Môi trường đầu tư và tác động của nó đến đầu
tư trực tiếp nước ngoài tỉnh Hải Dương
Bùi Xuân Anh
Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng Giảng viên LLCT
Luận văn ThS ngành: Kinh tế chính trị; Mã số: 60 31 01
Người hướng dẫn: GS.TS. Chu Văn Cấp
Năm bảo vệ: 2011
Abstract: Trình bày lý luận về môi trường đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài
FDI. Phân tích thực trạng môi trường đầu tư và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
ở Hải Dương giai đoạn 2005-2010, qua tìm hiểu về: những lợi thế của Hải Dương
trong việc thu hút FDI; tình hình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương; đánh
giá đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải Dương dưới tác động của môi trường đầu tư.
Đề xuất một số phương hướng và biện pháp cải thiện môi trường đầu tư nhằm
nâng cao khả năng thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Hải Dương
thời gian đến năm 2015.
Keywords: Đầu tư; Đầu tư trực tiếp nước ngoài; Kinh tế học tài chính; Hải dương
Content
1. Lý do chọn đề tài
Nước ta đang trong quá trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với
phát triển kinh tế tri thức, do đó cần rất nhiều vốn [vốn trong nước và vốn nước ngoài
(FDI, ODA…)]. Hơn 20 năm qua thực hiện đường lối mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế,
nước ta đã thu hút được hàng ngàn dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài. Tính đến ngày 20 –
10 – 2010 đã có 12.213 dự án với tổng số vốn đăng ký lên tới 109 tỷ USD, tăng khoảng
600 lần só với năm 1988. Trong đó vốn pháp định là 63 tỷ USD. Sự tăng trưởng FDI do
đóng góp của nhiều yếu tố, trong đó có sự cải thiện môi trường đầu tư .
Để tận dụng cơ hội đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam đang gia tăng, Hải Dương
giải pháp, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
5. Nguyễn Trọng Xuân (2002), Đầu tư trực tiếp nước ngoài với công cuộc CNH –
HĐH ở Việt Nam, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
6. Bộ kế hoạch và đầu tư (4/2003), Chính sách đầu tư nước ngoài trong tiến trình
hội nhập kinh tế quốc tế, Tài liệu hội thảo quốc tế, Hà Nội
7. TS Lê Xuân Bá (2006) Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đối với tăng
trưởng kinh tế Việt Nam, NXB Khoa học kỹ thuật, Hà Nội
* Các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư
- Các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư nói chung:
+ PGS.TS Nguyễn Khắc Thân – PGS.TS Chu Văn Cấp (1996), “Những giải pháp
chính trị kinh tế nhằm thu hút có hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam”,
NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
+ Trần Thị Thu Hương (2005), Hoàn thiện công tác quản lí nhà nước về đầu tư trực
tiếp nước ngoài ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (10), tr.3-12.
+ Trần Tuế (2005), Tạo môi trường đầu tư hấp dẫn một trong những giải pháp
không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, Tạp chí Giáo dục lý luận,
(10), tr.56-58.
+ GS.TS Dương Thị Bình Minh – Ths Nguyễn Thanh Thủy (7/2009), Cải thiện môi
trường đầu tư thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ở một số nước châu Á và các bài
học kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh, Tạp chí Phát triển kinh tế (225), tr.23-25.
- Các công trình nghiên cứu về môi trường đầu tư ở Hải Dương và các địa phương
khác:
+ Sở Kế hoạch và đầu tư - UBND Tỉnh Hải Dương (2007), “ 20 năm môi trường
đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương”, Hải Dương.
+ Trần Việt Hưng (2007), Giải pháp nâng cao khả năng vốn đầu tư nước ngoài
trong quá trình phát triển kinh tế xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2006 – 2010, Luận án
tiến sĩ kinh tế, Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội.
+ Trần Quang Nam (2006), Cải thiện môi trường đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Bắc
Ninh: Kết quả mang lại và một số giải pháp, Tạp chí Kinh tế và dự báo (3), tr.50-52.
Các công trình nghiên cứu ấy đã đề cập khá rõ về đầu tư trực tiếp nước ngoài và gắn liền
văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể: phương pháp kết hợp lôgic với lịch sử, các
phương pháp: phân tích - tổng hợp, thống kê và so sánh, phương pháp tổng kết thực tiễn
địa phương và phương pháp thu thập thông tin (sơ cấp, thứ cấp). Luận văn sử dụng có
chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã công bố.
