ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ NGUYỄN THỊ HẠNH LỰA CHỌN NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG
KINH DOANH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Ngọc Thanh
Hà nội - 2004
1.3.2 Kinh nghiệm của Mêhicô những năm 1994 - 1995 30
1.3.3 Khủng hoảng tài chính khu vực Đông Nam Á 35
CHƯƠNG 2
38
THỰC TRẠNG LỰA CHỌN NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC
38
TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG Ở VIỆT NAM
38
2.1 TỔNG QUAN VỀ HỆ THỐNG NGÂN HÀNG VIỆT NAM
38
2.1.1 Giai đoạn từ 1975- 1988 38
2.1.2 Giai đoạn từ 1988 đến nay 40
2.1.3 Một số vấn đề còn tồn tại trong hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện nay 45
2.2 VẤN ĐỀ LỰA CHỌN NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG Ở
VIỆT NAM
48
2.2.1 Một số vụ việc liên quan đến lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức 48
2.2.2 Nguyên nhân của các vụ việc trên 53
2.2.3 Tác hại và hậu quả của lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức đối với ngân hàng và nền kinh
tế 62
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG TỪ NĂM 1988 ĐẾN NAY
67
2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 67
2.3.2 Một số hạn chế 69
CHƯƠNG 3
71
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
2
minh bạch về tình hình tài chính của khách hàng. Các báo cáo tài chính mà
khách hàng cung cấp cho ngân hàng không chính xác. Như vậy, thông tin đối
với hoạt động ngân hàng là rất quan trọng, việc thiếu thông tin, thông tin
không cân xứng có thể làm các ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro và dẫn
đến phá sản hệ thống ngân hàng. Ngân hàng là trung gian tài chính, huy động
vốn và cung cấp vốn cho nền kinh tế, nếu hệ thống này không lành mạnh thì
tất yếu sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.
Vậy lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng là
gì? Tác hại của chúng đối với hệ thống ngân hàng như thế nào? Làm thế nào
để giảm thiểu lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng?
Có vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong kinh doanh ngân hàng ở
Việt Nam từ khi hình thành hệ thống NH hai cấp từ năm 1988 đến nay hay
không? Hai vấn đề này có là một trong những nguyên nhân của sự sụp đổ hệ
thống tín dụng đầu những năm 90 và một số vụ việc nổi cộm trong ngành
ngân hàng như Epco - Minh Phụng, v.v. hay không? Để trả lời những câu hỏi
trên tôi đã chọn đề tài “Lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong kinh
doanh ngân hàng ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt
nghiệp của mình.
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
2
2. Tình hình nghiên cứu
Tiền tệ và Ngân hàng là vấn đề được các nhà kinh tế học rất quan tâm.
Hoạt động của ngân hàng (NH) được đề cập trong các giáo trình Quản trị
ngân hàng thương mại của Peter S.Rose, giáo trình Tiền tệ ngân hàng và thị
trường tài chính của Fredric Minskin, v.v. Việt Nam cũng có nhiều giáo trình
Nghiên cứu khái quát những vấn đề lý thuyết về thông tin không cân
xứng, lựa chọn nghịch, rủi ro đạo đức, và kinh nghiệm của một số
nước về vấn đề này.
Làm rõ tình hình và đánh giá thực trạng của vấn đề lựa chọn nghịch
và rủi ro đạo đức trong kinh doanh NH ở Việt Nam.
Đề ra các giải pháp để phòng ngừa và giảm thiểu vấn đề lựa chọn
nghịch và rủi ro đạo đức hiện nay trong kinh doanh ngân hàng ở
Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức trong hệ thống NH Việt
Nam.
Tập trung vào cơ chế hoạt động (chủ yếu là hoạt động cho vay) và
một số vụ việc điển hình trong hệ thống NH Việt Nam: Sự đổ vỡ
trong hệ thống tín dụng nhân dân đầu những năm 1989 -1990. Các
vụ chiếm dụng, lừa đảo vốn NH những năm gần đây.
