Quản lý nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc và những gợi ý chính sách cho việt nam luận văn ths - Pdf 33

I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KINH T
--------------

TRN TH THANH HUYN

quản lý nhà nước
đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc
và những gợi ý chính sách cho việt nam

LUN VN THC S KINH T CHNH TR

H Ni 2009


I HC QUC GIA H NI
TRNG I HC KINH T
--------------

TRN TH THANH HUYN

quản lý nhà nước
đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài ở trung quốc
và những gợi ý chính sách cho việt nam

Chuyờn ngnh : Kinh t chớnh tr
Mó s
: 60 31 01

LUN VN THC S KINH T CHNH TR


Khu chế xuất

M&A

Mua lại và sáp nhập

NDT

Đồng nhân dân tệ

R&D

Nghiên cứu và triển khai

TNCs

Công ty xuyên quốc gia

USD

Đồng đô la Mỹ

VAT

Thuế giá trị gia tăng

WT0

Tổ chức Thương mại Thế giới



3


Là quốc gia láng giềng có nhiều điểm tương đồng với Trung Quốc về
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội nói chung, về thu hút FDI nói riêng, Việt
Nam có thể học hỏi được gì từ kinh nghiệm quản lý FDI của họ nhằm thu hút,
sử dụng có hiệu quả hơn nữa nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trong bối
cảnh hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng và tình hình kinh tế toàn cầu suy giảm
hiện nay?
Đề tài luận văn “Quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước
ngoài ở Trung Quốc và những gợi ý chính sách cho Việt Nam” được thực
hiện với mong muốn góp phần nhỏ bé vào việc trả lời câu hỏi đó.
2. Tình hình nghiên cứu
Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc đã thu hút sự chú ý của nhiều
nhà nghiên cứu tại nhiều quốc gia khác nhau. Đã có nhiều công trình nghiên
cứu liên quan đến vấn đề thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc
từ khi nước này thực hiện cải cách mở cửa nền kinh tế (1978), trong đó có
những công trình liên quan trực tiếp đến nội dung luận văn là:
- “Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Trung Quốc từ 1979 đến nay” của
TS Nguyễn Kim Bảo, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2000. Công trình này
này đã nghiên cứu một cách khá toàn diện về thu hút đầu tư trực tiếp nước
ngoài của Trung Quốc từ năm 1979. Bên cạnh việc phân tích các đặc điểm chủ
yếu, tác giả còn phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Trung
Quốc tới các mặt kinh tế-xã hội và từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm
cho Việt Nam.
- “Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài trong quá trình hội nhập kinh tế
quốc tế của Trung Quốc thời kỳ 1978-2003: Thực trạng và bài học kinh
nghiệm đối với Việt Nam”, luận án tiến sĩ của Đặng Thu Hương, năm 2007,
lưu tại thư viện Trường Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Công trình này đã

nào để tăng cường thu hút vốn FDI ở Trung Quốc, mà còn ít công trình nghiên
cứu một cách tổng thể hoạt động quản lý Nhà nước kể cả trước và sau khi cấp

5


phép, hoặc nếu có công trình nào đó đề cập thì cũng chỉ dừng lại ở việc phân
tích hoạt động quản lý Nhà nước đối với các dự án FDI được cấp phép, còn
hoạt động của khu vực này sau khi cấp phép như Nhà nước cần làm gì để hỗ
trợ doanh nghiệp triển khai, thực hiện dự án, công tác thanh tra, kiểm tra, giám
sát hoạt động đầu tư... thì vẫn còn bỏ ngỏ. Vì vậy, việc nghiên cứu hoạt động
Quản lý Nhà nước (cả trước và sau khi cấp phép) đối với FDI ở Trung Quốc
để đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam là rất cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích: Mục đích của luận văn là phân tích thực trạng hoạt động
quản lý Nhà nước đối với FDI ở Trung Quốc, rút ra bài học kinh nghiệm, từ
đó đưa ra một số gợi ý chính sách cho Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận liên quan đến đầu tư trực tiếp nước
ngoài và vai trò quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài.
- Phân tích hoạt động quản lý của Nhà nước Trung Quốc đối với FDI.
- Trên cơ sở phân tích mặt được và chưa được trong hoạt động quản lý
Nhà nước đối với FDI của Trung Quốc, luận văn đề xuất một số gợi ý về mặt
chính sách cho Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý Nhà
nước đối với FDI ở nước ta.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động quản lý Nhà nước đối
với đầu tư trực tiếp nước ngoài cả trên phương diện lý luận và thực tiễn.
- Phạm vi nghiên cứu:


7


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
VÀ VAI TRÒ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI

1.1. Khái quát những vấn đề lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1. Khái niệm và các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.1.1. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã xuất hiện trên thế giới từ rất
lâu song kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 tăng lên nhanh chóng và trở
thành hiện tượng nổi bật trong các hoạt động kinh tế quốc tế. Nguồn vốn đầu
tư quốc tế dần trở thành điều kiện thiết yếu để tăng trưởng kinh tế ở hầu hết
các quốc gia, đặc biệt trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
rộng hiện nay. Vậy như thế nào là đầu tư trực tiếp nước ngoài thì cho tới nay
vẫn còn những cách hiểu khác nhau:
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn
đầu tư được thực hiện nhằm thu lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động
ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Ngoài mục đích lợi
nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm được chỗ đứng trong quản lý doanh nghiệp
[41, tr.136]

8


Về thực chất, khái niệm này khẳng định tính lâu dài trong hoạt động đầu
tư và động cơ của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận, kiểm soát hoạt động

nước. Chính vì vậy, nhiều công ty xuyên quốc gia (TNCs) lớn của thế giới chủ
yếu thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các nước khác hơn là tham gia đầu
tư gián tiếp; nhiều công ty thực hiện các dự án FDI với điều kiện dành được
quyền kiểm soát ít nhất là 51% cổ phần của doanh nghiệp; có công ty chỉ thực
hiện hình thức 100% sở hữu vốn và quyền kiểm soát. Về lợi ích khống chế thì
đang có những ý kiến khác nhau, nhưng hiện nay nhiều người đã thừa nhận
rằng một công ty nước ngoài có tỷ lệ sở hữu cổ phần tối thiểu 10% thì có ảnh
hưởng nhất định đến quyền kiểm soát doanh nghiệp, tác động đến chiến lược
kinh doanh và quản trị doanh nghiệp.
Các nhà nghiên cứu Trung Quốc cho rằng đầu tư trực tiếp là người sở
hữu tư bản tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước
khác. Nếu khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho thực thể kinh tế này của nước ngoài
có “ảnh hưởng quyết định” đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm “quyền
cầm cái” trong thực thể kinh tế mà nó có ảnh hưởng ấy, thì đó là đầu tư trực tiếp
[1, tr.7]. Quyền kiểm soát được đề cập tới ở đây là tỷ lệ cổ phần. Khi tỷ lệ cổ
phần đạt tới tỷ lệ nhất định nào đó thì có quyền kiểm soát xí nghiệp. Các xí
nghiệp khác nhau, tỷ lệ cổ phần để giành được quyền kiểm soát ấy có khác
nhau. Dịch chuyển tư bản quốc tế tùy theo từng nước cũng có sự khác nhau.
Điều đáng chú ý là quyền kiểm soát là vấn đề cốt lõi trong đầu tư trực tiếp mà
đầu tư trực tiếp cũng có thể không có sự dịch chuyển tư bản thực tế. Chẳng hạn
như các công ty mẹ cung cấp cho các công ty con kỹ năng quản lý, bí quyết
kinh doanh, kỹ thuật, nhãn hiệu và chỉ dẫn tiêu thụ. Những hoạt động này diễn
ra không kéo theo dịch chuyển tư bản. Cũng có thể công ty mẹ vay được tiền ở
nước chủ nhà, cùng với bản quyền nhãn hiệu và các tài sản vô hình khác như
quản lý kinh doanh...nên họ vẫn kiểm soát được các công ty con.