6. Những đóng góp và giá trị của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ thêm lý luận về môi trường đầu tư, vai
trò của nó đối với đầu tư nói chung, đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng. Nêu ra các giải
pháp nhằm cải thiện môi trường đầu tư, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh để tăng cường thu
hút và nâng cao hiệu quả của đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm thúc đầy kinh tế - xã hội ở
Hải Dương nhanh và bền vững.
Kết quả nghiên cứu của luận có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan
nghiên cứu, hoạch định chính sách đầu tư trực tiếp nước ngoài. Và có thể được dùng làm
tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập các chuyên đề kinh tế liên
quan đến đề tài của luận văn.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung luận văn gồm 3 chương, 7 tiết.
Chương 1: Lý luận về đầu tư trực tiếp nước ngoài và môi trường đầu tư.
Chương 2: Thực trạng môi trường đầu tư và tình hình thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
tỉnh Hải Dương giai đoạn 2005 – 2010.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện môi trường đầu tư nhằm tăng cường
thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Hải Dương.
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP
NƢỚC NGOÀI VÀ MÔI TRƢỜNG ĐẦU TƢ
1.1 Lý luận về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
1.1.1 Đầu tư trực tiếp nước ngoài - hình thức đầu tư quốc tế
* Đầu tư nước ngoài là một quá trình trong đó có sự di chuyển vốn từ quốc gia này sang
quốc gia khác để thực hiện các dự án đầu tư nhằm thu lợi nhuận và các lợi ích khác ở các
- Vốn đầu tư và cán cân thanh toán quốc tế.
- Chuyển giao và phát triển công nghệ.
- Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm.
- Thúc đẩy xuất nhập khẩu và tiếp cận với thị trường thế giới.
- Liên kết các ngành công nghiệp.
- Các tác động quan trọng khác: Ngoài những tác động kể trên, FDI còn tác động đáng
kể đến các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế như: chất lượng môi trường, cạnh
tranh và độc quyển, chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, hội nhập khu vực và quốc tế.
1.2 Môi trƣờng đầu tƣ
1.2.1 Môi trường đầu tư và các yếu tố cấu thành
1.2.1.1 Quan niệm về môi trường đầu tư
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về môi trường đầu tư, có thể hiểu môi trường đầu
tư theo nghĩa chung nhất là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên quan đến hoạt động đầu tư.
Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư song theo nhiều nhà kinh tế, môi trường đầu
tư có thể chia ra thành:
(1) – Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc kết cấu hạ tầng giao thông
(đường xá, cầu cảng…), hệ thống thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, hệ thống khu,
cụm công nghiệp…
(2) – Môi trường mềm: hệ thống dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến
hoạt động đầu tư (nhất là các vấn đề liên quan đến chế độ đối xử và giải quyết các tranh
chấp, khiếu nại), hệ thống các dịch vụ tài chính – ngân hàng, kế toán, bảo hiểm Môi
trường mềm còn bao gồm cả các yếu tố về ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế,…
1.2.1.2 Các yếu tố cấu thành
- Một là, môi trường chính trị - xã hội và sự ổn định kinh tế vĩ mô.
- Hai là, độ mở của nền kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia.
- Ba là các nguồn lực cho sự phát triển và sự hấp dẫn FDI bao gồm nguồn lực tự nhiên (vị
trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên), nguồn nhân lực.
- Bốn là kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội.
- Năm là qui mô và tiềm năng của thị trường.
tế diễn ra sôi nổi, hiệu quả.
* Tài nguyên thiên nhiên: Nằm trong khu vực đồng bằng Bắc bộ, như các tỉnh lân cận, tài
nguyên thiên nhiên ở Hải Dương không đa dạng về chủng loại nhưng lại có trữ lượng lớn
đủ đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho phát triển công nghiệp.