Phạm vi giới hạn trong quá trình đổi mới hệ thống NHVN từ 1988
đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài luận văn sử dụng phương pháp
chung trong nghiên cứu kinh tế chính trị là phương pháp của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
4 Luận văn đặc biệt chú ý tới phương pháp logic kết hợp với lịch
5
CHƢƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÔNG TIN KHÔNG CÂN
XỨNG, LỰA CHỌN NGHỊCH VÀ RỦI RO ĐẠO ĐỨC
TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1
KHÁI NIỆM VỀ THÔNG TIN VÀ VAI TRÕ CỦA NÓ TRONG KINH DOANH NGÂN HÀNG
1.1.1 Thông tin là gì?
Thông tin là huyết mạch của mọi nền kinh tế. Tại những nước có nền
kinh tế truyền thống, thông tin được trao đổi dưới dạng tiếp xúc cá nhân,
thông tin được truyền từ người này đến người khác và nó chỉ có giới hạn
trong phạm vi làng xã, thôn xóm. Nhưng khi các quốc gia phát triển, cơ chế
truyền thống này bắt đầu bị phá vỡ. Người dân di chuyển từ làng này sang
làng khác, từ làng ra thị xã, từ thị xã ra thành phố, v.v. để thích nghi với công
việc thương mại và buôn bán. Dần dần, ngoài giao dịch với hàng xóm họ còn
giao dịch với người lạ. Trong những môi trường mới này, dòng trao đổi thông
tin truyền thống dựa trên các mối quan hệ quen biết phải được thay thế. Để
tồn tại và phát triển trong những môi trường mới này thông tin trở nên vô
cùng quan trọng đối với mỗi cá nhân. Trong các giao dịch buôn bán thường
người mua rất muốn biết về chất lượng sản phẩm mà mình chọn mua có được
như họ mong muốn không. Và như thế ở giao dịch này những người tham gia
rất muốn có thông tin về chất lượng, để tạo ra các thông tin về chất lượng thì
rất tốn kém nhưng việc chia sẻ nó thì lại rẻ. Trong các cộng đồng khép kín
thông tin về chất lượng được truyền bá bằng miệng. Người mua có thể nhận
dạng và nhớ người cung cấp hàng kém phẩm chất và cảnh báo cho hàng xóm
về người cung cấp đó. Khi một ông chủ muốn thuê một nhân công thì ông ta
Đã là hàng hóa công cộng thì nó sẽ mang hai đặc tính cơ bản của một hàng
hóa công cộng thuần tuý:
- Thứ nhất: tiêu dùng không làm hao hụt (khi một người tiêu dùng hàng
hóa này thì không làm giảm tiêu dùng của người khác).
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
7 - Thứ hai: tính không loại trừ (không thể, hay rất tốn kém để loại bỏ bất
kỳ người nào khỏi việc hưởng lợi ích của hàng hóa công cộng).
Các nền kinh tế thị trường cạnh tranh thường không cung cấp đầy đủ
hàng hóa công cộng - trong đó có thông tin. Do những khó khăn của việc
phân bổ những khoản lợi nhuận cho thông tin, nên thường xuất hiện vấn đề
người ăn theo (hay người đi xe không mất tiền) với việc có được thông tin,
tức là những người khác được hưởng lợi từ những thông tin mà một cá nhân
có được.
Sự quan trọng của thông tin không phải ở chỗ con người cần có nó để
hoạt động hay là số lượng thông tin ít hay nhiều mà do chính đặc điểm không
bình đẳng của thông tin làm thay đổi vấn đề. Đặc điểm đó là, thứ nhất thông
tin là đa nguyên, là tản mát từ mọi thành phần mà không một cá thể nào tự
nhiên có thể thu thập tất cả mọi thông tin, thứ hai thị trường không bao giờ
hoàn toàn đầy đủ, thứ ba sự phân bổ thông tin nhiều khi không đối xứng.
1.1.2 Vai trò của thông tin đối với hoạt động ngân hàng
Thông tin đóng vai trò to lớn trong hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân
hàng. Các vấn đề của thông tin với tư cánh là một hàng hóa công cộng phát
sinh trong ít nhất hai bối cảnh của thị trường tài chính: thông tin về khả năng
thanh toán của các định chế tài chính, mà chắc chắn là rất có giá trị đối với
trung gian ngân hàng thực chất là những hợp đồng điều chuyển vốn từ người
tiết kiệm (người gửi tiền) sang người đầu tư (người đi vay). Trong quan hệ tín
dụng này một bên thường không biết tất cả những gì cần biết về bên kia để có
những quyết định đúng đắn. Như vậy, một hạn chế lớn của thị trường tài
chính là thiếu thông tin. Sự thiếu hụt này đã tạo nên sự không cân bằng về
thông tin mà mỗi bên có được. Trong lý thuyết kinh tế, hiện tượng này được
gọi là thông tin không cân xứng.
