ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
oo0oo
NGUYỄN DUY KIÊN
RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG SHINHAN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
oo0oo NGUYỄN DUY KIÊN
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
oo0oo
RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN
HÀNG SHINHAN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HÀ NỘI Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và quan hệ KTQT
Mã số: 60 31 07 LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. ĐÀO MINH PHÚC
Hà Nội, 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
i
DANH MỤC CÁC BẢNG
ii
DANH MỤC CÁC HÌNH
iii
LỜI MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1. RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA
27
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN
DỤNG TẠI NGÂN HÀNG SHINHAN VIỆT NAM - CHI NHÁNH
HÀ NỘI
30
2.1. Khát quát về ngân hàng Shinhan Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
30
2.1.1. Quá trình hình thành, phát triển và cơ cấu tổ chức của Ngân
30 hàng Shinhan Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội
2.1.2. Kết quả một số hoạt động kinh doanh chính của SHBV-HN
32
2.2 Thực trạng về hoạt động tín dụng và rủi ro trong hoạt động tín
dụng tại SHBV-HN
37
2.2.1. Thực trạng về hoạt động tín dụng tại SHBV-HN
37
2.2.2. Thực trạng về rủi ro tín dụng tại Ngân hàng SHBV-HN
43
2.2.3. Thực trạng công tác quản trị RRTD ở SHBV-HN
46
2.3. Đánh giá thực trạng rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân
hàng Shinhan Việt Nam, Chi nhánh Hà Nội
57
2.3.1. Kết quả đạt được
57
2.3.2. Những tồn tại hạn chế
58
3.2.6. Hoàn thiện hệ thống thông tin tín dụng
72
3.2.7. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
74
3.2.8. Tăng cường và hoàn thiện công tác xử lý rủi ro
76
3.2.9. Một số kiến nghị
77
KẾT LUẬN
80
TÀI LIỆU THAM KHẢO
81 i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
STT
Từ viết tắt
Nguyên nghĩa
11
TTQT
Thanh toán quốc tế
12
XDCB
Xây dựng cơ bản
ii
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
Tên các bảng
Trang
1
2.1
Kết quả kinh doanh những năm gần đây của SHBV-HN
34
2
40
9
2.9
Một số chỉ tiêu và hệ số đo lường rủi ro tín dụng của
SHBV trong những năm gần đây
43
10
2.10
Bảng xếp hạng tín dụng của SHBV
49
11
2.11
Tỉ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
55 iii
DANH MỤC CÁC HÌNH
STT
Số hiệu
Tên các hình
Trang
1
1.1
Các loại rủi ro tín dụng
14
2
2.1
của thị trường nhà đất Mỹ.
Từ vụ việc trên có thể thấy, quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng là
hoạt động hết sức quan trọng và có ý nghĩa sống còn đến sự tồn tại của mỗi
Ngân hàng. Do đó hoạt động này đòi hỏi phải có sự đầu tư thích đáng trong
việc nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm ngăn ngừa, hạn chế mức tối đa
những rủi ro có thể xảy ra.
Hiện nay, các ngân hàng thương mại Việt Nam đang tích cực xây dựng
chính sách, chiến lược và đề ra những biện pháp thực hiện để hạn chế rủi ro
tín dụng trước những quy định và yêu cầu gắt gao của Chính phủ, của Ngân
hàng Nhà nước. Vì mục tiêu an toàn và phát triển bền vững, Ngân hàng
Shinhan Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội đã ban hành nhiều chính sách, quy
định và liên tục cập nhật, bổ sung quy trình tín dụng để hạn chế rủi ro tín
dụng. Tuy nhiên trong quá trình hoạt động, các quy định, quy trình vẫn còn
tồn tại những hạn chế cần khắc phục; vì vậy đề tài: “Rủi ro trong hoạt động
tín dụng tại Ngân hàng Shinhan Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội" được lựa
chọn nghiên cứu nhằm mục đích phân tích, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng
tại ngân hàng, đồng thời đề xuất những giải pháp khắc phục hạn chế.