2.1.3 Nguồn nhân lực
Xét về số lượng: cũng như các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Hải Dương là một tỉnh có dân
số đông. Dân số Hải Dương tính đến thời điểm 2009 là 1.706.808 người [5; tr.21] đứng
thứ 11/64 tỉnh thành và thứ 5 đồng bằng sông Hồng. Với kết cấu dân số trẻ nên Hải
Dương có một lực lượng lao động đông đảo - số dân trong tuổi lao động từ 15 đến 50 tuổi
là 1.326.068 người chiếm 77,6% dân số. Với tốc độ tăng dân số 0,97% năm [5,tr.7], lực
lượng lao động ở Hải Dương thường xuyên được bổ sung, đảm bảo nguồn cung lao động
cho mọi hoạt động kinh tế. Về chất lượng: người lao động Hải Dương vốn xuất thân từ
nông nghiệp nên cần cù, chịu khó, hiền lành, chất phác, ít bạo động, bạo loạn nên được
nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao. Song chất lượng lao động cũng có nhiều vấn đề cần
chú ý:
- Trình độ văn hóa: mặc dù thời gian gần đây, được sự quan tâm của lãnh đạo từ Trung
ương đến địa phương, trình độ văn hóa của người dân đã và đang từng bước được nâng
cao song vẫn chưa thực sự hấp dẫn.
2.1.4 Cơ sở hạ tầng
* Giao thông vận tải: Hải Dương có hệ thống giao thông với đầy đủ các loại hình giao
thông: đường bộ, đường sắt, đường thủy, bảo đảm cho việc giao lưu kinh tế từ Hải
Dương đi cả nước và nước ngoài rất thuận lợi – đây chính là một ưu thế lớn của Hải
Dương so với các tỉnh bạn.
* Thông tin liên lạc: Trong những năm gần đây, mạng lưới thông tin liên lạc bao gồm:
bưu chính, điện thoại, điện tín, Internet ở Hải Dương đã không ngừng được mở rộng.
Tính đến năm 2009 toàn tỉnh có 396.123 thuê bao điện thoại ( 2000: 33.344 thuê bao điện
thoại), bình quân đạt 23,2 thuê bao trên 100 dân gấp hơn 10 lần năm 2000 là 2,0 thuê bao
trên 100 dân [5, tr.227].
* Hệ thống khu, cụm công nghiệp
Theo Ban quản lý các khu công nghiệp Hải Dương, hiện nay Hải Dương có 20 khu, cụm
Vĩnh Phúc 6.49 trong các tỉnh đồng bằng sông Hồng.
2.1.5 Quy mô và tiềm năng của thị trường
Với đặc điểm là một tỉnh đồng bằng dân số đông với 1,7128 triệu dân, mật độ dân số
1038 người/ km
2
, tỷ suất tăng dân số tự nhiên 9,7
00
0
, thu nhập bình quân theo đầu người
ở mức 17,9 trệu đồng/ người - cao so với cả nước [26]; Hải Dương không chỉ có khả
năng cung cấp một thị trường lao động lớn, ổn định mà còn là một thị trường tiêu thụ sản
phẩm lý tưởng với nhà đầu tư.
2.1.6 Môi trường pháp lý và thủ tục hành chính
2.1.6.1 Về thủ tục hành chính
Để tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, Sở kế hoạch đầu tư và Ban quản lý các khu công nghiệp
tỉnh đã thực hiện các thủ tục đầu tư, quản lý hoạt động trong khu công nghiệp theo cơ chế
“một cửa, một đầu mối” tại Ban quản lý dự án các khu công nghiệp của tỉnh. Các ngành
căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ của mình có trách nhiệm phối hợp với Ban quản lý dự
án các khu công nghiệp giải quyết các thủ tục cho nhà đầu tư trong thời gian ngắn nhất
(kể từ ngày Nhà đầu tư nộp đủ hồ sơ hợp lệ).
2.1.6.2 Các chính sách đầu tư
* Chính sách hỗ trợ công tác giải phóng mặt bằng
Đối với dự án trong Khu công nghiệp: Nhà đầu tư được nhận mặt bằng triển khai dự
án ngay sau khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Đối với dự án đầu tư tại các cụm công
nghiệp: Tỉnh chỉ đạo các ngành chức năng và địa phương có liên quan triển khai công
việc giải phóng mặt bằng và giao đất cho nhà đầu tư trong vòng 40 ngày, kể từ ngày cấp
Giấy chứng nhận đầu tư.
* Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và thuế chuyển lợi
nhuận ra nước ngoài.