1.2 THÔNG TIN KHÔNG CÂN XỨNG
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
9 Trong hệ thống NH, thông tin không cân xứng có nghĩa là người gửi
tiền không nắm bắt được đầy đủ mọi thông tin về tình hình hoạt động của
ngân hàng mà mình gửi tiền cũng như ngân hàng không biết rõ về khả năng
chi trả và độ tin cậy của khách hàng vay tiền. Sự không cân bằng về thông
tin mà mỗi bên có đƣợc đƣợc gọi là thông tin không cân xứng. Thông tin
không cân xứng sẽ tạo ra hai hệ quả đó là vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro
đạo đức.
1.2.1 Lựa chọn nghịch
Lựa chọn nghịch (Adverse selection): là vấn đề thông tin không cân
xứng tạo ra trước khi diễn ra cuộc giao dịch.
Lựa chọn nghịch xảy ra trong các giao dịch tín dụng khi những người
đi vay có rủi ro cao (tức là những dự án đầu tư của họ có độ rủi ro cao) là
những người tích cực đi vay, và do vậy họ có nhiều khả năng được NH chấp
nhận cho vay (họ được NH lựa chọn).
cho B.
1.2.2 Rủi ro đạo đức
Rủi ro đạo đức (Moral hazard): là vấn đề do thông tin không cân
xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra.
Rủi ro đạo đức trong các thị trường tài chính xảy ra khi người cho vay
phải chịu rủi ro do người vay có ý muốn thực hiện những hoạt động không tốt
(thiếu đạo đức) xét theo quan điểm của người cho vay, bởi vì những hoạt
động này làm cho khoản tiền vay ít có khả năng được hoàn trả. Do rủi ro đạo
đức giảm bớt xác suất hoàn trả được vốn nên người cho vay có thể quyết định
thôi không cho vay.
Để minh họa cho vấn đề này, hãy giả sử NH cho một khách hàng vay
một món tiền là 1000 đôla, người đi vay cần số tiền này để mua một máy
chuyên dùng cho công việc sản xuất của mình. Khi NH đã cho vay, người đi
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
11 vay có thể cầm khoản tiền này tới thẳng xới bạc hay tham gia vào những trò
chơi đỏ đen, chơi xổ số hoặc lôtô. Trong trường hợp anh ta thắng, khi đó anh
ta có khả năng trả lại NH món tiền là 1000 đôla và chi tiêu thả sức với phần
còn lại. Nhưng nếu anh ta thua, như thường xảy ra, thì NH không đòi được
tiền và tất cả những gì người đi vay mất chỉ là danh tiếng của họ. Nếu NH biết
sau khi có được món tiền của NH người vay đó sẽ dùng nó để cá cược hay
đánh bạc (sử dụng sai mục đích của việc vay tiền) thì NH sẽ không cho anh ta
vay, vấn đề ở đây cũng chính là sự thiếu thông tin hay thông tin không cân
xứng.
Thông tin không cân xứng trên thị trường tài chính là nguyên nhân phát
động rồi bỏ trốn, v.v. Khi đó, rủi ro xảy ra số tiền bị mất mát quá lớn, vốn tự
có NH không bù đắp được, NH sẽ phá sản.
Khi đóng vai trò ngƣời cho vay: Vai trò là người cho vay biểu hiện ở
các tài sản có mà NH nắm giữ. Ngoài số dự trữ bắt buộc theo qui định, các
NH đều có xu hướng muốn giữ nhiều tài sản có sinh lợi càng tốt. Đó là chứng
khoán, các trái phiếu, các món cho vay, v.v. với lãi suất cao thấp khác nhau
nhưng tương xứng với độ rủi ro và tính thanh khoản của từng loại tài sản.
Nếu có đầy đủ thông tin cần thiết về các đối tượng cần đầu tư hoặc vay
tiền, NH sẽ quyết định dễ dàng trong việc có cho vay hay không. Nhưng thực
tế không suôn sẻ như vậy. Trên thị trường luôn tồn tại thông tin không cân
xứng giữa người đi vay và người cho vay. Do đó, sự lựa chọn nghịch đã làm
cho những người rất kém tín nhiệm (những người rất dễ không hoàn trả món
vay) lại là những người tích cực vay nhất. Nếu NH cho họ vay tiền NH sẽ
đứng trước nguy cơ rủi ro tín dụng lớn. Ngược lại, cũng do sự lo ngại về lựa
chọn nghịch NH chối bỏ các món vay mà khả năng sẽ hoàn trả đúng kỳ hạn
rất cao, và như vậy NH bỏ mất cơ hội kiếm lợi nhuận.
