Môi trường đầu tư và tác động của nó đến đầu tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Hải Dương - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ BÙI XUÂN ANH

MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ
ĐẾN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TỈNH HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ Hà Nội – 2011


MỤC LỤC
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4
5. Phương pháp nghiên cứu 4
6. Những đóng góp và giá trị của luận văn 5
7. Kết cấu luận văn 5
Chƣơng 1: LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀ MÔI
TRƢỜNG ĐẦU TƢ……. ……………… ……… …………… … ………….6
1.1 Lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài 6
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - hình thức đầu tư quốc tế 6
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của FDI 9
1.2 Môi trường đầu tư 19
1.2.1 Môi trường đầu tư và các yếu tố cấu thành 19
1.2.2 Tác động của môi trường đầu tư đến thu hút FDI 33
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ VÀ TÌNH HÌNH THU
HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI TỈNH HẢI DƢƠNG GIAI
ĐOẠN 2005 –2010……………………………….…………………….……….37
2.1 Những lợi thế của Hải Dương trong việc thu hút FDI 37
2.1.1 Thái độ chính trị trong việc tiếp nhận đầu tư và sự ổn định xã hội 37
2.1.2 Nguồn lực tự nhiên 39
2.1.3 Nguồn nhân lực 41
2.1.4 Cơ sở hạ tầng 44
2.1.5 Quy mô và tiềm năng của thị trường 49
2.1.6 Môi trường pháp lý và thủ tục hành chính 50
2.2 Tổng quan tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương 58
2.2.1 Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 58

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, BẢNG, HÌNH
Tên
Trang
Sơ đồ
1.1
1.2
Các loại hình vốn đầu tư quốc tế
Các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút FDI
7
20
Bảng
1.1
1.2
2.1

2.2

2.3
2.4

2.5

2.6

giai đoạn 1990 – 2009.
12
16
42

43

43
46

54

55

59

59
62
66-67
69-70

71
Hình
2.1

2.2

2.3
2.4
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngànhTỉnh Hải Dương giai đoạn


ODA
PCI
TNC
s
UBND
UNCTAD
WTO
Khu vực mậu dịch tự do Asean
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
Xây dựng – Vận hành – Chuyển giao
Xây dựng – Chuyển giao
Cụm công nghiệp
Đầu tư nước ngoài
Khu chế xuất
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Tổng sản phẩm quốc nội
Chỉ số phát triển con người
Khu công nghiệp
Kế hoạch – đầu tư
Công ty đa quốc gia
Hỗ trợ phát triển chính thức
Chỉ số năng lực cạnh tranh
Công ty xuyên quốc gia
Ủy ban nhân dân
Diễn đàn thương mại và phát triển liên hiệp quốc
Tổ chức thương mại thế giới


2

công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cải thiện đời sống nhân dân, đồng thời nâng
cao vị thế của Hải Dương trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc. Vì vậy
vấn đề: “Môi trường đầu tư và tác động của nó đến đầu tư trực tiếp nước
ngoài tỉnh Hải Dương” được lựa chọn làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế,
chuyên ngành Kinh tế chính trị.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Do tầm quan trọng của môi trường đầu tư đối với hoạt động đầu tư (trong
đó có đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI) nên đã có nhiều tác giả, nhiều công
trình nghiên cứu dưới các góc độ, khía cạnh khác nhau.
* Các công trình nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài:
1. PGS.TS Nguyễn Bích Đạt (2006), Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước
ngoài trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
2. PGS.TS Nguyễn Văn Tuấn (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với
phát triển kinh tế Việt Nam, NXB Tư pháp, Hà Nội.
3. Bộ Kế hoạch và đầu tư (2008), Kỷ yếu 20 năm đầu tư nước ngoài tại
Việt Nam, 2008, Đặc san của báo Đầu tư, Hà Nội.
4. Trần Xuân Tùng (2005), Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Thực trạng và giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công
cuộc CNH – HĐH ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Bộ kế hoạch và đầu tư (4/2003), Chính sách đầu tư nước ngoài trong
tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, Tài liệu hội thảo quốc tế, Hà Nội
7. TS Lê Xuân Bá (2006) Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối
với tăng trưởng kinh tế Việt Nam, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội
* Các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư
- Các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư nói chung:

ngoài tại Hải Dương những năm gần đây dưới độ khoa học kinh tế chính trị
chưa có nhiều. Vì vậy, đề tài luận văn này là cần thiết, có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn, đồng thời không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
* Mục đích nghiên cứu
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về môi trường đầu tư và
tác động đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, trên cơ sở đó xem xét thực trạng

