đang tăng lên ngang bằng với
số phụ nữ làm việc trong các lĩnh vực dịch vụ. Phụ nữ tham gia sản xuất trong
các lĩnh vực công nghiệp thường tập trung ở một số ngành: 2/3 lực lượng lao
động trong ngành may mặc trên thế giới là phụ nữ, số lượng phụ nữ tham gia
lĩnh vực may mặc chiếm 1/5 số lượng phụ nữ đang lao động trong lĩnh vực công

8
nghiệp. Trong khi đó nam giới lại chiếm tỷ phần lực lượng lao động cao hơn ở
các ngành như: mỏ, cơ khí, xây dựng, giao thông
Mặt khác, do cầu về lao động tăng bền vững trong thời kỳ tăng trưởng nhanh
cũng đã thu hút một lượng lớn phụ nữ tham gia vào lực lượng lao động. Các
ngành kinh tế xuất khẩu quan trọng như may mặc và điện tử cũng dựa vào nguồn
lao động nữ kỹ năng thấp, tuy nhiên phần lớn số lao động này đều biết đọc, biết
viết. Năm 1970, phụ nữ chiếm 26-31% lực lượng lao động tại Singapore,
Indonesia và Malaysia (bảng sau). Cho tới năm 1995, tỷ lệ lao động nữ tại các
nước này đã tăng lên, từ 37-40%. Tại Hàn Quốc, tỷ lệ phụ nữ đi làm ăn lương

35
39
Thái Lan
48
47
46
Nguồn: Ngân hàng thế giới (2001) Đưa vấn đề giới vào phát triển

Việc mở rộng sự tham gia của lao động nữ phần lớn được bắt nguồn từ quá trình
tái cơ cấu sản xuất và việc làm tại các khu vực truyền thống. Tại Indonesia, Hàn
Quốc, Malaysia và Thái Lan, tỷ lệ phụ nữ làm nghề nông đã giảm đi, còn tỷ lệ
phụ nữ làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ lại tăng lên (xem bảng).
Tại Hồng Kông nơi mà nông nghiệp không giữ vị trí quan trọng, sự chuyển dịch
lại xuất hiện từ công nghiệp sang khu vực dịch vụ. Ở Đài Loan, Trung Quốc, các
ngành công nghiệp trong nước đòi hỏi kỹ năng cao hơn, bởi vì các công ty đòi

9
hỏi nhiều lao động giản đơn đã chuyển ra nước ngoài, chủ yếu là vào Trung
Quốc đại lục và sang Đông Nam Á
Bảng 1.4: Sự phân bố theo ngành của lực lƣợng lao động nữ ở Đông Á

(%)

Nền kinh tế
Năm
Nông nghiệp
Công nghiệp
Dịch vụ
Hồng Kông,
1970

56.4
12.5
31.1

1997
39.6
15.4
39.4
Hàn Quốc
1980
37.5
23.1
35.9

1990
20.0
29.5
48.7
Malaysia
1970
66.4
9.9
23.7

1980
49.3
17.7
33.0

1990


Tổng các dòng nếu không bằng 100% là làm tròn hoặc bỏ qua ngành khai khoáng

10
ở các hoạt động khác. Trong năm 1993 tỷ trọng của phụ nữ trong tổng số công
nhân của TVES là 38% trong sản xuất nông nghiệp, 10% trong ngành xây dựng
và 41% ở các hoạt động khác. Trong sản xuất công nghiệp, phụ nữ chiếm tỷ lệ
lớn trong các lĩnh vực như lắp ráp, là những lĩnh vực cần nhiều lao động và sản
xuất những mặt hàng đã được chuẩn hoá và sử dụng công nghệ đơn giản (chẳng
hạn phụ nữ chiếm 60-70% trong những xí nghiệp sản xuất đồ nhựa, dệt và quần
áo).
Bảng 1.5: Tổng số lao động và lao động nữ từ các hộ nông nghiệp ở các khu
vực thành thị và nông thôn theo từng ngành ở Trung quốc, 1990

Công nhân
a
từ các hộ nông nghiệp
bTổng số
Thành thị
c

Nông thôn
Ngoài nông nghiệp (000)
59622
22393
37229
Phần trăm của công nghiệp
64.6

