Mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước ở Trung Quốc và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam : Luận văn ThS. Kinh tế: 60.31.01 - Pdf 67

1

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………….………….………….

3

CHƢƠNG I - CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TĐKT
NHÀ NƯỚC Ở TRUNG QUỐC………………………………………….........………...……
1.1.

8

Cơ sở lý luận của việc hình thành TĐKT Nhà nƣớc ở
Trung Quốc…………………………………………………………………………………..

8

1.1.1. Khái niệm TĐKT Nhà nước của Trung Quốc……………………….

8

1.1.2. Mô hình nền kinh tế Trung Quốc và vai trò của TĐKT Nhà
nước đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc……………………….
1.2.

12

Cơ sở thực tiễn của việc xây dựng và phát triển mô
hình

QUỐC

24

………………………………………………....

2.1.

Quá trình hình thành và phát triển của mô hình TĐKT


Trung

24

2.1.1. Mục đích, mục tiêu và các nguyên tắc thành lập TĐKT……....

24

2.1.2. Các giai đoạn hình thành và phát triển TĐKT Nhà nước ở

27

Nhà

nƣớc

Quốc………………………………………….………………...

Trung Quốc…………………………………………………………………………..………….

Những thành công của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung
Quốc…………………………………………………………………………………………………..

2.3.2.

64

64

Những hạn chế chủ yếu của mô hình TĐKT Nhà nước ở Trung
Quốc …………………………………………………………………………………………………...

69

2.3.3. Bài học kinh nghiệm từ mô hình TĐKT Nhà nước của
Trung Quốc………………..…………………………………………………………………….

74

CHƢƠNG III - VẬN DỤNG KINH NGHIỆM CUẢ TRUNG
QUỐC VÀO VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN TĐKT NHÀ
NƯỚC Ở VIỆT NAM ………………………..……………………………………………………….
3.1.

81

Tình hình khu vực DNNN và quan điểm về TĐKT nhà
nƣớc ở Việt Nam ………………………………………………………………………..

81

106

3.2.


CHỮ VIẾT TẮT
Bưu chính - Viễn thông

BC - VT

Chủ nghĩa xã hội

CNXH

Công nghệ thông tin

CNTT

Công nghiệp hoá, hiện đại hoá

CNH, HĐH

Doanh nghiệp Nhà nước

DNNN

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FDI


TĐKTNN

Tổng Công ty

Tcty

Việt Nam

VN

Xã hội chủ nghĩa

XHCN

Xuất nhập khẩu

XNK


3

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Mô hình tập đoàn kinh tế (TĐKT) là sản phẩm tất yếu của nền kinh tế thị
trƣờng nhƣ các loại mô hình Cartel, Syndicate, Trust, Conglomerate,
Chaebol… Nó ra đời và phát triển từ yêu cầu của tích tụ và tập trung sản xuất
ở các nƣớc tƣ bản phát triển. Vì vậy, nhiều quốc gia trong đó có Trung Quốc
đã rất chú trọng đến vấn đề hình thành các TĐKT do những lợi ích kinh tế
quy mô lớn mà các tập đoàn tạo ra đối với sự tăng trƣởng và phát triển trong
xu thế hội nhập với toàn cầu hoá kinh tế và từng bƣớc thực hiện công nghiệp