4

môi trường đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương; đề xuất một
số giải pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao khả năng thu
hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Hải Dương.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày lý luận về môi trường đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI.
- Phân tích thực trạng môi trường đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI) ở Hải Dương trong thời gian qua.
- Đề xuất một số phương hướng và biện pháp cải thiện môi trường đầu tư
nhằm nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Hải
Dương thời gian đến năm 2015.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn môi trƣờng đầu tƣ trong mối liên
hện với đầu tư trực tiếp nước ngoài dưới góc độ của khoa học kinh tế chính
trị.
* Giới hạn nghiên cứu
- Địa bàn nghiên cứu: Tỉnh Hải Dương cụ thể là các doanh nghiệp FDI,
các nhà đầu tư, các cơ quan, đơn vị có liên quan đến FDI
- Thời gian: từ 2005 đến 2010 – là thời gian để thu thập số liệu, tài liệu

nhằm tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải Dương.

6
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI VÀ MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ

1.1 Lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - hình thức đầu tư quốc tế
* Vài nét về đầu tư nước ngoài (quốc tế)
Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc
gia này sang quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm thu lợi nhuận
và các lợi ích khác ở các nước nhận đầu tư.
Đầu tư nước ngoài là tất yếu khách quan do có sự khác nhau về nhu cầu
và khả năng tích lũy vốn của các quốc gia, do việc tìm địa điểm đầu tư có lợi
cho các doanh nghiệp, do việc gặp gỡ lợi ích giữa bên đầu tư và nhận đầu
tư…
Đầu tư nước ngoài mang đặc điểm của đầu tư nói chung: tính sinh lời,
tính rủi ro, chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài và các yêu tố đầu tư di
chuyển ra khỏi biên giới quốc gia.
Đầu tư nước ngoài có các hình thức chủ yếu:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Invesment)
- Đầu tư gián tiếp nước ngoài ( FPI - Foreign Portfolio Investment) – là
hình thức đầu tư gián tiếp xuyên biên giới, nó chỉ các hoạt động: viện trợ phát
triển chính thức (ODA)
- Mua cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác (gọi tắt là đầu tư
gián tiếp – FII) thông qua thị trường chứng khoán và hình thức tín dụng quốc
tế.
Vốn đầu tư quốc tế như sơ đồ dưới đây



* Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) là hình thức đầu tư dài hạn của các cá
nhân hoặc các công ty nước này vào nước khác bằng cách thức lập các cơ sở
sản xuất, kinh doanh. Đầu tư trực tiếp nước ngoài là loại hình đầu tư mà các
nhà đầu tư nước ngoài bỏ vốn đầu tư và trực tiếp tham gia quản lý điều hành,
tổ chức sản xuất để thu lại lợi ích và hoàn toàn chịu trách nhiệm về đồng vốn
cũng như kết quả sản xuất kinh doanh của mình.
So với đầu tư gián tiếp, hình thức FDI tạo cho nước chủ nhà có nhiều khả
năng tiếp thu được công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến của chủ đầu tư
nước ngoài. Mặt khác, các chủ đầu tư nước ngoài (ở một mức độ nhất định)
có thể tham gia điều hành quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp và đưa ra những quyết định có lợi nhất cho vốn đầu tư mà họ bỏ ra.
Ngoài ra hình thức FDI còn tránh được nguy cơ trục lợi về chính trị, bị trói
buộc vào vòng ảnh hưởng của các nước cho vay khi huy động vốn bằng hình
thức tiếp nhận đầu tư gián tiếp. Tuy nhiên, FDI sẽ không mang lại hiệu quả
cao nếu nước chủ nhà không có một quy hoạch đầu tư cụ thể khiến đầu tư tràn 8

lan, kém hiệu quả, tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt và “vô tình” trở thành “bãi
thải” công nghệ lạc hậu, độc hại do các nước đầu tư chuyển sang.
Chính vì những ưu và nhược điểm đã phân tích trên đây mà đa số các
nước đang phát triển coi FDI là “chìa khoá” để mở cánh cửa phát triển kinh
tế. Đặc biệt trong giai đoạn đầu khi các hình thức hút vốn đầu tư gián tiếp qua
thị trường chứng khoán chưa ra đời thì FDI càng có ý nghĩa quan trọng
* Các hình thức FDI
Hiện nay ở Việt Nam có các hình thức FDI chủ yếu sau:
1. Doanh nghiệp 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài: doanh nghiệp này