60.9

67.2
- Xây dựng
1.5
2.3
1.0
Vận tải và viễn thông
1.4
1.5
1.3
Thương nghiệp
e

16.9
21.6
16.9
Hoạt động khác
15.6
13.7
16.9
Tỷ lệ phụ nữ
Tổng số

46.1


giai đoạn 6 tháng trước khi điều tra dân số
b
Các cá nhân ở Trung quốc đăng ký tên gọi hoặc “hộ nông nghiệp” “hộ phi nông nghiệp”. Sự khác biệt cơ bản là
các hộ nông nghiệp tự cung tự cấp lúa gạo trong khi các hộ phi nông nghiệp phải mua lương thực từ kho Nhà
nước với giá chính thức thành viên của các công xã (tức là nông dân) đều đăng ký như là các hộ nông nghiệp
c
Thành thị được định nghĩa như là tập hợp cả các quận huyện thành thị thuộc những thành phố có tổ chức cơ cấu
quận huyện; các huyện dân cư ở những thành phố không tổ chức cơ cấu quận huyện thành thị; các vùng dưới sự
quản lý của hội đồng khu vực thuộc những thị trấn thị xã chịu sự điều hành của các thành phố không tổ chức cơ
cấu huyện thị và các thành phố nhỏ (thị trấn thị xã) dưới sự quản lý của các tỉnh. Nông thôn là tất cả những vùng
còn lại
d
Kể cả ngành mỏ, phát điện, cấp nước và công nghiệp chế tạo
e Bao gồm thương nghiệp bán lẻ, cung ứng lương thực thực phẩm, dự trữ hàng hoá11
Hoạt động khác
30.8
31.1
30.6
Nguồn: Uỷ ban các vấn đề xã hội của quốc hội Việt Nam và cơ quan phát triển
quốc tế Canada (1995), Kỷ yếu hội thảo: Vai trò giới tính và nguồn nhân lực
trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội

Một điều tra khác ở 4 khu vực ở Lusaka, Guayaquil ở Ecuador, Metro Manila và
Budapest [78, tr.18] đã cho thấy rằng các hoạt động kinh doanh nhỏ đặc biệt
quan trọng đối với phụ nữ trong thời kỳ cải cách kinh tế. Mặc dầu số lượng phụ
nữ và nam giới tham gia lực lượng lao động tăng lên trong thời gian gần đây,
phụ nữ vẫn phụ thuộc vào lao động sản xuất nhỏ hơn là so với nam giới. Tính

thôn có kiến thức về các công nghệ trồng trọt và chăn nuôi theo phương thức tiên
tiến. Tuy nhiên, những người phụ nữ này cũng không được học các kỹ thuật một
cách có bài bản mà chủ yếu những kiến thức mà họ có được là do học hỏi từ họ
hàng và bạn bè. Khoảng 1/3 trong số này là học được từ các phương tiện truyền
thông trong khi đó chỉ có 1/5 trong số những người này nói là học kinh nghiệm
từ chồng mình. Đàn ông thường không thích nói lại những kiến thức về chăn
nuôi và trồng trọt cho vợ mình nghe. Ở Malawi, phụ nữ kêu ca rằng chồng mình
rất ít khi chịu nói về những kinh nghiệm mà họ biết cho vợ nghe, nếu chồng họ
có nói về những kinh nghiệm thường không nói đúng những điều mà họ muốn
hỏi. Ở Ấn độ, những người phụ nữ học hỏi kinh nghiệm từ họ hàng bạn bè, hàng
xóm và đôi khi từ chồng của họ. Một hạn chế lớn là những loại kinh nghiệm
được truyền đạt kiểu này thường ít khi làm thay đổi được mô hình cách thức sản
xuất của họ.
1.1.3 Bất bình đẳng giới mang tính phổ biến
Bất bình đẳng giới tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển. Điều đó trước hết
bắt nguồn từ tình trạng phụ nữ có học vấn quá thấp, tức là rất ít phụ nữ có kỹ
năng hoặc có điều kiện để cạnh tranh một cách bình đẳng trong những công vệc

13
được trả lương cao. Một nguyên nhân khác không kém phần quan trọng là những
định kiến xã hội coi thường phụ nữ đã được hình thành ở hầu hết các nước đang
phát triển. Do vậy, ngay cả khi phụ nữ có bằng cấp cao và kỹ năng tốt, công việc
mà họ làm vẫn không được ghi nhận một cách xứng đáng.
Gần như ở khắp nơi, mức thu nhập của phụ nữ nông thôn chưa bằng một nửa của
nam giới nông thôn. Có khi, cùng làm một việc như nhau, nam giới được trả
công nhiều hơn phụ nữ. Phổ biến hơn nữa, người ta chia công việc theo giới.
Trong nghề làm gạch ở Kêrala, phụ nữ bị khoanh vào công việc nặng nhọc - chở
gạch bằng xe kéo - và không bao giờ kiếm nổi quá 5 rupi một ngày, trong khi
đàn ông có thể dự kiến kiếm tới 10 rupi hoặc hơn nữa. Lại nữa, trong ngành công
nghiệp xơ dừa, nữ công nhân tước vỏ dừa không kiếm nổi 4 rupi một ngày trong

