Nâng cao vai trò nhà nước trong xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ


TẠ ĐỨC THANH
NÂNG CAO VAI TRÒ NHÀ NƢỚC
TRONG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở LẠNG SƠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

7
1.1.1. Nghèo đói
7
1.1.2. Xóa đói giảm nghèo
15
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến xóa đói giảm nghèo
19
1.2. Vai trò của Nhà nƣớc trong hoạt động xóa đói giảm nghèo
26
1.2.1. Định hướng và mục tiêu xóa đói giảm nghèo
27
1.2.2. Chính sách và chương trình xóa đói giảm nghèo
29
1.2.3. Tổ chức thực hiện xóa đói giảm nghèo
31
1.2.4. Kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện xóa đói giảm nghèo
33
1.3. Một số chính sách và chƣơng trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
34
1.3.1. Đặc điểm nghèo đói ở Việt Nam
34
1.3.2. Các chính sách và chương trình xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
36
1.3.3. Kết quả xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam
45
Chƣơng 2

THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC TRONG
HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở LẠNG SƠN
47

ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở LẠNG SƠN

88
3.1. Bối cảnh kinh tế mới và định hƣớng nâng cao vai trò của Nhà
nƣớc trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn
88
3.1.1. Bối cảnh kinh tế mới
88
3.1.2. Định hướng nâng vai trò của Nhà nước trong hoạt động
xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn
93
3.2. Giải pháp nhằm nâng cao vai trò của Nhà nƣớc trong hoạt động
xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn.
96
3.2.1. Hoàn thiện chương trình, mục tiêu về xóa đói giảm nghèo
phù hợp với điều kiện thực tế ở Lạng Sơn
96
3.2.2. Hoàn thiện các chính sách, chương trình về xóa đói giảm
nghèo ở Lạng Sơn
98
3.2.3. Đổi mới cơ chế quản lý, hoàn thiện tổ chức bộ máy và
nâng cao trình độ cán bộ quản lý kinh tế nói chung và cán bộ trực tiếp
thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo nói riêng
100
3.2.4. Nâng cao hiệu quả thực hiện và kiểm tra, giám sát công tác
xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn
106
3.2.5. Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội và đẩy mạnh phát
triển kinh tế hàng hóa ở Lạng Sơn
107

5
CNTB
Chủ nghĩa tư bản
6
CNXH
Chủ nghĩa xã hội
7
CSHT
Cơ sở hạ tầng
8
CSXH
Chính sách xã hội
9
CTMT
Chương trình mục tiêu
10
CTMTQG
Chương trình mục tiêu quốc gia
11
DTTS
Dân tộc thiểu số
12
ĐBKK
Đặc biệt khó khăn
15
HĐND
Hội đồng nhân dân
14
KHHGĐ
Kế hoạch hóa gia đình

XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Các từ viết tắt Tiếng Anh
TT
VIẾT TẮT
NGHĨA ĐẦY ĐỦ
1
ESCAP
Ủy ban Kinh tế và Xã hội châu Á-Thái Bình Dương
2
UNDP
Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc
3
ASEAN
Hội hiệp các quốc gia Đông Nam Á
4
GDP
Tổng sản phẩm trong nước
5
GNP
Tổng sản phẩm quốc dân
6
FDI
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
7
IMF
Quỹ Tiền tệ quốc tế
8
ODA
Đầu tư gián tiếp

4
Bảng 2.3: Kết quả cho vay chương trình tín dụng ưu đãi 2003- 2009
56
5
Bảng 2.4: Kết quả thực hiện chương trình hỗ trợ về nhà ở (2005-
2009)
58
6
Bảng 2.5: Chương trình hỗ trợ nước sạch sinh hoạt đồng bào
dân tộc thiểu số (2005-2009)
59
7
Bảng 2.6: Tổng hợp nguồn vốn thực hiện chương trình 135 năm
2009
61
8
Bảng 2.7: Tổng hợp chương trình giảm nghèo giai đoạn 2006-
2010
64
9
Bảng 2.8: Kết quả ủy thác cho vay qua các tổ chức Chính trị- Xã
hội
69
10
Bảng 2.9: Kết quả giảm hộ nghèo giai đoạn 2006- 2009
78
11
Bảng 3.1: Dự báo tăng trưởng GDP
88