- Ưu đãi về mức thuế suất
khu công nghiệp cùng với Công ty xây dựng hạ tầng khu công nghiệp tổ chức vận động
các nhà doanh nghiệp trong nước và nước ngoài đầu tư vào khu công nghiệp. (3)Thưởng
01 lần cho tổ chức, cá nhân vận động được nhà doanh nghiệp đầu tư vào khu công nghiệp
khi dự án đi vào hoạt động.
* Giá thuê đất
UBND Tỉnh đã đưa ra mức giá thuê đất thích hợp cho nhà đầu tư mặt khác thời hạn cho
thuê cũng được kéo dài. Chi phí về đất đai (giá năm 2008):
- Trong KCN: Giá thuê đất có cơ sở hạ tầng khoảng 45 – 55 USD/m
2
tùy từng vị trí
cho 47 - 49 năm, điều kiện và phương thức thanh toán theo thoả thuận giữa nhà đầu tư
với công ty phát triển hạ tầng KCN; Phí bảo dưỡng kết cấu hạ tầng 0,3 USD/m
2
/năm.
Đơn giá này ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh là 100 – 150 USD/m
2
cho 38 – 44 năm.
- Ngoài KCN: Giá thuê đất của các dự án nằm ven Tỉnh lộ khoảng 0,4 USD/m
2
/năm; Giá
thuê đất của các dự án nằm ven Quốc lộ khoảng 0,45 USD/m
2
/năm; Tiền bồi thường hỗ trợ
đất khoảng 04 USD/m
2
.
* Các hoạt động xúc tiến đầu tư
Hoạt động xúc tiến đầu tư luôn được lãnh đạo chính quyền tỉnh Hải Dương quan tâm. Hiện
nay chính quyền tỉnh mới tổ chức xúc tiến đầu tư dưới các hình thức như: Qua Wedsite của
tỉnh www.haiduong.gov.vn và website www.khucongnghiephaiduong.vn.
cùng kỳ, nhập khẩu ước đạt 1.077 triệu USD, tăng 46,3%.
2.2.3 Tình hình thu chi ngân sách
Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2010, ước đạt 4.342 tỷ đồng, tăng 5,8% so
với cùng kỳ năm trước, trong đó, thu thuế xuất, nhập khẩu qua cơ quan Hải quan ước đạt
600 tỷ đồng, bằng 240% dự toán năm, giảm 4,2%; thu nội địa 3.742 tỷ đồng, tăng 7,6%.
Tổng chi ngân sách địa phương ước đạt 5.951 tỷ đồng, tăng 50,5% so với dự toán năm,
trong đó chi thường xuyên tăng 16,1%, chi đầu tư phát triển tăng 122,9% (do chuyển
nguồn từ năm trước).
2.3 Đánh giá đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài ở Hải Dƣơng dƣới tác động của môi
trƣờng đầu tƣ
2.3.1 Quy mô và tốc độ tăng của vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hải Dương đã đạt được những kết quả khả quan trong thu hút đầu tư nước ngoài; tính
đến 31.12.2009 đã có 239 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 23 quốc gia và vùng lãnh thổ,
với tổng vốn đầu tư đăng ký là 2490 triệu USD (ngoài khu công nghiệp là 108 dự án với
số vốn 893,13 triệu USD, trong khu công nghiệp là 95 dự án với số vốn 1596,9 USD);
đứng thứ 17 trong số các địa phương trong cả nước.
Doanh thu năm 2010 của khu vực FDI tỉnh Hải Dương đạt 1764,5 triệu USD, trong đó
doanh thu xuất khẩu đạt 1,096 tỷ Đô la Mỹ, chiếm 96% tổng kim ngạch xuất khẩu trên
địa bàn tỉnh; tỷ trọng đóng góp của khu vực FDI trong GDP của tỉnh chiếm 17,8%; thu
hút được 85.000 lao động trực tiếp; thu ngân sách đạt 97 triệu Đô la Mỹ, chiếm 42,4%
tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn.
Tính đến nay trên địa bàn tỉnh Hải Dương có 221 dự án đầu tư nước ngoài đến từ 23
quốc gia và vùng lãnh thổ, với tổng vốn đầu tư đăng ký là 5.162,3 triệu USD (ngoài KCN
là 114 dự án với số vốn 3.396,4 triệu USD, trong KCN là 107 dự án với số vốn 1.765,9
triệu USD). Tổng vốn đầu tư thực hiện của các Doanh nghiệp FDI đạt 1.895,3 triệu USD,
đạt 36,7% tổng vốn đầu tư. Thu hút trên 98.000 lao động trực tiếp tại các Doanh nghiệp
cùng hàng ngàn lao động gián tiếp khác [18].