Nhà đầu tư được đầu tư phát triển kinh doanh thông qua các hình thức
sau đây:
Mở rộng quy mô, nâng cao công suất, năng lực kinh doanh;
Đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi
trường.
5. Mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư.
6. Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp.
7. Các hình thức đầu tư trực tiếp khác.
1.1.2 Đặc điểm và vai trò của FDI
1.1.2.1 Đặc điểm của FDI
- Thứ nhất, các chủ đầu tư phải đóng góp một số vốn tối thiểu vào vốn
pháp định theo quy định của luật đầu tư của từng quốc gia. Ví dụ, Điều 16
Luật đầu tư Việt Nam 2005 quy định: Vốn pháp định của doanh nghiệp có
vốn đầu tư nước ngoài ít nhất phải bằng 30% vốn đầu tư của doanh nghiệp.
Trong trường hợp đặc biệt, tỷ lệ này có thể thấp hơn 30%, nhưng phải được
cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư nước ngoài chấp thuận.
- Thứ hai, chủ đầu tư có quyền trực tiếp tham gia quá trình kinh doanh
của xí nghiệp; quyền này phụ thuộc vào mức độ góp vốn của chủ đầu tư đó.

10

Ví dụ: nếu chủ đầu tư nước ngoài đóng góp 100% vốn thì họ có toàn quyền
quản lý, kinh doanh.
- Thứ ba, lợi nhuận của các chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc
kết quả hoạt động sản xuất kinh doành và tỉ lệ góp vốn.
So với các hình thức đầu tư khác, đầu tư trực tiếp nước ngoài có những
thế mạnh và đặc trưng riêng có:
- Đầu tư trực tiếp nước ngoài tuy vẫn chịu sự chi phối của chính phủ của
nước nhận đầu tư nhưng lệ thuộc ít hơn vào mối quan hệ chính trị giữa hai
bên hơn so với hình thức tín dụng quốc tế.

(2) - Vốn đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế: FDI là một trong những
nguồn quan trọng để bù đắp sự thiếu hụt về vốn ngoại tệ của các nước nhận
đầu tư đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Hầu hết các nước đang
phát triển đều rơi vào cái “vòng luẩn quẩn” đó là: Thu nhập thấp dẫn đến tiết
kiệm thấp, vì vậy đầu tư thấp rồi hậu quả lại là thu nhập thấp. Tình trạng luẩn
quẩn này chính là “điểm nút” khó khăn nhất mà các nước này phải vượt qua
để hội nhập vào quỹ đạo tăng trưởng kinh tế hiện đại. Nhiều nước lâm vào
tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi lẽ không lựa chọn và tạo ra được điểm
đột phá chính xác một mắt xích của “vòng luẩn quẩn” này. Trở ngại lớn nhất
để thực hiện điều đó đối với các nước đang phát triển đó là vốn đầu tư kỹ
thuật. Vốn đầu tư là cơ sở để tạo ra công ăn việc làm trong nước, đổi mới
công nghệ, kỹ thuật, tăng năng suất lao động… Từ đó tạo tiền đề tăng thu
nhập, tăng tích lũy cho sự phát triển của xã hội. Tuy nhiên, để tạo vốn cho nền
kinh tế nếu chỉ trông chờ vào tích lũy nội bộ thì không đáp ứng đủ mức cần
thiết, do đó vốn nước ngoài sẽ là một “cú hích” để góp phần đột phá cái vòng
luẩn quẩn đó. Đặc biệt FDI là một nguồn quan trọng để khắc phục tình trạng
thiếu vốn mà không gây nợ cho nước nhận đầu tư. Hơn nữa luồng vốn này có
lợi thế hơn đối với vốn vay ở chỗ: Thời hạn trả nợ vốn vay thường cố định và

12

đôi khi quá ngắn so với một số dự án đầu tư, còn thời hạn của FDI thì thường
linh hoạt hơn.
Theo mô hình lý thuyết “ hai lỗ hổng” của Cherery và Strout, có hai cản
trở chính cho sự tăng trưởng của một quốc gia đó là: (1) Tiết kiệm không đủ
đáp ứng cho nhu cầu đầu tư được gọi là: “ lỗ hổng tiết kiệm”. (2) Thu nhập
của hoạt động xuất khẩu không đủ đáp ứng nhu cầu ngoại tệ cho hoạt động
nhập khẩu được gọi là: “ lỗ hổng thương mại”. Hầu hết ở các nước đang phát
triển trong đó có Việt Nam hai lỗ hổng trên rất lớn (xem bảng 1.1), vì vậy FDI
còn là một nguồn quan trọng không chỉ để bổ sung nguồn vốn nói chung mà

hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài
vào và phát triển khả năng công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng
trong nước. Đây là những mục tiêu quan trọng được các địa phương tiếp nhận
FDI mong đợi từ các nhà đầu tư nước ngoài. Chuyển giao công nghệ thông
qua FDI thường được thực hiện chủ yếu bởi các TNCs, dưới các hình thức:

13

Chuyển giao trong nội bộ giữa các chi nhánh của một TNCs và chuyển giao
giữa các chi nhánh của các TNCs. Những năm gần đây, các hình thức này
thường đan xen nhau với các đặc điểm rất đa dạng. Phần lớn công nghệ được
chuyển giao giữa các chi nhánh của TNCs sang nước đang phát triển ở hình
thức 100% vốn nước ngoài và doanh nghiệp liên doanh có phần lớn vốn nuớc
ngoài, dưới các hạng mục chủ yếu như những tiến bộ công nghệ, sản phẩm
công nghệ, công nghệ thiết kế và xây dựng, kỹ thuật kiểm tra chất lượng,
công nghệ quản lý, công nghệ marketting. Nhìn chung, các TNCs rất hạn chế
chuyển giao những công nghệ mới có tính cạnh tranh cao cho các chi nhánh
của chúng ở nước ngoài vì sợ lộ bí mật hoặc mất bản quyền công nghệ do
việc bắt trước, cải biến hoặc nhái lại công nghệ của các công ty nước chủ nhà.
Mặt khác, do các nước,địa phương nhận FDI còn chưa đáp ứng được yêu cầu
sử dụng công nghệ của các TNCs.
Bên cạnh chuyển giao công nghệ sẵn có, thông qua FDI các TNCs còn
góp phần tích cực đối với tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển công
nghệ của nước chủ nhà. Các kết quả cho thấy phần lớn các hoạt động của các
chi nhánh TNCs ở nước ngoài là cải biến công nghệ cho phù hợp với điều
kiện sử dụng của địa phương. Dù vậy, các hoạt động cải tiến công nghệ của
các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đã tạo ra nhiều mối quan hệ liên kết cung
cấp dịch vụ công nghệ từ các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng công nghệ trong
nước. Nhờ đó đã gián tiếp tăng cường năng lực phát triển công nghệ địa
phương. Mặt khác, trong quá trình sử dụng công nghệ nước ngoài, các nhà

Thông qua khoản trợ giúp tài chính hoặc mở các lớp đào tạo dạy nghề,
FDI còn góp phần quan trọng đối vơí phát triển giáo dục của nước chủ nhà
trong các lĩnh vực giáo dục đại cương, dạy nghề, nâng cao năng lực quản lý.
Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã đóng góp vào quỹ phát triển giáo dục phổ
thông, cung cấp một số thiết bị giảng dạy cho các cơ sở giáo dục của nước
chủ nhà, tổ chức các chương trình phổ cập kiến thức có bản cho người lao

15

động bản địa làm việc trong dự án (trong đó có nhiều lao động được đi đào
tạo ở nước ngoài).
FDI nâng cao năng lực quản lý của nước chủ nhà theo nhiều hình thức
như các khoá học chính quy, không chính quy, và học thông qua làm việc.
Tóm lại, FDI đem lại lợi ích về tạo công ăn việc làm. Đây là một tác động
kép: tạo thêm việc làm cũng có nghĩa là tăng thêm thu nhập cho người lao
động, từ đó tạo điều kiện tăng tích luỹ trong nước. Tuy nhiên, sự đóng góp
của FDI đối với việc làm trong các nước nhận đầu tư phụ thuộc rất nhiều vào
chính sách và khả năng kỹ thuật của nước đó.
(5) - Thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới. Xuất
nhập khẩu có mối quan hệ nhân quả với tăng trưỏng kinh tế. Mối quan hệ này
được thể hiện ở các khía cạnh” xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế so
sánh, hiệu quả kinh tế theo quy mô, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất; nhập
khẩu bổ sung các hàng hoá, dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng;
xuất nhập khẩu còn tạo ra các tác động ngoại ứng như thúc đẩy trao đổi thông
tin dịch vụ, tăng cường kiến thức marketting cho các doanh nghiệp nội địa và
lôi kéo họ vào mạng lưới phân phối toàn cầu. Tất cả các yếu tố này sẽ đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài chiếm một tỷ trọng lớn trong xuất khẩu ở
hầu hết các quốc gia đặc biệt là ở các nước đang phát triển trong đó có Việt
Nam (xem bảng 1.2). Thông qua FDI, các nước đang phát triển có thể tiếp cận