Để góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm nâng cao vai trò
của Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn mang lại hiệu

2
quả thiết thực, đạt được mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đặt ra, tác giả đã
chọn đề tài: “Nâng cao vai trò Nhà nước trong xóa đói giảm nghèo ở Lạng
Sơn” làm luận văn thạc sĩ của mình.
Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là: Nhà nước có vai trò gì trong hoạt
động xóa đói giảm nghèo và giải pháp nào cho việc nâng cao vai trò của
nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn?
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam là vấn đề được
Đảng, Nhà nước và các cấp, các ngành cũng như nhiều cơ quan, nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu. Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX đến nay đã có
nhiều công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, bài viết liên quan đến vấn đề
xóa đói, giảm nghèo được công bố, đáng chú ý là các công trình sau:
- Báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế giới, (2004),
“Chính sách đất đai cho tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo”, Nxb. Văn hóa-
Thông tin.
- Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 với chủ đề “Nghèo” đã đánh
giá những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực xóa đói giảm nghèo, tồn tại
và hạn chế trong cách xách định chuẩn nghèo, tỷ lệ hộ nghèo, các tiêu chí sử
dụng để xác định mức nghèo
- Báo cáo phát triển Việt Nam hàng năm đều có đánh giá về hoạt động
xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam và chỉ ra các thách thức phát triển.
- TS. Lê Xuân Bá (cùng tập thể tác giả) (2001), “Nghèo đói và xóa đói,
giảm nghèo ở Việt Nam”, Nxb. Nông nghiệp.
- Cuốn sách “Chính sách xã hội và đổi mới cơ chế quản lý việc thực
hiện” do PGS-TS Trần Đình Hoan chủ biên (nhà xuất bản Chính trị quốc gia -
1996) đã đưa ra những luận cứ khoa học để nghiên cứu đổi mới chính sách xã


4
trình nghiên cứu về đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam là rất
phong phú. Thành quả của những công trình đã cung cấp những luận cứ khoa
học, thực tiễn cho việc xây dựng, triển khai công tác xóa đói, giảm nghèo trên
toàn quốc và từng địa phương.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách độc lập và cụ
thể về vai trò của nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở địa
phương Lạng Sơn. Đó chính là lý do tác giả luận văn chọn đề tài nghiên cứu:
“Nâng cao vai trò Nhà nước trong xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn”.
Trên thực tế, kinh nghiệm các nước cho thấy sự thiếu vắng vai trò của
Nhà nước đặc biệt có hại đối với người nghèo, cộng đồng nghèo; vì người
nghèo không tự bảo vệ được các quyền của mình, hơn nữa trong thành quả
chung của tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, Nhà nước có vai trò
nòng cốt và có trách nhiệm thu hút sự tham gia tích cực của cộng đồng, các tổ
chức chính trị, kinh tế, xã hội.
Biết rằng, để thoát nghèo thì trước tiên đó là việc của người nghèo, Nhà
nước không dùng biện pháp cứu trợ đơn thuần, sẽ dẫn đến sự ỷ lại của người
nghèo. Phải để người nghèo tự khơi dậy tiềm năng của mình, ý thức vươn lên
thoát nghèo. Tuy nhiên, để người nghèo nhận thức được vấn đề nghèo đói và có
ý thức tự vươn lên thoát nghèo thì trước tiên cần phải có sự hỗ trợ của nhà nước.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
*Mục đích: Vận dụng lý luận về vai trò của Nhà nước trong hoạt động
xóa đói giảm nghèo để đánh giá những thành công cũng như những hạn chế
về vai trò Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo tại Lạng Sơn. Từ đó
đề xuất những giải pháp có căn cứ khoa học và có tính khả thi nhằm nâng cao
vai trò Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn một cách
hiệu quả.