Đặc biệt trong 8 tháng năm 2011, cả nước có 43 tỉnh, thành phố có dự án đầu tư trực
tiếp nước ngoài cấp phép mới, trong đó Hải Dương dẫn đầu về vốn đăng ký với 2,5 tỷ
USD, chiếm 32,4% tổng vốn đăng ký; tiếp đến là thành phố Hồ Chí Minh với 1, 65 tỷ
nói FDI tại Hải Dương đã góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế – xã hội,
từng bước góp phần quan trọng thay đổi bộ mặt đô thị thành phố.
* Tác động đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghệ hoá, hiện đại hoá.
Trên thực tế, tại Hải Dương, đầu tư nước ngoài là một trong những nhân tố, giải pháp
thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hoá.
* Tác động đến việc làm và chất lượng lao động
Việc thu hút vốn đầu tư đã tạo thêm công ăn việc làm cho người lao động, góp
phần ổn định tình hình an ninh - xã hội trên địa bàn. 5 năm qua, đã tạo thêm việc làm mới
cho 120.000 lượt người lao động - tăng gấp 2 lần so với giai đoạn 1996 - 2000, góp phần
giảm tỷ lệ thất nghiệp ở đô thị xuống còn 5,5% và thời gian lao động nông thôn tăng lên
80% vào năm 2005.
* Thúc đẩy áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ và hệ thống quản lý chất lượng
tiên tiến.
Việc tiếp nhận thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại rất cần thiết và quan trọng, là cơ sở
để nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh cũng như nâng cao trình độ công
nghệ của nền kinh tế vì các nhà đầu tư nước ngoài bao giờ cũng đặt vấn đề lợi nhuận cao
và thu hồi vốn nhanh làm mục tiêu hàng đầu.
* Tạo và tăng thu ngân sách cho tỉnh
Hoạt động của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong thời gian qua đã
và đang là nguồn thu quan trọng, đóng góp vào việc gia tăng nguồn thu Ngân sách, tạo khả
năng chủ động hơn trong việc cân đối Ngân sách của tỉnh Hải Dương.
* Mở rộng thị trường xuất khẩu, thay thế hàng nhập khẩu.
Trong số các doanh nghiệp có vốn FDI tại tỉnh Hải Dương, hiện có hang chục doanh
nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu.Các doanh nghiệp này góp phần quan trọng vào việc mở rộng
thị trường Quốc tế và tăng nhanh kim ngạch xuất khẩu của Hải Dương.
* Tạo ra sự cạnh tranh trên thị trường
Một điều có thể để nhận thấy rằng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động
có hiệu quả hơn các doanh nghiệp trong nước, nhất là các doanh nghiệp Nhà nước. Chủ
trương của Nhà nước là tiến hành cổ phần hoá các doanh nghiệp là rất đúng đắn, tạo ra
thế cạnh tranh trên thị trường cho các doanh nghiệp. Khi quyền lợi gắn với trách nhiệm
và thách thức mới.
Thứ nhất, với việc trở thành thành viên WTO, Việt Nam có lợi thế hơn trong cạnh
tranh thu hút FDI, dòng FDI vào Việt Nam sẽ tăng nhanh trong giai đoạn tới.
Thứ hai, cạnh tranh giữa các địa phương nhất là giữa Hải Dương với các tỉnh như Hưng Yên,
Bắc Ninh, Bắc Giang, Vĩnh Phúc trong việc thu hút FDI ngày càng tăng.
Thứ ba, Cạnh tranh giữa các địa phương trong việc thu hút lao động bao gồm cả lao động
phổ thông và lao động có chuyên môn kỹ thuật cao.
Thứ tư, do những ảnh hưởng ngày càng lớn hơn của trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội,
Hải Phòng, Quảng Ninh (theo lý thuyết phát triển vùng) nên Hải Dương chỉ có lợi thế
trong thu hút đầu tư phát triển nhà máy sản xuất công nghiệp mà không có lợi thế phát
triển thương mại và dịch vụ.
