Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 25



1
MỤC LỤC

Trang
LỜI MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………….………….………….
3
CHƢƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĐKT
NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC………………………………………… ……… ……

8
1.1.
Cơ sở lý luận của việc hình thành TĐKT Nhà nƣớc ở
Trung Quốc…………………………………………………………………………………

8
1.1.1.
Khái niệm TĐKT Nhà nước của Trung Quốc……………………….
8
1.1.2.
Mô hình nền kinh tế Trung Quốc và vai trò của TĐKT Nhà
nước đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc……………………….

12
1.2.
Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và phát triển mô
hình TĐKT Nhà nƣớc ở Trung Quốc
…………………………………………….

19

Những kết quả đạt được của quá trình hình thành và phát
triển mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung Quốc………………………

51 2
2.3.
Đánh giá chung về mô hình TĐKT Nhà nƣớc của
Trung Quốc ……………………………………………………………………………………

64
2.3.1.
Những thành công của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung
Quốc…………………………………………………………………………………………………

64
2.3.2.
Những hạn chế chủ yếu của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung
Quốc …………………………………………………………………………………………………

69
2.3.3.
Bài học kinh nghiệm từ mô hình TĐKT Nhà nước của
Trung Quốc……………… …………………………………………………………………….

74
CHƢƠNG III - VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CUẢ TRUNG
QUỐC VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TĐKT NHÀ
NƯỚC Ở VIỆT NAM ……………………… ……………………………………………………….


CHỮ VIẾT TẮT
Bưu chính - Viễn thông
BC - VT
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
Công nghệ thông tin
CNTT
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
CNH, HĐH
Doanh nghiệp Nhà nước
DNNN
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI
Kinh tế thị trường
KTTT
Nhân dân tệ
NDT
Nhà xuất bản
Nxb
Sản xuất, kinh doanh
SX - KD
Tập đoàn doanh nghiệp
TĐDN
Tập đoàn kinh doanh
TĐKD
Tập đoàn kinh tế
TĐKT
Tập đoàn kinh tế Nhà nước
TĐKTNN

những nội dung của nó là thành lập các TĐKT và ở đó công ty mẹ có vai trò
kiểm soát chiến lƣợc hoạt động và vốn đối với các công ty con, trong những
năm qua, các TĐKT của Trung Quốc đã phát huy đƣợc tác dụng đối với nền
kinh tế, tạo đƣợc những bƣớc tăng trƣởng vƣợt bậc. Trong thời kỳ đổi mới
1978 - 2001, GDP của Trung Quốc đã tăng bình quân hơn 8%/năm và Trung
Quốc đã trở thành một trong những nền kinh tế tăng trƣởng nhanh nhất thế
giới.
Tuy nhiên, mô hình TĐKT của Trung Quốc cũng có những hạn chế nhất
định. Một số lƣợng lớn các tập đoàn hoạt động không mấy hiệu quả, trong số
đó có các TĐKT Nhà nƣớc. Thực tiễn này đặt ra vấn đề cần nghiên cứu đánh 4 giá mô hình TĐKT Nhà nƣớc của Trung Quốc để rút ra những bài học so sánh
cho quá trình xây dựng và phát triển các TĐKT Nhà nƣớc ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng và Chính
phủ chủ trƣơng xây dựng các TĐKT mạnh, nhất là trong các ngành công
nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân để phục vụ cho sự nghiệp CNH và
HĐH đất nƣớc. Đối với Việt Nam, việc xây dựng và phát triển TĐKT là vấn
đề mới trên cả hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn. Trong đó, việc nhận thức
đúng đắn về vai trò của Nhà nƣớc đối với sự hình thành và phát triển của
TĐKT là một trong những yêu cầu bức xúc hiện nay của Việt Nam trong quá
trình thực hiện đổi mới nền kinh tế nói chung và cải cách DNNN nói riêng.
Trung Quốc và Việt Nam có những điểm tƣơng đồng về mục đích cải
cách nền kinh tế và cải cách DNNN. Một là, cả hai nƣớc đều phát triển nền
KTTT theo định hƣớng XHCN và đều là các nƣớc đang phát triển. Hai là, cả
hai đều chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền KTTT. Ba là, cả hai đều
đang trong quá trình CNH - HĐH đất nƣớc. Bốn là, cả hai đều tích cực đổi