trình thực hiện đổi mới nền kinh tế nói chung và cải cách DNNN nói riêng.
Trung Quốc và Việt Nam có những điểm tƣơng đồng về mục đích cải
cách nền kinh tế và cải cách DNNN. Một là, cả hai nƣớc đều phát triển nền
KTTT theo định hƣớng XHCN và đều là các nƣớc đang phát triển. Hai là, cả
hai đều chuyển từ nền kinh tế kế hoạch sang nền KTTT. Ba là, cả hai đều
đang trong quá trình CNH - HĐH đất nƣớc. Bốn là, cả hai đều tích cực đổi
mới, tích cực chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Do vậy, việc nghiên cứu mô
hình TĐKT Nhà nƣớc của Trung Quốc, làm rõ sự hình thành, phát triển
TĐKT Nhà nƣớc và đánh giá chúng để từ đó rút ra những bài học kinh
nghiệm đối với việc xây dựng, phát triển TĐKT Nhà nƣớc trên cơ sở các
Tổng công ty (Tcty) Nhà nƣớc ở Việt Nam là cần thiết. Vì thế, chúng tôi chọn
đề tài “Mô hình tập đoàn kinh tế Nhà nƣớc ở Trung Quốc và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế, chuyên ngành
kinh tế chính trị xã hội chủ nghĩa (XHCN).
2. Tình hình nghiên cứu
Những vấn đề lý luận chung về TĐKT, nhu cầu hình thành và phát triển
TĐKT ở Việt Nam và các mô hình TĐKT xuyên quốc gia của một số nƣớc
châu Á đã đƣợc nhiều tác giả nghiên cứu và công bố qua một số sách và một


5

số bài viết đăng trên các báo và tạp chí. Ví dụ có sách: “Mô hình TĐKT trong
công nghiệp hoá và hiện đại hoá” do Vũ Huy Từ chủ biên, Nxb Chính trị
quốc gia xuất bản năm 2002; sách “Bàn về cải cách toàn diện DNNN” của tác
giả Trƣơng Hán Bân do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996; hay sách
“Thành lập và quản lý các tập đoàn kinh doanh ở Việt Nam” của PGS.TS.
Nguyễn Đình Phan do Nxb Chính trị quốc gia xuất bản năm 1996. Và sách
“Trung Quốc trƣớc Ngã ba đƣờng” của tác giả Peter Nolan, Trần Thị Thái Hà
(biên dịch), PGS.TS Trần Đình Thiên và Nguyễn Mạnh Hùng (hiệu đính), do

cứu. Bên cạnh đó, chƣa có những nghiên cứu sâu đánh giá những mặt đƣợc và
những hạn chế của mô hình TĐKT Nhà nƣớc ở Trung Quốc để từ đó rút ra
những bài học vận dụng cho Việt Nam trong việc xây dựng các Tcty 90, 91
thành TĐKT Nhà nƣớc. Vì vậy, việc tiếp tục nghiên cứu mảng đề tài này là việc
làm cần thiết và có ý nghĩa trên cả hai phƣơng diện lý luận và thực tiễn.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của đề tài là nghiên cứu những quan điểm chỉ đạo cơ bản của
Đảng và chính phủ Trung Quốc về thành lập TĐKT Nhà nƣớc ở Trung Quốc.
Đồng thời, nghiên cứu đánh giá mô hình TĐKT Nhà nƣớc của Trung Quốc.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu quá trình hình thành và
phát triển TĐKT Nhà nƣớc của Trung Quốc. Trên cơ sở đó, đề xuất các bài
học kinh nghiệm cho Việt Nam tham khảo trong quá trình thí điểm hình thành
một số TĐKT từ các Tổng công ty Nhà nuớc mạnh ở Việt Nam. Vì thực tế ở
Trung Quốc, việc thành lập các TĐKT Nhà nƣớc chiếm tỷ trọng lớn là nhằm
tạo điều kiện để Trung Quốc điều chỉnh cơ cấu, định hƣớng phát triển nền
kinh tế, đặc biệt là cải cách và phát triển khu vực kinh tế Nhà nƣớc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu


7

Đối tƣợng nghiên cứu: Luận văn tập trung vào việc nghiên cứu các
TĐKT của Trung Quốc, đặc biệt là những TĐKT Nhà nƣớc - là những tập
đoàn ra đời và phát triển từ sau cải cách DNNN (năm 1978) đến nay.
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển
của các TĐKT từ năm 1978 đến nay (số liệu nghiên cứu chủ yếu tập hợp đến
năm 2001) trong khuôn khổ lộ trình cải cách DNNN ở Trung Quốc.