10


Theo Luật Đầu tư được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam

1.1.1.2. Các hình thức chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện theo hai kênh chủ yếu: hình
thức đầu tư mới (Greenfield) và hình thức mua lại và sáp nhập (Merger and
Aquitition). Đầu tư mới là hình thức mà các chủ đầu tư thực hiện đầu tư ở
nước ngoài thông qua việc thành lập các doanh nghiệp mới, còn hình thức
mua lại và sáp nhập là hình thức mà các chủ đầu tư tiến hành đầu tư thông qua
việc mua lại hoặc sáp nhập các doanh nghiệp hiện có ở nước ngoài. Đầu tư
mới là kênh đầu tư truyền thống, chủ yếu để các nhà đầu tư ở các nước phát
triển đầu tư vào các nước đang phát triển. Còn mua lại và sáp nhập là kênh
đầu tư mới phổ biến những năm gần đây, được thực hiện ở các nước phát
triển, các nước mới công nghiệp hóa.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài gồm những hình thức chủ yếu sau đây:
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
+ Doanh nghiệp liên doanh
+ Hợp đồng hợp tác kinh doanh.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu
của nhà đầu tư nước ngoài (tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do nhà
đầu tư nước ngoài thành lập tại nước chủ nhà, tự quản lý và tự chịu trách
nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh nhưng vẫn là pháp nhân của nước chủ
nhà và chịu sự kiểm soát của luật pháp nước chủ nhà.
Nhìn chung, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài ngày càng được các
chủ đầu tư ưa thích vì họ được toàn quyền quản lý và hưởng lợi nhuận do kết
quả đầu tư tạo ra (chủ đầu tư chỉ phải làm tròn nghĩa vụ tài chính với nước chủ
nhà). Trong khi đó, nước chủ nhà không phải lúc nào cũng có thể tham gia
góp vốn thành lập doanh nghiệp liên doanh. Do vậy, đối với những dự án đầu
tư vốn lớn, thời hạn thu hồi vốn lâu, mức độ mạo hiểm cao và không đòi hỏi

12




kinh nghiệm quản lý hiện đại. Loại hình đầu tư này thường được nước chủ nhà
áp dụng chủ yếu đối với đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhưng để đạt được
kết quả mong muốn thì việc áp dụng hình thức này đòi hỏi nước chủ nhà phải
có khả năng góp vốn, các nhà quản lý doanh nghiệp phải có đủ trình độ và
năng lực quản lý, tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến, hiện đại
của nước ngoài.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Là hình thức liên kết kinh doanh giữa
hai bên hoặc nhiều bên trên cơ sở quy định rõ trách nhiệm và phân chia kết
quả kinh doanh cho mỗi bên để tiến hành đầu tư kinh doanh mà không thành
lập một pháp nhân.
Hợp đồng hợp tác kinh doanh rất đa dạng, thường được áp dụng phổ
biến trong các lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp gia công và
dịch vụ. Các bên tham gia hợp đồng vẫn là những pháp nhân riêng, thời hạn
hợp đồng thường ngắn. Do vậy loại hình này thích hợp với các nhà đầu tư
nước ngoài có ít tiềm lực về vốn.
1.1.2. Tác động của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội của nước nhận đầu tư
1.1.2.1. Tác động tích cực
Thứ nhất, FDI góp phần nâng cao trình độ kỹ thuật và công nghệ.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài hiện đang trở thành kênh quan trọng nhất
của việc chuyển giao công nghệ, nhờ đó nâng cao trình độ công nghệ và sức
cạnh tranh của nền kinh tế. Thông qua các doanh nghiệp có vốn FDI, những
công nghệ tiên tiến, hiện đại sẽ được du nhập vào nước nhận đầu tư, tạo sự
phát triển một số ngành công nghiệp mũi nhọn như viễn thông, khai thác dầu
khí, hóa chất, điện tử, sản xuất ô tô... Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài có trình độ công nghệ cao hơn cũng sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp trong