Cũng do thông tin không cân xứng, rủi ro đạo đức trên thị trường vay
nợ dễ xảy ra. Trên thị trường có rất nhiều người vay tiền có ý muốn thực hiện
những hoạt động không đạo đức (xét theo quan điểm của người cho vay). Một
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
13 khi những người này vay được tiền NH, họ có thể sẽ đầu tư vào những dự án
có độ rủi ro cao, những dự án khác hẳn với phương án xin vay trình với NH.
NH cho vay tiền sẽ bị đặt vào tình cảnh đứng trước nguy cơ bị rủi ro tín dụng.
Nếu NH không thận trọng trong việc thẩm định cho vay và không giám sát
chặt chẽ việc sử dụng vốn vay, rủi ro đạo đức trên thị trường sẽ đặt NH trước
tin này cho các NH, hay có thể bán nó cho những người mua chứng khoán.
Một ví dụ minh họa điển hình là ở Mỹ, những công ty như Standard and Poor,
Moody và Value Line tập hợp những thông tin về tình trạng các bảng quyết
toán của các công ty đó và về hoạt động đầu tư của họ, công bố các số liệu
này và bán nó cho người đặt mua là các cá nhân, các thư viện, và các trung
gian tài chính liên quan đến việc mua những chứng khoán. Hệ thống sản xuất
mua bán thông tin riêng này, tuy thế không giải quyết được một cách đầy đủ
vấn đề lựa chọn nghịch nói trên trong các thị trường chứng khoán bởi vì nó lại
xuất hiện vấn đề gọi là “vấn đề người đi xe không tốn tiền” (Free rider
problem). Vấn đề người đi xe không tốn tiền tức là khi những người không
chi tiền mua thông tin mà vẫn có thể hưởng lợi của thông tin mà người khác
đã mua. Khi đó các công ty sẽ không còn khả năng bán đủ lượng thông tin để
bù đắp vào chi phí thu thập và sản xuất nó. Khả năng thu lợi của các công ty
riêng nhờ vào bán thông tin yếu đi, nghĩa là có ít thông tin được sản xuất ra
hơn cho thị trường này, và như vậy vẫn tồn tại vấn đề lựa chọn nghịch.
- Điều hành của chính phủ để làm tăng thông tin: vấn đề người đi xe
không tốn tiền ngăn trở thị trường tư nhân sản xuất đủ thông tin để loại bỏ
thông tin không cân xứng. Liệu các thị trường tài chính có thể trông cậy vào
sự can thiệp của chính phủ? Chính phủ có thể sản xuất thông tin để giúp các
nhà đầu tư phân biệt những công ty tốt, công ty tồi và cung cấp miễn phí cho
công chúng? Vấn đề thông tin không cân xứng tạo ta lựa chọn nghịch và rủi
ro đạo đức trong các thị trường tài chính như vậy giúp giải thích vì sao các thị
trường tài chính nằm trong số những bộ phận điều hành một cách ngặt nghèo
nhất trong nền kinh tế. Quy chế của chính phủ để tăng lượng thông tin cho các
nhà đầu tư là cần thiết để giảm vấn đề lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức. Qui
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
15
16 ro cao hơn và như vậy họ dễ bị phá sản và điều đó là không có lợi đối với nền
kinh tế.
- Giá trị tài sản ròng (net worth): hay còn gọi là vốn cổ phần (equity
capital) là hiệu số giữa tài sản có của một công ty (gồm những tài sản nó sở
hữu hoặc bị nợ) và tài sản nợ của nó (tài sản mà công ty nợ): giá trị tài sản
ròng có thể thực hiện vai trò tương tự như vật thế chấp. Nếu một công ty có
giá trị tài sản ròng cao, thì khi công ty thực hiện những cuộc đầu tư khiến
công ty bị thua lỗ và công ty phá sản thì lúc đó người cho công ty này vay tiền
đều có thể sở hữu giá trị tài sản ròng của công ty, bán nó đi và dùng tiền thu
được để bồi thường một số trong những tổn thất do món vay này gây ra.