tập hợp các quy định pháp lý về Tcty Nhà nƣớc và TĐKT ở Việt Nam …
Ngoài ra, các bài viết trao đổi về xây dựng mô hình TĐKT Nhà nƣớc ở
Việt Nam đã đăng tải nhiều trên các báo, tạp chí nhƣ: “Một số vấn đề cơ bản
của TĐKT” của tác giả Nguyễn Thế Hải đăng trên tạp chí Kinh tế châu Á -
Thái Bình Dƣơng số 8/2005. Tác giả Đặng Khánh Duy với bài “Cần có một
tƣ duy mới trong thành lập TĐKT ở Việt Nam” đăng trên tạp chí Kinh tế và
phát triển, số 98 (8/2005), hay bài “Việt Nam có xây dựng thành công TĐKT”
của tác giả Lê Mai đăng trên tạp chí Kinh tế Châu Á - Thái Bình Dƣơng, số
9/2005 v.v… Và một số luận văn tốt nghiệp đại học, tốt nghiệp thạc sĩ, các
bài báo trên các website cũng nghiên cứu, đề cập đến vấn đề TĐKT ở Việt
Nam.
Trong thời gian gần đây, khi Chính phủ chủ trƣơng hình thành các
TĐKT Nhà nƣớc trên cơ sở các Tổng công ty 90 và 91, mô hình TĐKT của
Trung Quốc trở thành vấn đề đƣợc sự tập trung chú ý nghiên cứu. Thạc sĩ 6 Phan Minh Tuấn, có bài “TĐKT Trung Quốc và kinh nghiệm đối với Việt
Nam” đã đề cập đến những đặc trƣng của mô hình TĐKT ở Trung Quốc đăng
trên tạp chí Thông tin Khu Công nghiệp Việt Nam, số 31 (4/2003). Và vấn đề
làm thế nào để hình thành và phát triển TĐKT đã đƣợc Viện nghiên cứu quản
lý kinh tế trung ƣơng nghiên cứu trong một đề án cấp nhà nƣớc: “Đề án hình
thành và phát triển TĐKT trên cơ sở Tổng công ty nhà nƣớc”.
Tuy nhiên, cho đến thời điểm hiện nay, vấn đề cần thiết phải xây dựng
các TĐKT Nhà nƣớc ở Việt Nam vẫn đang đƣợc tranh luận trong giới nghiên
cứu. Bên cạnh đó, chƣa có những nghiên cứu sâu đánh giá những mặt đƣợc và
những hạn chế của mô hình TĐKT Nhà nƣớc ở Trung Quốc để từ đó rút ra
những bài học vận dụng cho Việt Nam trong việc xây dựng các Tcty 90, 91

chặt chẽ với các chính sách kinh tế vĩ mô của chính phủ.
Các phƣơng pháp khác nhƣ phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp thống kê
cũng đƣợc sử dụng phục vụ cho mục đích của đề tài.
6. Những đóng góp chính của đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình TĐKT nhà
nƣớc của Trung Quốc.
- Phân tích, đánh giá những thành công và thất bại của mô hình TĐKT
nhà nƣớc của Trung Quốc.
- Đề xuất một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Cụ thể là những
vấn đề mà Việt Nam có thể học hỏi đƣợc từ kinh nghiệm của Trung Quốc nhằm
thực hiện thành công mục tiêu hình thành và phát triển TĐKT Nhà nƣớc của Việt
Nam từ mô hình Tổng công ty Nhà nƣớc.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn đƣợc kết cấu gồm 3 chƣơng:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về TĐKT Nhà nƣớc ở
Trung Quốc 8 - Chương 2: Thực trạng hình thành và phát triển của TĐKT Nhà
nƣớc ở Trung Quốc
- Chương 3: Vận dụng kinh nghiệm của Trung Quốc vào việc xây
dựng và phát triển TĐKT Nhà nƣớc ở Việt Nam