2
2. Tình hình nghiên cứu
Rủi ro tín dụng là vấn đề đã được nghiên cứu nhiều trên thế giới tuy
nhiên chưa được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam. Cho đến nay đã có một số
sách, và bài viết về rủi ro tín dụng như: 1) Giáo trình : “Quản trị rủi ro trong
kinh doanh ngân hàng ” của PTS. Nguyễn Văn Tiến – NXB Thống kê 1999.
Giáo trình này đã giới thiệu một cách khái quát về các loại rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng, trong đó có rủi ro tín dụng. Tuy nhiên, đây là một nghiên
cứu tổng quát về rủi ro trong kinh doanh ngân hàng và chưa đi sâu nghiên cứu
vào rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân hàng. 2) Giáo trình: “Đánh giá và
phòng ngừa rủi ro trong kinh doanh ngân hàng” của TS Nguyễn Văn Tiến –
hoạt động tín dụng ngân hàng từ các nghiên cứu trong thời gian gần đây.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và công tác quản trị
rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Shinhan Việt Nam – Chi nhánh Hà Nội và đề
xuất những giải pháp nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng ngân
hàng.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là rủi ro trong hoạt động tín dụng
ngân hàng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Đề tài tập trung vào nghiên cứu rủi ro trong hoạt động
tín dụng doanh nghiệp tại Ngân hàng Shinhan Việt Nam - Chi nhánh Hà Nội
- Về thời gian: Khoảng thời gian nghiên cứu là từ năm 2005 đến năm 2011.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
- Đề tài này được áp dụng cả phương pháp nghiên cứu định tính và
định lượng, sử dụng dữ liệu được thu thập chủ yếu từ các nguồn tư liệu thứ
4
cấp: Hiệp ước Basel (I và II), Báo cáo của Ngân hàng, nghiên cứu khoa học,
tạp chí chuyên ngành tài chính, ngân hàng
- Đề tài sử dụng phương pháp phân tích tình huống, trong trường hợp
này là phân tích trường hợp của Ngân hàng Shinhan Việt Nam - Chi nhánh
Hà Nội.
- Ngoài ra, luận văn cũng sử dụng các phương pháp khác như: thống
kê, tổng hợp, phân tích dữ liệu để đưa ra các kết luận cho nghiên cứu của
mình.
6. những đóng góp mới của luận văn.
- Đưa ra các kiến nghị, giải pháp về phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng
nhằm hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại Ngân hàng Shinhan Việt
Nam - Chi nhánh Hà Nội.
trước khi đến hạn thanh toán.
+ Cho thuê tài chính là loại hình tín dụng trung, dài hạn trong đó các
công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình để mua tài sản, thiết bị theo yêu
cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định.
Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ.
Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm
thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị cho bên cho thuê.
+ Bao thanh toán là hình thức cấp tín dụng cho bên bán hàng hoặc bên
mua hàng thông qua việc mua lại có bảo lưu quyền truy đòi các khoản phải
6
thu hoặc các khoản phải trả phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá, cung ứng
dịch vụ theo hợp đồng mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ.
+ Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín
dụng cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện
nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc
thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết, khách hàng phải nhận nợ và
hoàn trả cho tổ chức tín dụng theo thỏa thuận.
Trong các nghiệp vụ trên nghiệp vụ cho vay là chủ đạo trong các hình
thức cấp tín dụng của ngân hàng thương mại. Cho vay là hoạt động đem lại
nguồn thu chủ yếu của ngân hàng thương mại. Hoạt động cho vay của NHTM
phải an toàn, hiệu quả thì NHTM mới tồn tại và phát triển. Muốn vậy các
khâu của hoạt động cho vay phải tuân thủ các nguyên tắc nhất định và thực
hiện trôi chảy để NHTM thu hồi được vốn và lãi khi kết thúc thời hạn cho
vay.