5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử,

1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HÌNH THÀNH TĐKT NHÀ NƢỚC
Ở TRUNG QUỐC
Khái niệm TĐKT Nhà nƣớc của Trung Quốc
Khái niệm về Tập đoàn kinh tế (TĐKT) hay còn đƣợc gọi là tập đoàn
doanh nghiệp của Trung Quốc đƣợc xuất hiện đầu tiên từ những năm 80.
Nhƣng cho đến nay, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm tập
đoàn. Có quan điểm cho rằng: “TĐKT là một tổ hợp các liên kết pháp nhân
kinh doanh thông qua nhiều mô hình và phƣơng thức hoạt động khác nhau
nhằm phát triển khoa học công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh, gia tăng
lợi thế về tập trung sản xuất và tính chất độc quyền trong khuôn khổ pháp
luật. Tập đoàn hoạt động ở một hay nhiều ngành khác nhau trong phạm vi
một nƣớc hoặc nhiều nƣớc, trong đó có công ty mẹ nắm quyền lãnh đạo, chi
phối hoạt động của các công ty con về mặt tài chính và chiến lƣợc phát triển”.
Hiện nay, tên gọi là TĐKT hay tập đoàn kinh doanh hay tập đoàn doanh
nghiệp chƣa có sự phân biệt cụ thể nhƣng thực chất các danh từ này là tƣơng
đƣơng nên đề tài sử dụng tên gọi thống nhất chung cho cả luận văn là TĐKT.


9

Và thực tế ở Việt Nam hiện nay, thuật ngữ đƣợc sử dụng phổ biến để chỉ
loại hình tổ chức kinh tế này là các TĐKT.
Một khái niệm khác đƣợc coi là đầy đủ hơn về TĐKT đƣợc đƣa ra trong
“Quy định tạm thời về thành lập và quản lý các TĐDN” của Uỷ ban Kinh tế
và Mậu dịch Nhà nƣớc, Uỷ ban cải cách cơ cấu Nhà nƣớc từ tháng 4/1995 và
đƣợc khẳng định lại trong bộ “Luật về đăng ký kinh doanh của TĐDN” của
Cục Thƣơng mại và Công nghiệp (Trung Quốc) năm 1997, thì: “Tập đoàn
doanh nghiệp là một tổ hợp kinh doanh tập hợp các doanh nghiệp liên quan
với nhau bởi một công ty mẹ. Công ty mẹ của mỗi tập đoàn doanh nghiệp sẽ
hoạt động nhƣ là hạt nhân của tập đoàn, còn các công ty con và các doanh

* Ở Hàn Quốc, TĐKT đƣợc gọi là Chaebol: thuật ngữ Chaebol dùng để
chỉ một liên minh gồm nhiều công ty hình thành quanh một công ty mẹ. Các
công ty thƣờng có cổ phiếu tại mỗi công ty khác và thƣờng do một gia đình
điều hành.
* Ở Nhật Bản, TĐKT đƣợc gọi là Keiretsu: từ này mô tả một tổ hợp liên
kết không chặt chẽ gồm các công ty đƣợc tổ chức quanh một ngân hàng để
phục vụ lợi ích của các bên. Đôi khi, không phải luôn luôn, các công ty sở hữu
vốn trong từng công ty khác.
Theo cuốn “Từ điển kinh tế” của Nhật Bản, tập đoàn kinh doanh
(TĐKD) là một tổ hợp các doanh nghiệp độc lập về mặt pháp lý, nắm giữ cổ
phần của nhau và thiết lập đƣợc mối quan hệ mật thiết về nguồn vốn, nhân
lực, công nghệ, cung ứng nguyên vật liệu và tiêu thụ sản phẩm.
* Ở Ấn Độ, TĐKT đƣợc gọi là Business group: từ này khái quát chỉ tập
hợp các công ty liên kết với nhau dƣới một số hình thức chính quy hoặc
không chính quy, có đặc điểm là mức độ ràng buộc trung gian, cụ thể là
không phải đơn thuần bị ràng buộc bởi các liên minh mang tính chiến lƣợc
ngắn hạn và cũng không phải hợp nhất thành một thực thể duy nhất. Các nhóm