CHƢƠNG I

Cục Thƣơng mại và Công nghiệp (Trung Quốc) năm 1997, thì: “Tập đoàn
doanh nghiệp là một tổ hợp kinh doanh tập hợp các doanh nghiệp liên quan
với nhau bởi một công ty mẹ. Công ty mẹ của mỗi tập đoàn doanh nghiệp sẽ
hoạt động nhƣ là hạt nhân của tập đoàn, còn các công ty con và các doanh
nghiệp có liên quan khác đều là pháp nhân đƣợc pháp luật công nhận, chia sẻ
tất cả các quyền dân sự liên quan và chịu trách nhiệm dân sự phát sinh;
TĐDN không phải là pháp nhân”.
TĐKT Trung Quốc là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp, đáp
ứng đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội
hoá. Đó là một khối liên kết bằng quan hệ về tài sản, quan hệ hiệp tác. Nhƣ
vậy, quan điểm của Chính phủ và các doanh nghiệp Trung Quốc về TĐKT là
nhất quán và tƣơng đối đồng nhất với quan điểm chung trên thế giới. Tuy
nhiên do tính đặc thù về kinh tế của Trung Quốc nên sự hình thành và phát
triển của các tập đoàn cũng có những nét đặc trƣng khá điển hình. TĐKT ở
Trung Quốc có thể không là một pháp nhân song cũng có thể là một pháp nhân
độc lập giống nhƣ một hiệp hội các doanh nghiệp nhƣng là hiệp hội đa ngành
nghề và có quy mô vốn khổng lồ. Tuy nhiên, khi nhận dạng một TĐKT cần thiết
phải quan tâm đến những “đặc điểm” của chúng hơn là việc đƣa ra một định
nghĩa có tính “chuẩn hoá”.
Về mặt pháp lý, TĐKT ra đời và tồn tại đƣợc nhờ các ràng buộc về quan
hệ tài chính, quyền sở hữu tài sản và nghĩa vụ khế ƣớc (hợp đồng). Còn về 10 khía cạnh kinh tế, TĐKT ra đời và phát triển dựa vào nền tảng công nghệ sản
xuất hàng loạt, đảm nhiệm tất cả các khâu trong quá trình sản xuất liên kết và
chuyên môn hoá.
Bên cạnh các khái niệm trên, ở Trung Quốc còn tồn tại khái niệm cho

hoặc Group: những từ này thƣờng đƣợc sử dụng để chỉ một nghiệp đoàn bao
gồm nhiều doanh nghiệp về bề ngoài không liên quan với nhau. Cơ cấu này giúp
đa dạng hoá rủi ro kinh doanh song sự thiếu tập trung có thể gây khó khăn hơn
trong việc quản lý các công ty kinh doanh khác nhau.
Theo một số nƣớc nhƣ Hà Lan, Anh, Đan Mạch cho rằng: TĐKD là sự
liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có mối quan hệ sở hữu và
khế ƣớc với nhau, cùng tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một
hoặc nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực kinh tế.
* Ở Việt Nam, theo Từ điển Anh - Pháp - Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội
(1998), định nghĩa: Một TĐKT và tài chính gồm một công ty mẹ và các công
ty khác mà công ty mẹ kiểm soát hay tham gia góp vốn, mỗi công ty con cũng
có thể kiểm soát các công ty khác hay tham gia các tổ hợp khác.
Khái niệm “TĐKT Nhà nƣớc” theo quan điểm của Trung Quốc là:
Tổ chức kinh tế có kết cấu nhiều cấp (nhiều cấp độ sở hữu), nó đáp ứng đòi
hỏi của nền sản xuất hàng hoá xã hội chủ nghĩa và của nền sản xuất xã hội
hoá. Doanh nghiệp nòng cốt của nó là nòng cốt của tập đoàn, là thực thể kinh
tế có tƣ cách pháp nhân, tự chủ kinh doanh, hạch toán độc lập, tự chịu trách
nhiệm đối với kết quả kinh doanh. Bằng các hình thức nắm giữ cổ phần khống
chế, tham gia cổ phần, hiệp tác, doanh nghiệp nòng cốt gắn bó với một hoặc
nhiều doanh nghiệp ở mức độ chặt chẽ, nửa chặt chẽ và liên kết lỏng lẻo.
Những doanh nghiệp này đều có tƣ cách pháp nhân độc lập.
Các học giả của Trung Quốc cũng cho rằng: TĐKT Nhà nƣớc
(TĐKTNN) là tổ chức kinh tế có kết cấu tổ chức nhiều cấp liên kết với nhau
bằng quan hệ tài sản và quan hệ hợp tác nhằm đáp ứng đòi hỏi của nền sản 12 xuất hàng hoá XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá. Thông qua việc