địa phát triển năng lực sản xuất của mình (mở rộng sản xuất, bắt chước quy
trình sản xuất và mẫu mã hàng hoá…). Sau một thời gian nhât định các doanh
nghiệp trong nước có thể tự xuất nhập khẩu được. FDI tác động mạnh đến
cạnh tranh và độc quyền thông qua việc thêm vào các đối thủ cạnh tranh hoặc
sử dụng sức mạnh của mình đẻ khống chế thị phần ở nước chủ nhà. Từ thúc
đẩy cạnh tranh, FDI góp phần làm cho nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn,
nhờ đó đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nhờ có FDI, cơ cấu nền kinh tế
của nước chủ nhà chuyển dịch nhanh chóng theo chiều hưóng tăng nhanh tỷ
trọng các ngành công nghiệp dịch vụ và giảm tỷ trọng các ngành nông nghiệp,
khai thác trong GDP.
(7) - Các tác động quan trọng khác
Ngoài những tác động kể trên, FDI còn tác động đáng kể đến các yếu tố
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như: chất lượng môi trường, cạnh tranh và
độc quyển, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế.

17

Mặc dù chất thải của các công ty nước ngoài, nhất là trong các ngành
khai thác và chế tạo, là một trong những nguyên nhân quan trọng gây nên tình
trạng ô nhiễm môi trường trầm trọng ở các nước đang phát triển tuy nhiên có
nhiều nghiên cứu cho thấy các TNCs rất chú trọng và tích cực bảo vệ môi
trường hơn các công ty nội địa. Bởi vì, quy trình sản xuất của họ thường được
tiêu chuẩn hoá cao nên dễ đáp ứng được các tiêu chuẩn bảo vệ môi trường của
nước chủ nhà. Hơn nữa, các TNCs thường có tiềm lực tài chính lớn do đó có
điều kiện thuận lợi trong xử lý các chất thải và tham gia góp quỹ, hỗ trợ tài
chính cho các hoạt động bảo vệ môi trường.
FDI là một trong những hình thức quan trọng của các hoạt động kinh tế
đối ngoại và nó có liên quan chặt chẽ đến tất cả các hoạt động kinh tế, chính
trị, văn hoá- xã hội của các quốc gia, do đó sự phát triển của lĩnh vực này thúc
đẩy sự hoà nhập khu vực và quốc tế của nước chủ nhà.

tăng mạnh, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống nhân dân. Vedan Việt Nam là
một trường hợp điển hình không phải là trường hợp cá biệt.
- Những khiếm khuyết, bất cập trong việc thực hiện chính sách đối với
người lao động. Trong những năm gần đây, các cuộc đình công ở các doanh
nghiệp FDI có xu hướng gia tăng. Kể từ khi ban hành bộ luật Lao động mới
(2005) đã xảy ra khoảng 3000 cuộc đình công ở các doanh nghiệp trong đó
chủ yếu là các doanh nghiệp FDI. Điều này chứng tỏ, những chính sách đối
với người lao động chưa hợp lý, gây bất bình từ phía người lao động,
- Ngoài ra:
+ Nhiều nhà đầu tư nước ngoài đã lợi dụng những “sơ hở” của luật pháp
và trong quản lý của nước chủ nhà để trục lợi cá nhân như có các hành vi trốn
thuế, gây tác hại đến môi trường sinh thái và lợi ích của nước chủ nhà.
+ Chuyển giao công nghệ là mặt tác động lớn của FDI song cũng còn tồn
tại nhiều hạn chế và tiêu cực, trong đó có việc chuyển giao nhỏ giọt, từng

19

phần và thông thường là công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm với giá cao hơn
mặt bằng quốc tế.
+ Trong số các nhà đầu tư nước ngoài không phải không có những
trường hợp cố tình hoạt động tình báo gây rối an ninh, chính trị… [21, tr.16]
1.2 Môi trƣờng đầu tƣ
1.2.1 Môi trường đầu tư và các yếu tố cấu thành
1.2.1.1 Quan niệm về môi trường đầu tư
Có rất nhiều cách định nghĩa về môi trường đầu tư:
Theo Vũ Chí Lộc – Giáo trình “Đầu tư nước ngoài” – NXB Giáo dục:
“Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hoà các yếu tố chính trị, kinh tế, xã hội
có liên quan tác động đến hoạt động đầu tư và bảo đảm khả năng sinh lợi của
vốn đầu tư nước ngoài”.
Theo GS-PTS Ngô Xuân Dân – “Quan hệ kinh tế quốc tế (Lý thuyết và


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status