11

doanh nghiệp có hai đặc điểm chính, mối liên kết chặt chẽ giữa các công ty trong
tập đoàn và những hoạt động phối hợp do những mối liên kết đó tạo thành.
* Ở phƣơng Tây, TĐKT đƣợc gọi là Conglomerate hoặc Corporation
hoặc Group: những từ này thƣờng đƣợc sử dụng để chỉ một nghiệp đoàn bao
gồm nhiều doanh nghiệp về bề ngoài không liên quan với nhau. Cơ cấu này giúp
đa dạng hoá rủi ro kinh doanh song sự thiếu tập trung có thể gây khó khăn hơn
trong việc quản lý các công ty kinh doanh khác nhau.
Theo một số nƣớc nhƣ Hà Lan, Anh, Đan Mạch cho rằng: TĐKD là sự
liên kết giữa nhiều chủ thể kinh tế có chung lợi ích, có mối quan hệ sở hữu và

ty mẹ và các công ty con với mức độ liên kết chặt chẽ, nửa chặt chẽ, hoặc
lỏng lẻo tuỳ theo số cổ phần của công ty mẹ ở các công ty thành viên nhƣng
công ty mẹ nắm quyền kiểm soát về chiến lƣợc hoạt động của cả tập đoàn.
Trong khi đó, khái niệm tập đoàn ở các nƣớc khác lại có cơ cấu linh hoạt hơn,
không quy định chặt chẽ chỉ có một công ty mẹ và đƣợc phép đầu tƣ ngƣợc
vào công ty mẹ. Điểm khác biệt đặc trƣng riêng nữa của Trung Quốc là các
TĐKT Nhà nƣớc phải đáp ứng đƣợc đòi hỏi của nền sản xuất hàng hoá
XHCN và của nền sản xuất lớn xã hội hoá mà TĐKT ở các nƣớc khác hình
thành không vì mục đích này mà chỉ vì mục tiêu lợi nhuận của chính những
ngƣời sở hữu tập đoàn.

Mô hình nền kinh tế Trung Quốc và vai trò của TĐKT Nhà nƣớc
đối với sự phát triển kinh tế Trung Quốc.
Hội nghị Trung ƣơng lần thứ 3 khoá XI Đảng cộng sản Trung Quốc họp
tháng 12 - 1978 đã vạch ra chiến lƣợc cải cách và mở cửa mang tính quốc
sách. Trung Quốc thực sự bƣớc vào con đƣờng xây dựng và phát triển ổn
định, tiến tới hiện đại hoá, thực hiện dân giàu nƣớc mạnh, đạt đƣợc nhiều
thành tựu huy hoàng và để lại nhiều bài học sâu sắc cho các quốc gia có nền
kinh tế chuyển đổi. Điểm nổi bật về cơ bản là Trung Quốc đã đạt đƣợc mục


13

tiêu đề ra: Trong 10 năm từ 1981 - 1990 tổng sản phẩm xã hội tăng gấp đôi;
10 năm tiếp theo 1991 - 2000 thì GDP cũng tăng gấp đôi. Năm 2005, GDP
của Trung Quốc đạt 1.689,5 tỷ USD, ƣớc tính đến cuối năm 2020, GDP của
Trung Quốc sẽ đạt 4.300 tỷ USD. Đến năm 2005, GDP bình quân đầu ngƣời
của Trung Quốc đã đạt mức 1.774 USD/1năm (quy đổi là khoảng 19.514
NDT) cho thấy tốc độ tăng trƣởng kinh tế nhanh chóng và hiệu quả của Trung
Quốc từ sau cải cách và mở cửa (Có tài liệu cho rằng, giai đoạn từ 1979 1997, GDP bình quân đầu ngƣời ở thành thị khoảng 6000 NDT/năm, ở nông