tiêu đề ra: Trong 10 năm từ 1981 - 1990 tổng sản phẩm xã hội tăng gấp đôi;
10 năm tiếp theo 1991 - 2000 thì GDP cũng tăng gấp đôi. Năm 2005, GDP
của Trung Quốc đạt 1.689,5 tỷ USD, ƣớc tính đến cuối năm 2020, GDP của
Trung Quốc sẽ đạt 4.300 tỷ USD. Đến năm 2005, GDP bình quân đầu ngƣời
của Trung Quốc đã đạt mức 1.774 USD/1năm (quy đổi là khoảng 19.514
NDT) cho thấy tốc độ tăng trƣởng kinh tế nhanh chóng và hiệu quả của Trung
Quốc từ sau cải cách và mở cửa (Có tài liệu cho rằng, giai đoạn từ 1979 -
1997, GDP bình quân đầu ngƣời ở thành thị khoảng 6000 NDT/năm, ở nông
thôn khoảng 4.000 NDT/năm). Lý do khiến Trung Quốc thành công đƣợc nhƣ
vậy mặc dù có những căng thẳng đáng kể và vô số thiếu sót trong chính sách,
là do Nhà nƣớc vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong việc duy trì ổn
định xã hội, giải quyết những vấn đề của thất bại thị trƣờng, điều tiết phân
phối thu nhập, của cải và những cơ hội của cuộc sống, cách thức quản lý mà
theo đó Trung Quốc tƣơng tác với nền kinh tế toàn cầu.
Mô hình nền kinh tế Trung Quốc là một bức tranh mang nhiều đặc sắc
riêng trong tổng hoà các nền kinh tế trên thế giới. Trung Quốc đang tìm kiếm
một con đƣờng tiến lên và thực hiện quá trình CNH - HĐH đất nƣớc nhằm
phấn đấu hoàn thành quá trình này vào những năm đầu của thế kỷ 21. Thực tế
này có đƣợc theo các nhà kinh tế Trung Quốc hiện nay khẳng định và đúc kết
là nhờ đƣờng lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc sau khi từ bỏ nền
kinh tế “kế hoạch hoá” của thời kỳ Mao Trạch Đông và có chính sách “cải
cách và mở cửa” của nhà lãnh đạo, “tổng công trình sƣ của công cuộc cải
cách và mở cửa ở Trung Quốc” Đặng Tiểu Bình, về xây dựng nền kinh tế thị
trƣờng XHCN mang màu sắc Trung Quốc, bao gồm các bƣớc sau:
- Phát triển nền KTTT, liên tục giải phóng và phát triển sức sản xuất.
- Kiên trì chế độ công hữu XHCN, tìm tòi các hình thức kinh tế đa sở hữu. 14


15 trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất rất thấp do quan hệ sản xuất đình
trệ. Tuy nhiên, nhận thức về kinh tế Nhà nƣớc ngày càng thay đổi sâu sắc do
đòi hỏi khách quan phải CNH, HĐH đất nƣớc với chủ trƣơng nhiều loại hình
kinh tế cùng phát triển, tỷ trọng của các loại hình kinh tế phi công hữu (gồm
kinh tế cá thể, kinh tế tƣ nhân …) đã tăng từ 0,9% năm 1978 lên 24,2% năm
1997 trong GDP và mức giảm tƣơng ứng của kinh tế công hữu từ 99,1% năm
1978 xuống còn 75,8% năm 1997. Sự phát triển nhảy vọt của loại hình kinh tế
phi công hữu làm cho nền kinh tế Trung Quốc thay đổi, giải quyết đƣợc nhiều
lao động dôi dƣ ở cả nông thôn lẫn thành thị. Từ chỗ chƣa đƣợc công nhận
đến chỗ đƣợc “chính thức công nhận nhƣng chỉ có vai trò bổ sung” (năm
1988) cho kinh tế công hữu, nay kinh tế tƣ nhân đƣợc Quốc hội Trung Quốc
đƣa vào Hiến pháp sửa đổi năm 1999 quy định là “bộ phận cấu thành quan
trọng của nền kinh tế thị trƣờng XHCN, chính thức thừa nhận tầm quan trọng
nhƣ nhau của khu vực tƣ nhân và khu vực Nhà nƣớc”, đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ
quyền lợi và lợi ích hợp pháp, không hạn chế về quy mô, bình đẳng với các
thành phần kinh tế khác.
Tuy nhiên, vai trò chủ thể của kinh tế công hữu không vì thế mà giảm đi
với quan điểm nguồn vốn trong chế độ công hữu không chỉ thể hiện ở số
lƣợng mà còn ở chất lƣợng, đóng vai trò khống chế của Nhà nƣớc trong nền
kinh tế. Vì thế, các DNNN ở Trung Quốc vẫn chiếm tỷ trọng cao trong các
ngành công nghiệp nặng, then chốt, đòi hỏi nhiều vốn nhƣ dầu mỏ, sản xuất
điện, luyện kim, hoá chất …. và trong một số ngành dịch vụ quan trọng nhƣ
tài chính, bảo hiểm, vận tải, đƣờng sắt, hàng không, viễn thông và dịch vụ y
tế…. nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ CNH, HĐH đất nƣớc mà những hạn chế
của khu vực kinh tế tƣ nhân chƣa thể đảm nhiệm vai trò to lớn này.
Theo Giáo sƣ Peter Nolan, nhà kinh tế học về Trung Quốc hiện đại thuộc