14




GDP và 19,1% tài sản cố định, cao hơn mức bình quân của các nước đang
phát triển là 26,4% và 10,5%. [7, tr 61-62].
Đối với Việt Nam, lượng vốn FDI thu hút trong năm 2004 là 4,5 tỷ USD,
đóng góp vào 14,2% tổng vốn đầu tư phát triển và 15,5% vào mức tăng GDP
7,79%. Năm 2007 con số tương ứng là 20,3 tỷ USD vốn FDI đóng góp 24,8%
vốn đầu tư phát triển, 17,7% vào GDP với tốc độ tăng trưởng 8,48% [28].
Thứ ba, FDI góp phần giải quyết việc làm, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Ngày nay, sự giàu có và khả năng cạnh tranh của một quốc gia không
còn đơn thuần phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên sẵn có mà phần lớn
phụ thuộc vào chất lượng của nguồn nhân lực. Một trong những cách tốt nhất
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là tham gia vào hội nhập kinh tế quốc
tế bởi ở đó người lao động có điều kiện nâng cao trình độ, tay nghề và kỹ năng
sản xuất. Hơn nữa môi trường cạnh tranh để tìm kiếm việc làm trong điều kiện
hội nhập kinh tế thế giới buộc người lao động phải tìm tòi, học hỏi và thường
xuyên nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, ý thức kỷ luật...để đáp ứng
nhu cầu tuyển dụng của các công ty, xí nghiệp trong và ngoài nước. Năm
2004, các doanh nghiệp FDI đã giải quyết việc làm cho trên 24 triệu lao động
ở Trung Quốc, chiếm 10% lực lượng lao động thành thị [7, tr. 64]. Ở Việt
Nam, năm 2008, số người làm việc trong khu vực này lên tới 1,83 triệu người
chiếm 4,06% lực lượng lao động, thu nhập bình quân của lao động trong khu
vực này gấp 5-7 lần so với mức trung bình của nền kinh tế [3, tr.14].
Như vậy, vai trò của FDI đối với vấn đề giải quyết việc làm là không
thể phủ nhận, ngoài ra còn là giải pháp tốt đối với nâng cao trình độ, năng lực
quản lý và kỹ thuật của người lao động. Thông qua làm việc cho các doanh
nghiệp có vốn FDI, người lao động có cơ hội được học hỏi kinh nghiệm, kỹ
năng quản lý tiên tiến, ý thức kỷ luật lao động cao...Đây là những yếu tố tích
cực đóng góp vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.


17


Đối với các nước đang phát triển, ngoài những lợi ích mà FDI mang lại
như bổ sung nguồn vốn trong nước và thúc đẩy chuyển giao công nghệ thì
kinh nghiệm quản lý tốt cũng tác động rất lớn đến quá trình công nghiệp hoá
và tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia. Kinh nghiệm quản lý hiện đại được
tích luỹ thông qua quá trình chuyển giao công nghệ vì các nước nhận đầu tư
không chỉ nhập khẩu công nghệ đơn thuần mà họ phải học hỏi để nắm vững
kỹ năng vận hành, sửa chữa, thực hiện tốt các khâu để đạt hiệu quả cao. Các
nhà đầu tư nước ngoài không chỉ chuyển giao máy móc, thiết bị, nguyên vật
liệu mà còn chuyển giao cả những tri thức khoa học, bí quyết quản lý, kỹ năng
tiếp cận thị trường...Điều này bắt buộc các doanh nghiệp trong nước phải nâng
cao trình độ và kinh nghiệm của mình trong công tác quản lý.
Kinh nghiệm quản lý hiện đại cũng sẽ được tích luỹ nhiều hơn nếu như
nước chủ nhà cùng tham gia làm việc với các nhà đầu tư nước ngoài (dưới các
hình thức liên doanh) thông qua việc đánh giá và xây dựng dự án, tổ chức điều
hành doanh nghiệp, quản lý tài chính, kế toán, nghiên cứu thị trường và tổ
chức mạng lưới dịch vụ...
1.1.2.2. Tác động tiêu cực
Đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể là một động lực mạnh mẽ cho phát
triển và tăng trưởng ở nước nhận đầu tư, nhưng nó cũng có thể gây rối loạn
cho quá trình phát triển nếu không được quản lý cẩn trọng. Những tác động
tiêu cực đến sự phát triển của nước nhận đầu tư có thể kể đến là:
Thứ nhất, gây mất cân đối trong cơ cấu đầu tư
Những chính sách ưu đãi nhằm thu hút FDI có sức mạnh như những cục
nam châm hút các nhà đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, điều đó sẽ dẫn đến mất
cân đối trong phân bổ nguồn vốn đầu tư giữa các ngành nghề, vùng lãnh thổ.
Do lợi ích của bên nhận đầu tư và nhà đầu tư là khác nhau nên mục tiêu
của họ cũng khác nhau. Nước nhận đầu tư muốn dòng vốn được đầu tư vào hệ