Quốc.
- Kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
- Kiên quyết theo định hƣớng XHCN.
- XHCN ở Trung Quốc hiện tại mới đang ở giai đoạn bắt đầu xây dựng.
- Nhấn mạnh tính dẫn hƣớng của thị trƣờng.
Trung Quốc xuất phát từ một nƣớc có cơ sở hạ tầng yếu kém, cho nên để
xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc thì phải tập trung phát triển kinh
tế, phát triển thị trƣờng. Để phát triển kinh tế phải trên cơ sở giải phóng sức
sản xuất, thông qua phát triển sức sản xuất để xác lập quan hệ sản xuất mới.
Trong quá trình cải cách thể chế kinh tế ở Trung Quốc, vấn đề then chốt là
phải tạo ra sự thích ứng của quan hệ sản xuất với lực lƣợng sản xuất. Nền tảng
của nền kinh tế thị trƣờng XHCN của Trung Quốc đƣợc thể hiện ở các khía
cạnh sau:
Trƣớc cải cách, kinh tế Trung Quốc gần nhƣ hoàn toàn thuộc sở hữu
công cộng, chiếm tới 99,1% tổng sản phẩm trong nƣớc vào năm 1978. Đó là
nền kinh tế dựa trên chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất và Nhà nƣớc quản lý
bằng cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu. Do đó, khu vực kinh tế Nhà
nƣớc là chủ yếu còn khu vực kinh tế tƣ nhân không đƣợc thừa nhận mà bị
ngăn cấm. Thực trạng này dẫn đến hạn chế cho nền kinh tế Trung Quốc là


15

trình độ phát triển của lực lƣợng sản xuất rất thấp do quan hệ sản xuất đình
trệ. Tuy nhiên, nhận thức về kinh tế Nhà nƣớc ngày càng thay đổi sâu sắc do
đòi hỏi khách quan phải CNH, HĐH đất nƣớc với chủ trƣơng nhiều loại hình
kinh tế cùng phát triển, tỷ trọng của các loại hình kinh tế phi công hữu (gồm
kinh tế cá thể, kinh tế tƣ nhân …) đã tăng từ 0,9% năm 1978 lên 24,2% năm
1997 trong GDP và mức giảm tƣơng ứng của kinh tế công hữu từ 99,1% năm
1978 xuống còn 75,8% năm 1997. Sự phát triển nhảy vọt của loại hình kinh tế

đóng cửa trƣớc khuynh hƣớng chủ đạo trong kinh tế học và chính trị học quốc
tế, đó là: “Trong việc dò tìm (dò đá qua sông) cho riêng mình một sự sống
còn của hệ thống kinh tế chính trị, Trung Quốc phải trông cậy vào các lực
lƣợng thị trƣờng (bao gồm các mức giá do thị trƣờng xác định và các triết lý
kinh doanh) và đặt chúng dƣới sự kiểm soát, phục vụ cho toàn xã hội nhằm
đạt đƣợc một nền kinh tế chính trị tổng thể có gắn kết về mặt xã hội”. Bởi
vậy, Đảng Cộng sản Trung Quốc có khả năng đề xuất một con đƣờng phát
triển cho một xã hội ổn định, gắn kết xã hội trong khuôn khổ một quốc gia: đó
là sự “lựa chọn” gia tăng vai trò của Nhà nƣớc và làm cho nó hữu hiệu hơn để
giải quyết những thách thức kinh tế xã hội ngày càng gay gắt mà đất nƣớc
đang phải đối mặt, và cải thiện Nhà nƣớc là mục tiêu duy nhất hợp lý cho cải
cách hệ thống của Trung Quốc. Nếu Trung Quốc lựa chọn con đƣờng cải cách
là bỏ mặc Nhà nƣớc và để cho thuyết chính thống về thị trƣờng tự do (tự do
hoá hoàn toàn), tất yếu sẽ dẫn tới những căng thẳng không thể kiểm soát và sự
tan rã của xã hội (vì ở tất cả các nƣớc công nghiệp mà ở đó tối đa hoá lợi
nhuận tƣ nhân là động lực của sản xuất thì hệ thống kinh tế cạnh tranh tƣ nhân
đang tự quy tội chết cho chính nó bởi vì tất cả các bên đều không kiềm chế
đƣợc lòng tham của họ và hệ thống đó sẽ không thể vận hành đƣợc). Và con
đƣờng duy nhất để Trung Quốc xử lý đƣợc đồng thời những thách thức của
toàn cầu hoá, của chuyển đổi và phát triển là thông qua việc thực thi kiểm