đƣờng duy nhất để Trung Quốc xử lý đƣợc đồng thời những thách thức của
toàn cầu hoá, của chuyển đổi và phát triển là thông qua việc thực thi kiểm 17 soát xã hội một cách chặt chẽ: quá trình tích luỹ phải đi trƣớc, nếu không sẽ
chẳng có bất kỳ sự “phát triển” nào.
Ở Trung Quốc, việc tập trung xây dựng TĐKT có ý nghĩa vô cùng quan
trọng để thay đổi phƣơng thức tăng trƣởng kinh tế và xây dựng nền kinh tế thị
trƣờng XHCN. Cải cách DNNN và phát triển mô hình TĐKT chính là giải
quyết hai khâu then chốt có tính chất căn bản trong quá trình phát triển. Trung
Quốc phải duy trì nhịp độ phát triển của một loạt các TĐKT trên cơ sở cơ chế
thị trƣờng, biến các tập đoàn quy mô lớn có sức cạnh tranh thực sự trở thành
sức mạnh chủ đạo trong quá trình phát triển kinh tế đất nƣớc, trở thành
phƣơng thức tăng trƣởng kinh tế mới, thành chủ thể trong việc điều chỉnh cơ
cấu sản phẩm, cơ cấu công nghiệp và tổ chức kinh doanh.
Vì vậy, để phù hợp với mục tiêu coi kinh tế Nhà nƣớc là chủ đạo và để
CNH, HĐH nền kinh tế, Trung Quốc đã tiến hành xây dựng thí điểm các xí
nghiệp hiện đại đối với 120 xí nghiệp quốc hữu (DNNN) loại lớn và loại vừa
theo mô hình TĐKT Nhà nƣớc bằng hai đợt thí điểm vào các năm 1991 và
1997 và đã thu đƣợc những kết quả khả quan. Vì nền tảng của cải cách kinh tế
ở Trung Quốc là tăng thêm quyền tự chủ của doanh nghiệp.
Như vậy, khi các TĐKT ở Trung Quốc được thành lập và phát triển, vai
trò của các TĐKT nói chung và của TĐKTNN nói riêng đối với sự phát triển
kinh tế Trung Quốc được thể hiện trên các mặt sau:
(1) Các TĐKT sẽ khắc phục đƣợc khả năng hạn chế về vốn của từng
công ty riêng lẻ, việc các tập đoàn có công ty tài chính sẽ cho phép thống nhất
trong tích tụ và tập trung vốn, khi có nguồn vốn lớn các tập đoàn sẽ đầu tƣ