3.1.2 Mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011 – 2020
Về kinh tế
1. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng 11%/năm, trong đó: Giá trị tăng thêm khu vực
nông, lâm nghiệp, thuỷ sản tăng 1,8%/năm. Giá trị tăng thêm khu vực công nghiệp, xây
dựng tăng 12,6%/năm trở lên. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ tăng 12,2%/năm.
2. Cơ cấu kinh tế Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản – công nghiệp, xây dựng - dịch vụ năm
2015 là: 19,0% - 48,0% - 33,0%.
3. Cơ cấu lao động năm 2015: nông, lâm, thuỷ sản - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ là
43% - 30% - 27%.
4. Giá trị xuất khẩu tăng bình quân 17%/năm trở lên.
5. Thu ngân sách nội địa tăng 15%/năm.
6. GDP bình quân đầu người vào năm 2015 đạt khoảng 1.800 USD.
7. Tổng vốn đầu tư xã hội trong 5 năm đạt 145 -150 ngàn tỷ đồng.
Để thực hiện được các mục tiêu nêu trên, một trong những giải pháp quan trọng trong Kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội 5 năm giai đoạn 2011 - 2015 của tỉnh Hải Dương, đó là: Tiếp tục tạo
điều kiện cho các nhà đầu tư, nhất là các nhà đầu tư nước ngoài.
Mục tiêu phấn đấu chủ yếu năm 2011
- Vốn đầu tư: 2.643,5 triệu USD (trong đó cấp mới 2.543,5 triệu USD, điều chỉnh tăng
vốn 100 triệu USD).
- Tiếp tục duy trì và nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan đăng ký kinh doanh.
- Bên cạnh những kết quả bước đầu đạt được, thực hiện cơ chế "một cửa" hiện nay tại Sở
Kế hoạch đầu tư mới thực hiện đến khâu trình dự án, các khâu sau đó sở không đủ chức
năng để quản lý.
3.2.3 Nhóm giải pháp về cải thiện kết cấu hạ tầng và nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực.
3.2.3.1 Các giải pháp cải thiện kết cấu hạ tầng
- Kêu gọi các nhà đầu tư thực hiện đầu tư xây dựng các KCN theo quy hoạch của tỉnh và
xúc tiến đầu tư.
- Thực hiện xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật
3.2.3.2 Các giải pháp nhằm thu hút lao động, đảm bảo nguồn nhân lực cho các doanh
nghiệp FDI.
- Phát triển các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp - dạy nghề.
- Đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng dạy nghề
- Đẩy nhanh quy hoạch và triển khai xây dựng khu nhà ở cho người lao động.
- Vận động doanh nghiệp tham gia giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động.
3.2.4 Các giải pháp liên quan đến xúc tiến đầu tư và thương mại
3.2.4.1. Thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại thuộc UBND tỉnh.
Việc thành lập Trung tâm xúc tiến đầu tư và thương mại cho phép chuyên môn hoá, chuyên
nghiệp hoá các hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại của tỉnh Hải Dương hiện nay. Việc
thành lập Trung tâm Xúc tiến đầu tư và thương mại cho phép tập trung được các nguồn lực
nhằm đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư và thương mại.
3.2.4.2. Tăng cường tiếp cận và liên kết với nhà đầu tư chuyên nghiệp, các hiệp hội, đại diện
phòng thương mại và công nghiệp của các quốc gia và vùng lãnh thổ tại Việt Nam.
Nhìn chung các địa phương ở Việt Nam ít sử dụng các công ty tư vấn chuyên nghiệp
trong tư vấn xây dựng các dự án đầu tư, thực hiện các giải pháp thu hút đầu tư nước
ngoài. Việc sử dụng các nhà tư vấn chuyên nghiệp không chỉ giúp cho nâng cao chất
lượng của các dự án gọi đầu tư, gây được lòng tin của các nhà đầu tư mà còn là cơ hội tốt
để đào tạo nguồn nhân lực. Thông qua tiếp xúc, cùng làm việc với các nhà tư vấn chuyên
nghiệp cán bộ làm việc trong công tác xúc tiến đầu tư của tỉnh sẽ tích luỹ được kiến thức,
Hiện nay chính quyền tỉnh đang áp dụng linh hoạt các biện pháp hỗ trợ cho các doanh
nghiệp FDI như bồi thường giải phóng mặt bằng, hỗ trợ đào tạo nghề cho công nhân như
đã nói ở trên đã tạo ra sự hấp dẫn thu hút FDI. Ngoài ra còn biện pháp hỗ trợ khác như hỗ
trợ nhà đầu tư quảng cáo khuyếch trương sản phẩm.