17

soát xã hội một cách chặt chẽ: quá trình tích luỹ phải đi trƣớc, nếu không sẽ
chẳng có bất kỳ sự “phát triển” nào.
Ở Trung Quốc, việc tập trung xây dựng TĐKT có ý nghĩa vô cùng quan
trọng để thay đổi phƣơng thức tăng trƣởng kinh tế và xây dựng nền kinh tế thị
trƣờng XHCN. Cải cách DNNN và phát triển mô hình TĐKT chính là giải
quyết hai khâu then chốt có tính chất căn bản trong quá trình phát triển. Trung

doanh huy động đƣợc tất cả các nguồn lực trong xã hội, và việc tập trung các
công ty vào trong một đầu mối làm cho họ có điều kiện thuận lợi khi cạnh
tranh với các tập đoàn nƣớc ngoài. Thực chất TĐKT tạo ra nhu cầu nội tại cho
phát triển, phân bổ hợp lý các nguồn lực, kết hợp tối ƣu các yếu tố sản xuất,
đạt đƣợc tính kinh tế nhờ quy mô. Do vậy, TĐKT là một sức mạnh khung và
là một tổ chức kinh tế quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Sự phát triển của
TĐKT thể hiện sức mạnh kinh tế quốc gia. TĐKT có tác dụng rất lớn trong
việc cung cấp trao đổi thông tin và những kinh nghiệm quan trọng trong tổ
chức nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất. Sự hợp tác về
nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ trong tập đoàn với các Viện nghiên
cứu khoa học còn cho phép các công ty thành viên có khả năng nhanh chóng
đƣa các kết quả nghiên cứu vào thực tiễn trên một quy mô rộng lớn hơn, giảm
thiểu các rủi ro lớn khi phải đầu tƣ để cải tiến kỹ thuật. Sự thống nhất trong
tập đoàn sẽ góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ ra nƣớc ngoài cũng nhƣ
việc thay đổi cơ cấu sản xuất một cách hợp lý. Nó là cầu nối để tiếp thu nhanh
chóng các thành tựu khoa học trên thế giới, làm thu hẹp khoảng cách về trình
độ giữa các nƣớc chậm phát triển, thúc đẩy CNH - HĐH nền kinh tế.
(3) Đối với các nền kinh tế đang phát triển, nền công nghiệp trong nƣớc
còn manh mún thể hiện ở chỗ: Cơ cấu không hợp lý, số lƣợng doanh nghiệp
lớn nhƣng quy mô của từng doanh nghiệp nhỏ và mức độ tập trung hoá sản
xuất thấp, các doanh nghiệp có trình độ kỹ thuật thấp, sản phẩm tƣơng tự
nhau, năng lực nghiên cứu và phát triển độc lập còn yếu. Việc hình thành và


19

phát triển các TĐKT là một biện pháp hữu hiệu để đƣa một số lƣợng lớn các
doanh nghiệp vừa và nhỏ vào hệ thống chuyên môn hoá và hợp tác hoá thông
qua các kênh hợp tác về sản phẩm để tiếp tục điều chỉnh và tối ƣu hoá việc
xác định năng suất lao động và cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp.