đem lại sự giảm đi đáng kể về sử dụng lao động đối với cả nam và nữ.
Ngay cả điều này cũng có những ảnh hưởng bất lợi đối với phụ nữ. Lao động của
họ phần lớn được thực hiện bằng công nghệ hiện đại và một vài trường hợp được
thay thế bởi nam giới. Những nghề trước đây do phụ nữ và nam giới đảm nhận
như thu hoạch mùa màng thì do nam giới đảm trách trong khi phụ nữ lui về lĩnh
vực gia đình của họ, trở thành những người nội trợ hoàn toàn. Đây là quá trình
“nội trợ hoá” phụ nữ nông thôn, một kết quả gián tiếp của những chính sách phát
triển nông nghiệp trước đó. Điều này tạo nên sự phân biệt giữa vai trò khác nhau
trong sản xuất, trong kinh tế gia đình giữa phụ nữ và nam giới, trong đó nam giới
là người đóng vai trò chính còn phụ nữ chỉ là người đóng vai trò phụ.
Các thành viên của tổ chức nông nghiệp mà ở đó giáo dục và đào tạo về công
nghệ mới chủ yếu là nam giới. Sự phân biệt về hệ tư tưởng này giữa nam giới
người đóng vai trò chính và phụ nữ người nội trợ có cái giá phải trả là phụ nữ

15
nông thôn mất một cơ sở kinh tế của họ. Cho dù họ tiếp tục có vai trò quan trọng
trong sản xuất nông nghiệp.
Mặc dầu trong những năm 1980, số lượng đông hơn bao giờ hết các phụ nữ nông
dân đảm đương công việc đồng áng, tạo ra thu nhập từ các hoạt động sản xuất
trong gia đình và nhận tiền lương cũng như các công nhân tạm thời ở các nhà
máy, công việc của họ vẫn thuộc diện được trả công thấp nhất. Như Tamara
Jacka lập luận rằng: “Bất chấp những thay đổi cơ bản trong phương thức làm
việc, các cuộc cải cách nông thôn, không dẫn tới xoá bỏ sự phân công lao động
theo giới, cũng như việc đánh giá lại vị trí của người phụ nữ và nam giới trong
quá trình phân công lao động. Ngược lại, điều đang diễn ra là những gì bao hàm
trong công việc lý tưởng của phụ nữ và nam giới đang bị thay đổi, thế nhưng sự
phân công lao động trên vẫn được duy trì, cũng giống như vị trí ít được quan tâm
đến của phụ nữ trong sự phân công đó" [70, tr. 111].
Ở các nước kém phát triển, phụ nữ nhận được mức thu nhập bằng nửa của nam
giới, một phần là do sự gạt ra, một khuynh hướng phân biệt đối xử chống lại phụ

Một số ước tính cho rằng trung bình đồ gia đụng hiện đại làm giảm công việc lặt
vặt trong gia đình không nhiều hơn 2 giờ một tuần [24, tr. 309].
Trong khi cho phép nữ giới tăng thu nhập, một nhu cầu cấp thiết, việc tham gia
ngày càng tăng của nữ giới vào lực lượng lao động nữ trong một số trường hợp
đã tạo ra những mối quan tâm mới đối với lao động nữ. Những vấn đề như điều
kiện làm việc tồi tàn, sự tiếp xúc với những nguy cơ sức khoẻ, tỉ lệ mắc các bệnh
nghề nghiệp cao hơn, sức khoẻ và an toàn của người lao động, và những hình
thức bóc lột mới như lạm dụng tình dục ở nơi làm việc đang được quan tâm. Tỷ
lệ nữ tham gia vào lực lượng lao động tăng, đặc biệt ở Đông Nam Á và một phần
của Nam Á và khu vực Thái Bình Dương chủ yếu là do sự huy động và tham gia
của những phụ nữ trẻ vào những việc làm công ăn lương chính thức ở các ngành

17
công nghiệp chế tạo có tỉ trọng lao động cao và định hướng xuất khẩu, đặc biệt là
những ngành điện tử, may mặc và giày dép. Phải thừa nhận rằng những ngành
công nghiệp này đã tạo ra rất nhiều cơ hội việc làm kèm theo các lợi ích cho nữ
giới. Đồng thời, rất nhiều trong số những công việc này có khuynh hướng không
đáng tin cậy, ngắn hạn, thuộc về loại không có kỹ năng hoặc bán kỹ năng với rất
ít cơ hội thu được kỹ năng với điều kiện lao động chung phi tiêu chuẩn và lương
thấp. Trong những trường hợp này, những lợi ích tích cực đối với nữ giới bị
trung hoà bởi những ảnh hưởng bất lợi của điều kiện làm việc không tốt, đặc biệt
là về những phương diện sức khoẻ và an toàn của người lao động.
1.2 Vai trò của lao động nữ ở các nước đang phát triển
Tổ chức Lao động quốc tế ước tính rằng, phụ nữ chiếm tới 443 triệu hoặc 32%
của lực lượng lao động gồm 1354 triệu ở các nước đang phát triển và chiếm tới
676 triệu hoặc 35% của lực lượng lao động toàn cầu gồm 1955 triệu vào năm
1995. Nhìn vào một số nước trong các khu vực của châu Á chúng ta có thể thấy