độ giữa các nƣớc chậm phát triển, thúc đẩy CNH - HĐH nền kinh tế.
(3) Đối với các nền kinh tế đang phát triển, nền công nghiệp trong nƣớc
còn manh mún thể hiện ở chỗ: Cơ cấu không hợp lý, số lƣợng doanh nghiệp
lớn nhƣng quy mô của từng doanh nghiệp nhỏ và mức độ tập trung hoá sản
xuất thấp, các doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật thấp, sản phẩm tƣơng tự
nhau, năng lực nghiên cứu và phát triển độc lập còn yếu. Việc hình thành và 19 phát triển các TĐKT là một biện pháp hữu hiệu để đƣa một số lƣợng lớn các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vào hệ thống chuyên môn hoá và hợp tác hoá thông
qua các kênh hợp tác về sản phẩm để tiếp tục điều chỉnh và tối ƣu hoá việc
xác định năng suất lao động và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.
(4) Việc hình thành các TĐKT sẽ làm thay đổi bộ mặt xã hội cho từng
địa phƣơng hay một quốc gia, nó giải quyết đƣợc việc làm cho một phần dân
cƣ tại khu vực, làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyên môn hoá các ngành
nghề, thúc đẩy phát triển các đặc khu kinh tế, các khu công nghiệp và làm
tăng khả năng lớn mạnh của nền kinh tế, chống sự thâm nhập một cách ồ ạt
của các công ty khổng lồ trên thế giới và giúp cho sản xuất trong nƣớc có thể
đứng vững và từng bƣớc vƣơn ra đƣợc các thị trƣờng khu vực và quốc tế.
(5) TĐKT là một trung gian quan trọng với chính phủ để quản lý các
DNNN và thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mô. Do chính phủ đã xoá bỏ
nhiều cơ quan giám sát chuyên ngành trong nền kinh tế kế hoạch hóa truyền
thống để kiểm soát và quản lý các DNNN khi phát triển nền KTTT. Trong khi
đó, TĐKT có rất nhiều đơn vị thành viên, do đó chính phủ có thể quản lý một
cách gián tiếp rất nhiều doanh nghiệp thành viên bằng cách trực tiếp kiểm
soát tập đoàn thông qua mối quan hệ về vốn hoặc hệ thống hợp tác sản xuất
hơn là bằng biện pháp hành chính. Vì vậy, tập đoàn sẽ phải đóng vai trò là

thứ nhất của nền kinh tế thị trƣờng, mới có thể triệt để phát huy đƣợc lợi thế của
mình.
Hiện nay, tình hình kinh tế Trung Quốc cho thấy, bên cạnh những dấu
hiệu khả quan về phát triển kinh tế và tình hình chính trị ổn định, nhân dân tin
tƣởng vào đƣờng lối lãnh đạo của Đảng và chính phủ, song vẫn còn nhiều tồn
tại. Nền kinh tế “nóng” luôn đem lại hai mặt: tích cực và tiêu cực. Sự phát
triển kinh tế nhanh kéo theo tham nhũng, chênh lệch trình độ phát triển và bất
bình đẳng về thu nhập; việc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả làm nguy cơ
thiếu nguyên vật liệu trầm trọng, mâu thuẫn giữa việc gia tăng khai thác phục
vụ sản xuất và xuất khẩu với yêu cầu bảo tồn để phát triển bền vững kèm theo 21 ô nhiễm môi trƣờng, phá huỷ hệ sinh thái Bên trong sự phát triển kinh tế
còn là vấn đề cải cách DNNN gặp rất nhiều khó khăn. Chủ trƣơng xây dựng
hệ thống doanh nghiệp hiện đại tiến triển chậm, tình trạng doanh nghiệp thua
lỗ, tài sản Nhà nƣớc bị thất thoát còn phổ biến. Theo ƣớc tính hiện nay, mỗi
năm số thất thoát tài sản Nhà nƣớc ở Trung Quốc lên tới khoảng 40 tỷ USD.
Tuy vậy, trong quá trình cải cách DNNN, Trung Quốc đã tiến hành nhiều biện
pháp cải cách, cải tổ nhằm làm giảm tính độc quyền và lạm quyền, tăng
cƣờng khả năng cạnh tranh cho khu vực này mặc dù cho đến nay, Trung Quốc
vẫn chƣa có Luật chống độc quyền.
Đối với nền kinh tế Trung Quốc thì vai trò và giá trị của DNNN là tất
yếu khách quan. Nhƣng Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã nhận thức ra
đƣợc vấn đề quan trọng nhất là sự tồn tại của DNNN trong nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung đã không đem lại sự tăng trƣởng thực chất với mục tiêu
lợi nhuận cho bản thân doanh nghiệp và cho cả nền kinh tế.
Mục tiêu của cải cách DNNN ở Trung Quốc là phát triển sức sản xuất