1.2. CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
MÔ HÌNH TĐKT NHÀ NƢỚC Ở TRUNG QUỐC
Năm 1978, khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện cải cách DNNN đồng chí
Đặng Tiểu Bình đã vạch ra rằng:“ Thành lập TĐKT thì sẽ tạọ ra được sức
mạnh, thông tin thông suốt, nhanh nhạy hơn”. Muốn nâng cao tố chất chỉnh
thể của DNNN thì không những phải cải cách từng doanh nghiệp riêng lẻ mà
còn phải căn cứ vào yêu cầu xã hội hoá để liên hiệp các doanh nghiệp lại với
nhau, lập ra các TĐKT, tạo ra cơ cấu tổ chức tốt hơn giữa các doanh nghiệp.
Nếu nói rằng kinh doanh theo chiều sâu mà chủ yếu là nâng cao trình độ kinh
doanh trong nội bộ doanh nghiệp thì liên kết các doanh nghiệp lại với nhau
đặc biệt là thành lập ra các TĐKT là nâng cao trình độ tổ chức lực lƣợng sản
xuất trong phạm vi xã hội. Chỉ có phát triển theo hƣớng tập đoàn hoá thì các
DNNN mới thực sự trở thành lực lƣợng sản xuất hiện đại, mới trở thành chủ thể
thứ nhất của nền kinh tế thị trƣờng, mới có thể triệt để phát huy đƣợc lợi thế của
mình.
Hiện nay, tình hình kinh tế Trung Quốc cho thấy, bên cạnh những dấu
hiệu khả quan về phát triển kinh tế và tình hình chính trị ổn định, nhân dân tin
tƣởng vào đƣờng lối lãnh đạo của Đảng và chính phủ, song vẫn còn nhiều tồn
tại. Nền kinh tế “nóng” luôn đem lại hai mặt: tích cực và tiêu cực. Sự phát
triển kinh tế nhanh kéo theo tham nhũng, chênh lệch trình độ phát triển và bất
bình đẳng về thu nhập; việc sử dụng tài nguyên kém hiệu quả làm nguy cơ
thiếu nguyên vật liệu trầm trọng, mâu thuẫn giữa việc gia tăng khai thác phục
vụ sản xuất và xuất khẩu với yêu cầu bảo tồn để phát triển bền vững kèm theo


21

ô nhiễm môi trƣờng, phá huỷ hệ sinh thái... Bên trong sự phát triển kinh tế
còn là vấn đề cải cách DNNN gặp rất nhiều khó khăn. Chủ trƣơng xây dựng
hệ thống doanh nghiệp hiện đại tiến triển chậm, tình trạng doanh nghiệp thua

khăn hơn DNNN, quy mô thƣờng nhỏ lẻ) và do tính phi chính thức của khu
vực kinh tế tƣ nhân nhƣ không giữ đƣợc uy tín kinh doanh, dễ có hiện tƣợng
làm ăn không chân chính, không tuân thủ pháp luật, không có cơ chế quản lý
nội bộ hợp lý. Theo Peter Nolan: “Quá trình tƣ nhân hoá ở Trung Quốc cho
tới nay đƣợc đặc trƣng bởi giao dịch tay trong và tham nhũng phổ biến”.
Mặt khác, Trung Quốc có mức dân số khổng lồ gần 1,3 tỷ ngƣời, với số
lao động là 829 triệu ngƣời (năm 1999) và có gần 70% dân số vẫn sống ở
nông thôn. Nhƣng việc làm trong nông nghiệp ngày càng trì trệ, ƣớc tính có
khoảng 150 triệu lao động dôi dƣ ở khu vực nông nghiệp và ngày càng tăng
lên. Các xí nghiệp hƣơng trấn (TVEs) ở các địa phƣơng cũng ngừng trệ việc
hấp thụ lao động nông thôn do phải cạnh tranh khi hội nhập thị trƣờng toàn
cầu hoá nên lĩnh vực sử dụng hàm lƣợng lao động cao với công nghệ sản xuất
đơn giản sẽ bị loại bỏ để tăng nhanh năng suất lao động. Do đó, việc thành lập
một loại hình kinh tế có quy mô lớn và có năng lực cạnh tranh mạnh trên thị
trƣờng thế giới là tất yếu khách quan và không thể phụ thuộc vào thành phần
kinh tế tƣ nhân và những doanh nghiệp vừa và nhỏ đƣợc.
Vì vậy, để khắc phục những nhƣợc điểm còn tồn tại của cải cách DNNN
và những yếu kém của khu vực kinh tế tƣ nhân, Nhà nƣớc Trung Quốc quan
điểm DNNN phải giữ vai trò chủ đạo, không có nghĩa là nắm số lƣợng mà
phải giữ huyết mạch với phƣơng châm “nắm to, thả nhỏ”. Nghĩa là Trung
Quốc tập trung vào thành lập, hỗ trợ, cải cách mạnh ở các xí nghiệp quốc hữu
có quy mô lớn, có tiền đề phát triển trong các ngành công nghiệp đòi hỏi vốn
lớn, chi phí đầu tƣ cao với nhiều rủi ro. Những xí nghiệp có quy mô lớn nhƣ
vậy chính là các công ty tập đoàn (còn gọi là công ty mẹ). Với sự hình thành
các công ty tập đoàn Nhà nƣớc, việc quản lý trực tiếp của các Bộ đã bị loại