Ngoài ra, một công ty càng có nhiều giá trị tài sản ròng, nó càng ít có khả
năng vỡ nợ bởi vì công ty này có một dự trữ tài sản có thể dùng để thanh toán
xong các món nợ của mình. Do đó, nếu những công ty đang đi tìm vay tiền
mà có giá trị tài sản ròng cao, thì việc lựa chọn nghịch sẽ ít quan trọng, và
những người cho vay sẽ sẵn lòng cho vay. Với vấn đề rủi ro đạo đức: khi một
người vay tiền có nhiều vốn bởi vì giá trị tài sản ròng của anh ta (hiệu số giữa
tài sản có và tài sản nợ của anh ta) lớn, thì ý muốn lao vào rủi ro đạo đức sẽ
giảm đi nhiều do nếu anh ta thực hiện những vụ làm ăn thiếu đạo đức, những
vụ đầu tư đó đổ bể hoặc phá sản thì anh ta sẽ là người thua thiệt nhiều hơn
người cho anh ta vay tiền. Một cách mô tả giải pháp mà giá trị tài sản ròng
cao mang lại cho vấn đề rủi ro đạo đức là nói rằng nó khiến cho ý muốn ký
hợp đồng vay nợ trở thành tương hợp nhau, tức là nó làm cho ý muốn của
người cho vay và người đi vay ngang hàng với nhau. Người đi vay càng có
nhiều giá trị tài sản ròng, anh ta càng có nhiều ý muốn xử sự theo chiều
hướng mà người cho vay dự tính mong muốn. Do đó, giá trị tài sản ròng của
người vay càng lớn thì vấn đề rủi ro đạo đức trong hợp đồng nợ của người
người trụ cột nuôi sống một gia đình mua bảo hiểm sinh mạng loại
sẽ thanh toán hết số tiền vay thế chấp khi người đó chết. Những qui
định hạn chế thuộc kiểu này cho các doanh nghiệp tập trung vào
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
18 việc khuyến khích công ty vay giữ cho giá trị tài sản ròng của công
ty cao vì giá trị tài sản ròng của người vay cao hơn sẽ giảm độ rủi ro
đạo đức và khiến cho người vay giảm bớt khả năng bị tổn thất.
Những qui định hạn chế này qui định riêng rằng công ty này phải
duy trì một lượng giá trị tối thiểu của một số loại tài sản nào đó
tương ứng với tầm cỡ công ty này.
3. Do vật thế chấp là một sự bảo vệ có ý nghĩa quan trọng đối với
người cho vay, những qui định hạn chế có thể khuyến khích người
vay giữ cho vật thế chấp trong điều kiện tốt và chắn chắn rằng nó
vẫn thuộc sở hữu của người vay đó. Đây là kiểu qui định hạn chế
thường gặp nhất.
4. Những qui định hạn chế cũng đòi hỏi một công ty vay cung cấp
thông tin về hoạt động của công ty đó một cách định kỳ ở dạng báo
cáo kết toán quý và báo cáo thu nhập, nhờ vậy mà người cho vay dễ
giám sát công ty đó và ngăn ngừa rủi ro đạo đức. Kiểu qui định hạn
chế này cũng có thể đặt điều kiện rằng người cho vay có quyền kiểm
tra thanh tra sổ sách kế toán của các công ty mà họ cho vay. Chúng
ta thường thấy các hợp đồng nợ thường là những tài liệu pháp lý
phức tạp với rất nhiều hạn chế đối với thái độ cư xử của người vay,
và như vậy vấn đề rủi ro đạo đức được giảm đến mức tối thiểu.
Mặc dù có các giải pháp trên để phòng ngừa, giảm thiểu lựa chọn
ra để phòng ngừa một cách có hiệu quả. Và như vậy, rủi ro trong hoạt động
kinh doanh NH là một phạm trù “tiềm ẩn” có thể xẩy ra bất cứ lúc nào và gây
tổn hại đến khả năng tài chính của NH. Ngay cả những nền kinh tế mạnh nhất
thế giới, với hệ thống ngân hàng hiện đại tinh vi cùng nhiều lớp hàng rào che
chắn về quy chế, luật pháp, thanh tra, kiểm toán hùng hậu, các loại quỹ bảo
hiểm, v.v. mà hầu như năm nào cũng có một số NH bị phá sản.