5

- Nhận diện rõ vai trò của Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm
nghèo ở Lạng Sơn.
- Đưa ra những đề xuất, những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò
của Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn kết cấu thành 3 chương.
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Nhà nước trong
hoạt động xóa đói giảm nghèo.
Chƣơng 2: Thực trạng vai trò của Nhà nước trong hoạt động xóa đói
giảm nghèo ở Lạng Sơn.
Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp nhằm tiếp tục nâng cao vai trò
Nhà nước trong hoạt động xóa đói giảm nghèo ở Lạng Sơn.

7
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA NHÀ NƢỚC
TRONG HOẠT ĐỘNG XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1.1. Nghèo đói và xóa đói giảm nghèo.
1.1.1. Nghèo đói
1.1.1.1. Các khái niệm

hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa
nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của
từng địa phương”[49,tr.9]. Đây là khái niệm khá đầy đủ, toàn diện về đói
nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, khái niệm này đã phân
định đói nghèo theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán
của từng địa phương. Nhưng các tiêu chí và chuẩn mực về mặt lượng hóa
chưa được xác định vì còn phải tính đến sự chênh lệch về điều kiện tự nhiên,
xã hội và trình độ phát triển của mỗi vùng, miền khác nhau.
Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào
thực trạng kinh tế xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và
XĐGN đến năm 2005 và 2010, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về đói nghèo
do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á -Thái Bình Dương do ESCAP tổ
chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993. Đồng thời vấn đề đói nghèo ở Việt
Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và
cộng đồng, nên đói nghèo còn được phân theo hai cấp độ: đói và nghèo.
* Đói: là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới
mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì
cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai
tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. Hay có thể
nói đói là một nấc thấp nhất của nghèo.

9
Tài liệu của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội đã phân loại đói làm
hai dạng (theo mốc đánh giá năm 1993):
Thiếu đói: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có thu nhập dưới mức
thu nhập là 12kg gạo/người/tháng. Hay là tình trạng của một bộ phận dân cư ở
nông thôn có thu nhập dưới mức 20.400 đồng/người/tháng và ở thành thị là
24.500 đồng/người/tháng.
Đói gay gắt: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức thu nhập
dưới mức 8 kg gạo/người/tháng và ở thành thị là 16.300 đồng/người/tháng.

tương đối chủ quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ
thuộc vào sự xác định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất
(tương đối), việc thiếu thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan
trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã
hội do thiếu hụt tài chính một phần được các nhà xã hội học xem như là một
thách thức xã hội nghiêm trọng.
Năm 1998, UNDP công báo một bản báo cáo nhan đề “Khắc phục sự
nghèo khổ của con người” đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau:
Sự nghèo khổ của con người: Thiếu những quyền cơ bản của con người
như biết đọc, biết viết và được nuôi dưỡng tạm đủ.
Sự nghèo khổ về tiền tệ: Thiếu thu nhập tối thiểu thích đáng và khả
năng chi tiêu tối thiểu.
Sự nghèo khổ cực độ: Nghèo khổ, khốn cùng tức là không có khả năng
thỏa mãn những nhu cầu cơ bản tối thiểu.
Sự nghèo khổ chung: Mức độ nghèo kém nghiêm trọng hơn được xác
định như sự không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu lương thực và phi
lương thực chủ yếu, những nhu cầu này đôi khi được xác định khác nhau ở
những nước khác nhau.

11
Sự nghèo khổ tương đối: Sự nghèo khổ được xác định theo những
chuẩn mực có thể thay đổi với thời gian ở nước này hay nước khác. Ngưỡng
này có thể tăng lên đồng thời với thu nhập.
Sự nghèo khổ tuyệt đối: Sự nghèo khổ được xác định bằng một chuẩn
mực nhất định. Chẳng hạn như ngưỡng quốc tế của sự nghèo khổ là
1USD/người/ngày.
Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra khái niệm:
Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một rổ hàng hóa
lương thực hàng ngày và được gọi là “ngưỡng nghèo về lương thực, thực
phẩm”. Ngưỡng nghèo này thường thấp bởi vì nó không tính đến số tiền chi