nghệ cũ, lạc hậu, không thể sử dụng ở nước họ vào các nước này thông qua

19


nhiều hình thức khác nhau. Hình thức phổ biến là góp vốn bằng công nghệ tại
các liên doanh. Nhà đầu tư nước ngoài góp vốn bằng thiết bị, vật tư lạc hậu, đã
qua sử dụng song được tân trang lại như mới. Điều này gây thiệt hại kinh tế
không nhỏ cho nước nhận đầu tư: mua công nghệ cũ nhưng với giá cao. Hình
thức bán dây chuyển sản xuất cũng tồn tại không ít vấn đề. Bên nước ngoài
chuyển cho các nước nhận đầu tư công nghệ lạc hậu từ 2-3 thế hệ thậm chí chỉ
chuyển giao một phần công nghệ dẫn đến hiện tượng công nghệ chắp vá,
không đồng bộ. Kết quả là các nước đang phát triển trở thành bãi thải công
nghiệp của các nước phát triển, hiệu quả sản xuất vốn đã kém lại không cải
thiện được nhiều, sản phẩm cạnh trạnh khó khăn trên thị trường quốc tế. Kết
quả khảo sát điều tra về thiết bị nhập khẩu trong 42 doanh nghiệp có vốn FDI
thuộc ngành công nghiệp nhẹ của Bộ công nghiệp Việt Nam năm 2005 cho
thấy, có tới 76% máy móc, thiết bị sản xuất hàng tiêu dùng thuộc thế hệ từ
năm 1950-1986, hơn 70% số máy móc đã hết khấu hao, 50% thiết bị cũ được
tân trang lại [26, tr. 61]
Thứ ba, gây ô nhiễm môi trường
Các doanh nghiệp FDI chủ yếu đầu tư vào lĩnh vực sản xuất công
nghiệp và chế biến thực phẩm vốn là những ngành sản sinh ra nhiều chất thải,
dễ gây ô nhiễm môi trường, thậm chí ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống,
tính mạng của người dân. Hiện tượng các doanh nghiệp khi đăng ký đầu tư
đưa ra các phương án xử lý chất thải công nghiệp, các biện pháp giữ gìn môi
trường nhưng trong quá trình thực hiện thì lại tìm mọi cách né tránh là điều
thường xuyên xảy ra. Nguyên nhân gây ra hiện tượng trên là do những nước
nhận đầu tư – chủ yếu là các nước kém và đang phát triển không đặt ra các
tiêu chuẩn chặt chẽ về môi trường; đánh thuế thấp thậm chí không đánh thuế

độ, các thiết bị an toàn…), thậm chí không được hưởng trợ cấp độc hại.
1.2. Nội dung và vai trò quản lý Nhà nước đối với đầu tư trực tiếp
nước ngoài