KẾT LUẬN
Từ kết quả nghiên cứu luận văn đi đến kết luận sau:
(1) Những năm gần đây, đặc biệt là từ sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2009,
việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam gặp nhiều khó khăn. Khó khăn này
theo một số nhà nghiên cứu và chuyên gia kinh tế không chỉ là nguyên nhân chung của
cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu dẫn đến các nhà đầu tư nước ngoài thu hẹp sản xuất,
cắt giảm đầu tư… mà là còn ở chính sách thu hút đầu tư chưa được hấp dẫn trong bối
cảnh cạnh tranh thu hút nguồn vốn này ngày càng gay gắt, đầu tư còn giảm hơn so với
trong khu vực. Những điều này liên quan đến cải thiện môi trường đầu tư để tăng cường
hơn nữa lượng vốn FDI vào tỉnh.
(2) Môi trường đầu tư hiểu theo nghĩa chung nhất là tổng hòa các yếu tố bên ngoài liên
quan đến hoạt động đầu tư. Nó bao gồm: môi trường cứng liên quan đến kết cấu hạ tầng
kỹ thuật, môi trường mềm: các dịch vụ hành chính, pháp lý, tài chính – ngân hàng, kiểm
toán, kế toán…
Môi trường đầu tư hấp dẫn phải là môi trường đầu tư có hiệu quả đầu tư cao và mức độ
rủi ro thấp. Điều này lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố: sự ổn định chính trị - xã hội
và ổn định kinh tế vĩ mô, môi trường pháp lý, thủ tục hành chính, độ mở cửa của nền kinh
tế, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội, cùng cơ
chế chính sách đầu tư…
doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (2008), 20 năm đầu tư nước ngoài – Nhìn
lại và hướng tới, NXB Tri thức, Hà Nội.
5. Cục thống kê Hải Dương (2010), Niên giám thống kê Hải Dương 2009, NXB
Thống kê.
6. PGS.TS Nguyễn Bích Đạt (2006), Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
7. Đại học quốc gia Hà Nội (chủ trì), GS.TS Nguyễn Kế Tuấn chủ nhiệm
(2010), Đề tài khoa học KX.04.09/06-10: Vấn đề sở hữu trong nền kinh tế thị
trường định hướng XHCN ở Việt Nam, NXB Đại học quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
8. Dương Mạnh Hải (2003), Cơ sở khoa học và các giải pháp nâng cao hiệu
quả kinh tế - xã hội của việc thu hút và sử dụng vốn đầu tư trực tiếp nước
ngoài trong quá trình thực hiện chiến lược hướng về xuất khẩu, Luận án Tiến
sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
9. Trần Thị Thu Hương (2005), “Hoàn thiện công tác quản lí nhà nước về đầu
tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam”, Tạp chí Nghiên cứu kinh tế (10), tr. 3-
12; (11),tr.37-49
10. Đặng Đức Long (1998), Chính sách thu hút FDI ở các nước ASEAN 5 từ sau
khủng hoảng tài chính Châu Á 1997, Luận án tiến sĩ kinh tế thế giới và quan
hệ kinh tế quốc tế, Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội
11. Nguyễn Thị Mão (2001), Một số giải pháp nâng cao vai trò quản lý nhà
nước đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam Luận án tiến
sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội.
12. PGS. TS Ngô Quang Minh – TS Bùi Văn Tuyền (2008), “Kinh tế Việt Nam
sau một năm gia nhập WTO, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
13. GS.TS Dương Thị Bình Minh – Ths Nguyễn Thanh Thủy (7/2009), “Cải
thiện môi trường đầu tư để thu hút vốn FDI ở một số nước châu Á và các bài
học cho thành phố Hồ Chí Minh”, Tạp chí phát triển kinh tế (225), tr. 15-17.
14. Ngân hàng thế giới (2006), Báo cáo phát triển thế giới 2005 – Môi trường