Trong đó: CN
j
: chuẩn

nghèo năm thứ j
CLTTP
j-1
: chi tiêu cho lương thực thực phẩm
CSG: tốc độ giá gia tăng của rổ hàng hóa
Chia 70*100: chi tiêu cho lương thực thực phẩm chiếm 70%
tổng chi tiêu.
Theo phương pháp này, Ngân hàng thế giới đã tính toán và đưa ra
khuyến nghị chuẩn nghèo đói cho các quốc gia vào những năm cuối của thập
kỷ trước như sau:
- Đối với nước nghèo: các cá nhân bị coi là nghèo đói khi có thu nhập
dưới 0,5USD/ngày
- Đối với các nước đang phát triển là 1USD/ngày
- Các nước thuộc Châu Mỹ la tinh và Caribe là 2USD/ngày
- Các nước Đông âu là 4USD/ngày
- Các nước phát triển là 14,4USD/ngày
Thứ hai, phương pháp xác định chuẩn nghèo dựa vào so sánh thu nhập
bình quân đầu người của các hộ gia đình. Theo phương pháp này người nghèo
là người có thu nhập bằng 1/2 hoặc 1/3 thu nhập bình quân xã hội.
Ở Việt Nam chuẩn nghèo được lấy bằng khoảng giữa 1/2 và 1/3 thu
nhập bình quân đầu người của hộ gia đình.
Công thức tính như sau: CN
j
=(TN
j
/2 + TN

ra gạo là dưới 13kg/người/tháng.
- Hộ nghèo ở khu vực nông thôn có mức thu nhập bình quân đầu người
quy ra gạo là dưới 15kg/người/tháng.
- Hộ nghèo ở khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân đầu người
quy ra gạo là dưới 20kg/người/tháng.
* Giai đoạn 1996- 1997:
- Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo là dưới
13kg/người/tháng cho mọi vùng.

14
- Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người quy ra gạo là
dưới 20kg/người/tháng đối với khu vực thành thị và dưới 15kg/người/tháng
đối với khu vực nông thôn, miền núi, hải đảo.
* Giai đoạn 1998- 2000: Theo thông báo số 1751/LĐ- TB&XH như sau:
- Hộ đói: Là hộ có thu nhập bình quân đầu người dưới 13kg gạo tương
ứng 45.000đ/người/tháng.
- Hộ nghèo: Là hộ có mức thu nhập bình quân quy ra gạo như sau:
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương
đương 55.000đ)
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20 kg/người/tháng (tương
đương 70.000đ)
+ Vùng thành thị: dưới 25 kg/người/tháng (tương đương 90.000đ)
* Giai đoạn 2001- 2005: Theo Quyết định 1143/QĐ.LĐ- TB&XH ngày
01/11/2000 thì chuẩn hộ nghèo được điều chỉnh theo chuẩn mức thu nhập
bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng như sau:
- Hộ nghèo: Là hộ có thu nhập bình quân theo vùng
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: Dưới 80.000đ/người/tháng.
+ Vùng nông thôn đồng bằng: Dưới 100.000đ/người/tháng.
+ Vùng thành thị: Dưới 150.000đ/người/tháng.
- Xã nghèo: Là xã có tỷ lệ hộ nghèo từ 25% trở lên và chưa đủ cơ sở hạ

sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số
lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình
chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn [29,tr.39].