21


1.2.1. Khái niệm và nội dung quản lý Nhà nước đối với FDI
1.2.1.1. Khái niệm quản lý Nhà nước đối với FDI
Quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế quốc dân là sự tác động có tổ
chức và bằng pháp quyền của Nhà nước lên nền kinh tế nhằm sử dụng có hiệu
quả nhất các nguồn lực kinh tế trong và ngoài nước; các cơ hội có thể có để
đạt mục tiêu phát triển kinh tế đất nước đã đặt ra [23, tr.21].
Ở mỗi quốc gia khi vận hành nền kinh tế đều có sự giống nhau là chịu
sự chi phối và tác động của các quy luật kinh tế và quy luật đặc thù của mỗi
chế độ xã hội. Nhà nước nhận thức, vận dụng các quy luật đó vào quản lý điều
hành nền kinh tế bằng hệ thống luật pháp, chính sách, cơ chế tổ chức thực
hiện. Tùy theo bản chất kinh tế xã hội của mỗi quốc gia và trình độ khác nhau
về nhận thức, sự vận dụng các quy luật kinh tế của các nhà nước phát huy hiệu
lực và hiệu quả khác nhau. Điều đó nói lên tầm quan trọng đặc biệt của hoạt
động quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế nói chung, hệ thống doanh nghiệp
nói riêng (trong đó có các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài).
Quản lý Nhà nước đối với khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc
Nhà nước tạo lập môi trường kinh doanh, các điều kiện cần thiết, tạo khung
khổ, chính sách, pháp luật phù hợp thông qua bộ máy hành chính từ Trung
ương đến địa phương, quản lý hoạt động của doanh nghiệp từ khi thành lập
đến khi doanh nghiệp rút khỏi thị trường.
1.2.1.2. Nội dung quản lý Nhà nước đối với FDI
- Xây dựng chiến lược, quy hoạch về FDI.
Chiến lược là đường lối chung, tổng quát và giải pháp chủ yếu tổng thể

nhất. Không vì tăng cường thu hút FDI bằng mọi giá mà quy hoạch chạy theo
doanh nghiệp mà phải dựa vào lợi ích lâu dài của mỗi địa phương và quốc gia.
- Tạo môi trường đầu tư
Môi trường đầu tư có thể hiểu là tập hợp các yếu tố và điều kiện đặc thù
của từng địa phương (quốc gia), có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, định hình

23


cơ hội và động lực để doanh nghiệp tiến hành đầu tư kinh doanh một cách
thuận lợi.
Các yếu tố cấu thành môi trường đầu tư là môi trường chính trị, pháp
luật; môi trường kinh tế; môi trường văn hóa – xã hội; môi trường tự nhiên; cơ
sở hạ tầng. Trong đó, môi trường chính trị, pháp luật được nhiều người đánh
giá là có vai trò quan trọng hơn cả bởi vì sự ổn định về chính trị là một đảm
bảo an toàn cho hoạt động của nhà đầu tư; sự nhất quán trọng hệ thống chủ
trương, đường lối chính sách của Nhà nước, một cơ chế điều hành hợp lý của
Nhà nước đem lại sự thuận tiện và hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài. Những
yếu tố khác như trình độ phát triển của nền kinh tế, các chu kỳ kinh tế; các giá
trị xã hội nói chung, các tập tục, lối sống, thói quen, thu nhập của dân cư, hệ
tư tưởng; điều kiện về tài nguyên thiên nhiên, thời tiết, khí hậu, cơ sở hạ
tầng…cũng có tác động nhiều mặt đến hoạt động của doanh nghiệp.
Môi trường đầu tư không chỉ là một địa điểm ở đó doanh nghiệp tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh mà còn quyết định phương thức và hiệu
quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Môi trường đầu tư thuận lợi là một
bệ phóng, điểm tựa vững chắc cho sự vươn lên của doanh nghiệp; trái lại môi
trường đầu tư không thuận lợi không chỉ kìm hãm, cản trở mà đôi khi còn làm
cho doanh nghiệp bị phá sản hàng loạt. Do vậy, việc phân tích môi trường đầu
tư, nhận biết và tận dụng cơ hội đầu tư là cần thiết, quyết định khả năng cạnh
tranh và sự sống còn của doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status