23

trừ, chính phủ đã thực hiện đƣợc chủ trƣơng hiện đại hoá công ty. Lý do chính

quá trình chuyển đổi kinh tế. Lý do là quá trình phát triển nền KTTT ở Trung
Quốc vẫn đang tiếp tục, nên các chức năng của thị trƣờng vần còn yếu kém và
đôi khi phải chịu nhiều phí tổn. Bằng việc hình thành các TĐKT, mỗi doanh
nghiệp thành viên có thể tận dụng các thông tin tốt hơn, có khả năng đối phó
với các rủi ro đi kèm với cơ cấu thị trƣờng chƣa phát triển và có khả năng tiếp
cận với các khoản tín dụng mà bình thƣờng phải rất tốn kém hoặc không thể
có đƣợc. Điều quan trọng hơn là việc thành lập các TĐKT có thể tạo điều
kiện cho quá trình cải cách DNNN khi việc tƣ nhân hoá hàng loạt không phải là
giải pháp đƣợc lựa chọn.
Mô hình TĐKT Nhà nƣớc vừa phát huy đƣợc các ƣu thế của một DNNN
là nắm vai trò chủ đạo trong các ngành kinh tế mũi nhọn đòi hỏi yêu cầu về
vốn cao và phải có quy mô lớn, vừa thể hiện đƣợc ƣu thế năng động, linh hoạt
của các doanh nghiệp tƣ nhân, và tập đoàn sẽ hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận
theo cơ chế thị trƣờng nhƣng vẫn đảm bảo nguyên tắc phát triển hài hoà với
lợi ích của Nhà nƣớc XHCN.
Về mặt lịch sử, trong hơn 10 năm (1978 - 1989) tìm tòi, lựa chọn bƣớc
đi, thí điểm thực hiện và nhân rộng mô hình tập đoàn, Nhà nƣớc Trung Quốc
luôn coi các xí nghiệp quốc hữu là chủ thể quan trọng nhất với những ƣu đãi,
hỗ trợ tài chính mà các loại hình doanh nghiệp khác không thể có đƣợc. Trên
nền tảng đó, các tập đoàn Nhà nƣớc dựa trên các xí nghiệp quốc hữu mới có
điều kiện để phát triển và nắm vai trò đầu tàu trong hệ thống các tập đoàn
nhƣ hiện nay. Thực tế cho thấy TĐKT Nhà nƣớc đóng vai trò hết sức quan
trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nƣớc đang
phát triển nhƣ Trung Quốc.
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TĐKT NHÀ
NƢỚC Ở TRUNG QUỐC




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status