16
Ở khía cạch khác giảm nghèo là việc chuyển từ tình trạng con người có
ít điều kiện để lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn
nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
Nói giảm nghèo là trong đó bao hàm xóa đói, không xóa đói thì không thể
giảm nghèo và cũng giống khái niệm nghèo, khái niệm giảm nghèo cũng chỉ là
tương đối. Bởi, đói nghèo có thể tái sinh khi chuẩn nghèo thay đổi, hoặc có sự
tác động của thiên tai, lạm phát, khủng hoảng Vì vậy, việc đánh giá mức độ
giảm nghèo cần được xem xét trong một không gian và thời gian nhất định.
Việt Nam hiện nay do nền kinh tế đang trong quá trình chuyển đổi từ
nền kinh tế lạc hậu sang nền kinh tế hiện đại, vì vậy còn tồn tại đan xen nhiều
trình độ sản xuất khác nhau. Trình độ sản xuất cũ lạc hậu vẫn còn, trong khi
trình độ sản xuất mới, tiên tiến lại chưa đóng vai trò chủ đạo. Do đó, trong các
tầng lớp dân cư vẫn còn có sự phân hóa giàu nghèo.
Như vậy, ở góc độ quốc gia, XĐGN chính là việc từng bước thực hiện
quá trình chuyển đổi các trình độ sản xuất cũ, lạc hậu còn tồn tại trong xã hội,
sang trình độ sản xuất mới, hiện đại hơn. Ở góc độ người nghèo, giảm nghèo
là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn
lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó có nhiều lựa chọn
hơn, giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng đói nghèo hiện tại.
1.1.2.2. Nội dung cơ bản của xóa đói, giảm nghèo
Thứ nhất, tăng thu nhập cho vùng nghèo, người nghèo
Khi đánh giá về vấn đề nghèo đói, các tổ chức quốc tế cũng như các
nước khác nhau đều lựa chọn phương pháp và chỉ tiêu đánh giá cơ bản giống
nhau. Nhìn chung các quốc gia đều căn cứ vào chỉ tiêu chính là thu nhập để
đánh giá. Như vậy tăng thu nhập cho đối tượng nghèo là nội dung cần được


18
Nghèo đói thường gắn liền với dân trí thấp do họ không có điều kiện để
học hành nâng cao trình độ hiểu biết. Dân trí thấp thì khó có khả năng tiếp thu
tiến bộ khoa học kỹ thuật để áp dụng vào sản xuất và không có khả năng tiếp
cận với tiến bộ, văn minh của nhân loại nên dẫn đến nghèo về mọi mặt. Vì
vậy, để giảm nghèo phải nâng cao trình độ dân trí, nâng cao sự hiểu biết cho
người nghèo là giải pháp có tính chiến lược lâu dài.
Ngoài ra, công tác XĐGN phải tạo điều kiện giúp người nghèo tiếp cận
có hiệu quả với các dịch vụ y tế, dịch vụ tài chính, tín dụng và tiến bộ của
khoa học kỹ thuật, công nghệ.v.v Hỗ trợ người nghèo về y tế để họ có điều
kiện chăm sóc sức khỏe tốt hơn, hạn chế được bệnh tật, từ đó có điều kiện tái
sản suất sức lao động, đây là yếu tố quan trọng để phát triển sản xuất. Người
nghèo thường thiếu vốn sản xuất, kinh doanh, thiếu kinh nghiệm, đất sản xuất,
thiếu thông tin thị trường và thiếu kiến thức. Do vậy, hoạt động XĐGN phải
hỗ trợ cho người nghèo có được sự tiếp cận tốt hơn những yếu tố trên.
Thư ba, giảm thiểu sự tổn thương cho người nghèo để XĐGN mang
tính bền vững.
Trong thực tiễn người nghèo rất dễ bị tổn thương, bởi có nhiều hộ gia
đình sau khi thoát nghèo một thời gian nếu gặp thiên tai, tai nạn lao động, rủi
ro trong sản xuất, ốm đau, bệch tật lại tái trở thành hộ nghèo. Ở nước ta, quá
trình hình thành và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa, cùng với việc đẩy mạnh sự nghiệp CNH, HĐH trong thời gian qua đã
đạt được những thành tựu quan trọng, khẳng định sự đúng đắn của đường lối
đổi mới của Đảng ta, nhưng bên cạnh đó thì tình trạng phân hóa giàu nghèo
cũng gia tăng như một hệ quả tất yếu của quá trình phát triển. Điều đó đã đặt
ra những thách thức lớn: một mặt, nếu không tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi
mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và thực hiện CNH, HĐH
thì không thể tồn tại, phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế; nhưng mặt khác,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status