1.3.1 Những vụ phá sản các ngân hàng ở Mỹ
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
20 Trong lịch sử hoạt động ngành NH ở Mỹ luôn luôn được chứng kiến
những vụ đổ bể và phá sản của các NH. Điển hình là những vụ hoảng loạn
NH trong thời kỳ đại suy thoái 1930-1933. Trước đó vào những năm 20, một
vụ đông đảo các NH vỡ nợ đã diến ra, đặc biệt tại Missouri, Illinois, Indiana,
Iowa, Arkansas và North Carolina, khiến công chúng ráo riết chuyển đổi các
món tiền gửi có thể phát séc và các món tiền gửi có kỳ hạn sang tiền mặt và
sang tiền gửi tiết kiệm bưu điện (postal savings deposits). Một sự lây truyền
sợ hãi lan rộng ra trong những người gửi tiền, bắt đầu từ các khu vực nông
nghiệp nơi đã trải qua tác động nặng nề nhất của các vụ NH vỡ nợ trong thời
kỳ “Những năm 20”. Những vụ vỡ nợ của 250 NH với 180 triệu đôla tiền gửi
tháng 11/1930 đã được nối tiếp bằng vụ vỡ nợ của 532 NH với trên 370 triệu
đôla tiền gửi, vụ vỡ nợ gây chấn động nhất là vụ vỡ nợ vào ngày 11/12 của
Bank of the United States với trên 200 triệu đôla tiền gửi. Vụ vỡ nợ đó đã đặc
biệt quan trọng vì Bank of the United States là NHTM lớn nhất đã bị vỡ nợ
tính đến thời điểm lúc đó trong lịch sử nước Mỹ. Hơn thế, tuy là NHTM
thông thường, tên gọi của nó đã khiến nhiều người trong nước và nước ngoài
trữ liên bang và của hội đồng NH cho vay mua nhà của liên bang (FHLBB)
sau khi họ có được bảo hiểm tiền gửi liên bang. Liền sau đó, tháng 5/1985, do
việc vỡ nợ của hai NH tiết kiệm và cho vay Maryland đã phá sản Maryland
Saving- Share Insurance Corporation. Một hoảng loạn của 100 ngân hàng ở
Maryland sau cùng được chặn lại bởi quyết định tạm thời của thống đốc bang
này quy định một giới hạn rút tiền 1000 đôla một tháng và thay thế bảo hiểm
tiền gửi tư nhân bằng một cơ quan bảo hiểm mới được thành lập là State -
backed deposit insurance fund (Quỹ bảo hiểm tiền gửi do tiểu bang bảo trợ).
Vụ hoảng loạn NH vỡ nợ tai hại nhất đã xảy ra ở Rhode Island vào tháng
1/1991. Sau vụ vỡ nợ của một NH ở Providence thuộc Rhode island, thống
đốc tiểu bang đã buộc phải tuyên bố một ngày ngừng hoạt động NH vào ngày
1/1, đóng cửa 45 NH nhỏ và liên hiệp tín dụng. Kết quả là sự bất động của 1,3
tỷ đôla trong 359.000 tài khoản ở một tiểu bang có 1 triệu dân. Đề nghị bảo
lãnh của thống đốc tiểu bang trả cho mỗi người gửi tiền ở các tổ chức vỡ nợ
Luận Văn Thạc Sĩ Kinh
tế
22 tối đa tới 12.500 đôla tiền mặt và phần còn lại của số tiền gửi của họ tối đa tới
giới hạn được bảo hiểm 100.000 đôla, được nhận chứng chỉ tạm thời của tiểu
bang (không có lãi suất), chứng chỉ này sẽ được hoàn trả tiền qua một vài năm
(chứng chỉ tạm thời như thế này đã được phát hành lần cuối trong thời kỳ các
vụ hoảng loạn NH ở những năm 1930). Phần tiền gửi vượt quá 100.000 đôla
tại một NH vỡ nợ không có khả năng được hoàn trả.
Đầu những năm của thập kỷ 90 số các vụ vỡ nợ NHTM diễn ra ở mức
gấp 10 lần của giai đoạn những năm 1945 - 1981. Công ty bảo hiểm tiền gửi
liên bang (Federal Deposit Insurance Corporation: FDIC) chi tiêu nhiều hơn
so với số nó thu vào suốt các năm 1988, 1989 và 1990, một khoản thiếu hụt