30.2
35.8
39.5
40.6
Malaysia
31.0
33.7
35.7
36.8
Myanma
44.4
43.7
44.1
44.7
Philippin
32.9
35.0
36.2
36.6
Thái Lan
48.2
47.4
46.7
47.0
Việt Nam
47.7
48.1
50.1
50.2


35.7
Nguồn: ADB (1999), Chính sách về giới và phát triển
Bảng trên cho thấy, phụ nữ tham gia lực lượng lao động tăng dần trong gần 3
thập kỷ qua và tuỳ theo khu vực mà nữ giới chiếm khoảng hơn 1/3 đến 1/2 trong
toàn bộ lực lượng lao động ở một số nền kinh tế châu Á
Bảng trên cũng cho thấy sự khác biệt lao động nữ ở một số nền kinh tế châu Á.
Phụ nữ tham gia lực lượng lao động cao nhất ở Đông Nam Á, sau đó là Đông Á
và Nam Á. Theo thời gian, tỷ lệ phụ nữ tham gia lực lượng lao động tăng dần,
tăng nhanh nhất là ở Nam Á (từ 21,6% lên 35,8%), gấp 1,5 lần trong thời kỳ
1970-1995. Tiếp đó là Đông Á 6,3% (từ 33,6% lên 39,9%); Đông Nam Á tăng
3,6% (từ 39,1% lên 42,7%). Có sự khác biệt này, đặc biệt là ở Nam Á, theo
chúng tôi do những yếu tố tác động đến phụ nữ như văn hoá, chính trị, tôn giáo.
Nam Á xuất phát điểm với tỷ lệ thấp (21,6%) sau 1/4 thế kỷ đã tăng lên 1,5 lần,
trong khi đó tốc độ tăng lao động nữ ở 2 khu vực còn lại chậm hơn. Xu hướng
biến đổi này của các nước châu Á cũng phản ánh một xu thế chung của các quốc
gia khác trên thế giới, đặc biệt là ở những nước đang phát triển
Nghiên cứu cho thấy rằng đàn ông thường tham gia lực lượng lao động ngoài xã
hội khi ở độ tuổi 20-60 và tỷ lệ tham gia là hơn 90% ở tất cả các nước. Tỷ lệ nữ
tham gia lực lượng sản xuất rất khác nhau trên mỗi nước cũng như trong từng
vùng của mỗi nước. Năm 1990, ở Trung Đông và Bắc Phi cứ 10 đàn ông thì có 2
phụ nữ tham gia lực lượng lao động ngoài xã hội trong khi đó tỷ lệ này là 3/10 ở
Nam Á, 6/10 ở hạ Sahara và 7/10 ở Đông Nam Á. Trên phạm vi toàn thế giới tỷ
lệ nữ tham gia lực lượng lao động xã hội là 41% nhưng ở các nước đang phát
triển con số tương ứng là 31% [76, tr. 17]. Nhưng chỉ sau đó 3 năm, một nghiên
cứu đặc biệt lại nói rằng 84% phụ nữ nông thôn tham gia lực lượng sản xuất.

19
Bản điều tra trước đó đã bỏ không tính đến những hoạt động như là làm vườn,
chăn nuôi gia súc trong nhà. Ở Ấn Độ lại có những định nghĩa khác nhau về
“việc làm” dẫn đến đã có kết quả trong đánh giá tỷ lệ phụ nữ tham gia thấp là

Tỷ lệ lực lượng lao động/dân số
Nam giới
82.7
81.2
81.5
Phụ nữ
56.4
58.8
59.5
Tỷ lệ thất nghiệp
Nam giới
5.4
6.4
6.0
Phụ nữ
6.9
7.6
6.9
Nguồn: ILO (2001), World Employment Report
Số liệu tỷ lệ việc làm/dân số cho thấy trong khi phụ nữ tham gia lao động ngày
càng tăng từ 52,5% lên 55,4% thì nam giới lại giảm từ 78,2% xuống 76,6%.

20
Điều này tương ứng với tỷ lệ lực lượng lao động/dân số, tỷ lệ phụ nữ tăng từ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status