cầu hoá nên lĩnh vực sử dụng hàm lƣợng lao động cao với công nghệ sản xuất
đơn giản sẽ bị loại bỏ để tăng nhanh năng suất lao động. Do đó, việc thành lập
một loại hình kinh tế có quy mô lớn và có năng lực cạnh tranh mạnh trên thị
trƣờng thế giới là tất yếu khách quan và không thể phụ thuộc vào thành phần
kinh tế tƣ nhân và những doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc.
Vì vậy, để khắc phục những nhƣợc điểm còn tồn tại của cải cách DNNN
và những yếu kém của khu vực kinh tế tƣ nhân, Nhà nƣớc Trung Quốc quan
điểm DNNN phải giữ vai trò chủ đạo, không có nghĩa là nắm số lƣợng mà
phải giữ huyết mạch với phƣơng châm “nắm to, thả nhỏ”. Nghĩa là Trung
Quốc tập trung vào thành lập, hỗ trợ, cải cách mạnh ở các xí nghiệp quốc hữu
có quy mô lớn, có tiền đề phát triển trong các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn
lớn, chi phí đầu tƣ cao với nhiều rủi ro. Những xí nghiệp có quy mô lớn nhƣ
vậy chính là các công ty tập đoàn (còn gọi là công ty mẹ). Với sự hình thành
các công ty tập đoàn Nhà nƣớc, việc quản lý trực tiếp của các Bộ đã bị loại 23 trừ, chính phủ đã thực hiện đƣợc chủ trƣơng hiện đại hoá công ty. Lý do chính
của sự hình thành các công ty tập đoàn Nhà nƣớc là trong nền kinh tế toàn cầu
hôm nay, cạnh tranh kinh tế giữa các quốc gia thực tế là sự cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp lớn và nhóm doanh nghiệp của mỗi quốc gia. Và những
cuộc đối đầu kinh tế quốc tế trong thực tiễn đã chỉ ra rằng, nếu một nƣớc có
nhiều doanh nghiệp lớn hay các tập đoàn lớn, nó sẽ duy trì một thị phần xác
định và giữ một vị thế vững mạnh trong trật tự kinh tế thế giới.
Nền kinh tế Trung Quốc là nền kinh tế thị trƣờng XHCN, với sự hoạt
động của nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó thành phần kinh tế nhà
nƣớc giữ vai trò chủ đạo. Theo Ngô Bang Quốc (thuộc Hội đồng Nhà nƣớc
Trung Quốc), (trích trong Kinh tế Nhật báo, 1998) thì hiện tại và trong thế kỷ

Mô hình TĐKT Nhà nƣớc vừa phát huy đƣợc các ƣu thế của một DNNN
là nắm vai trò chủ đạo trong các ngành kinh tế mũi nhọn đòi hỏi yêu cầu về
vốn cao và phải có quy mô lớn, vừa thể hiện đƣợc ƣu thế năng động, linh hoạt
của các doanh nghiệp tƣ nhân, và tập đoàn sẽ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
theo cơ chế thị trƣờng nhƣng vẫn đảm bảo nguyên tắc phát triển hài hoà với
lợi ích của Nhà nƣớc XHCN.
Về mặt lịch sử, trong hơn 10 năm (1978 - 1989) tìm tòi, lựa chọn bƣớc
đi, thí điểm thực hiện và nhân rộng mô hình tập đoàn, Nhà nƣớc Trung Quốc
luôn coi các xí nghiệp quốc hữu là chủ thể quan trọng nhất với những ƣu đãi,
hỗ trợ tài chính mà các loại hình doanh nghiệp khác không thể có đƣợc. Trên
nền tảng đó, các tập đoàn Nhà nƣớc dựa trên các xí nghiệp quốc hữu mới có
điều kiện để phát triển và nắm vai trò đầu tàu trong hệ thống các tập đoàn
nhƣ hiện nay. Thực tế cho thấy TĐKT Nhà nƣớc đóng vai trò hết sức quan
trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nƣớc đang
phát triển nhƣ Trung Quốc.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TĐKT NHÀ
NƢỚC Ở TRUNG QUỐC


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status