1.1.2. Các nguyên tắc của tín dụng ngân hàng
Để đảm bảo cho hoạt động ngân hàng luôn luôn an toàn và phát triển
bền vững thì yêu cầu bắt buộc của tín dụng ngân hàng là phải tuân thủ những
nguyên tắc cơ bản sau đây:
Một là, cho vay có mục đích, có phương án vay vốn khả thi, hiệu quả:
thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và
phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt của cá nhân.
- Cho vay trung hạn: Là tín dụng có thời hạn từ 1 – 5 năm, được cung
cấp để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng và xây
dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Cho vay dài hạn: Là loại có thời hạn trên 5 năm, loại tín dụng này
được sử dụng để cung cấp vốn cho XDCB, cải tiến và mở rộng sản xuất có
8
qui mô lớn.
Tín dụng trung hạn và dài hạn được đầu tư để hình thành vốn cố định và
một phần tối thiểu cho hoạt động sản xuất
* Căn cứ vào tài sản đảm bảo
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản
- Cho vay không có đảm bảo bằng tài sản
* Căn cứ vào phương thức cho vay
- Cho vay bổ sung vốn lưu động: Là loại vốn tín dụng được sử dụng để
hình thành vốn lưu động của các tổ chức kinh tế, như cho vay để dự trữ hàng
hoá, mua nguyên vật liệu cho sản xuất. Tín dụng vốn lưu động thường được
sử dụng để cho vay bù đắp mức vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Loại tín
dụng này thường được chia ra các loại: cho vay dự trữ hàng hoá, cho vay chi
phí sản xuất và cho vay để thanh toán các khoản nợ dưới hình thức chiết khấu
kỳ phiếu.
- Cho vay tài trợ vốn cố định: Là loại tín dụng được sử dụng để hình
thành TSCĐ. Loại này được đầu tư để mua sắm TSCĐ, cải tiến và đổi mới kỹ
thuật mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và công trình mới. Thời hạn
cho vay là trung hạn và dài hạn
1.1.4. Quy trình tín dụng ngân hàng
Quy trình tín dụng là bảng tổng hợp mô tả công việc của ngân hàng từ
khi tiếp nhận hồ sơ vay vốn của một khách hàng cho đến khi quyết định cho
▪ Đồng ý cho vay với một khách hàng không tốt
▪ Từ chối cho vay với một khách hàng tốt
Cả hai sai lầm đều ảnh hưởng đến hoạt đông kinh doanh tín dụng, thậm
chí sai lầm thứ hai còn ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng.
Bước 4: Giải ngân
10
Ở bước này, ngân hàng sẽ tiến hành phát tiền cho khách hàng theo hạn
mức tín dụng đã ký kết trong hợp đồng tín dụng.
Nguyên tắc giải ngân: Phải gắn liền sự vận động tiền tệ với sự vận
động hàng hóa hoặc dịch vụ có liên quan, nhằm kiểm tra mục đích sử dụng
vốn vay của khách hàng và đảm bảo khả năng thu nợ, nhưng đồng thời cũng
phải tạo sự thuận lợi, tránh gây phiền hà cho công việc sản xuất kinh doanh
của khách hàng.
Bước 5: Giám sát tín dụng
Nhân viên tín dụng thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn vay thực
tế của khách hàng, hiện trạng tài sản đảm bảo, tình hình tài chính của khách
hàng để đảm bảo khả năng thu nợ.
Bước 6: Thanh lý hợp đồng tín dụng
1.2. Rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thƣơng mại
1.2.1. Khái niệm về rủi ro tín dụng
Trong thực tế, rủi ro tồn tại ở mọi nơi, trong mọi lĩnh vực, do vậy tùy
theo mỗi ngành nghề, lĩnh vực hoạt động khác nhau mà “rủi ro” được định
nghĩa khác nhau, chẳng hạn:
Rủi ro là khả năng xảy ra một biến cố mà ta hoàn toàn không chắc
chắn (xác suất xảy ra < 1).
Dưới góc độ đầu tư: Rủi ro trong đầu tư là không đạt được giá trị hiện
tại thuần NPV và chỉ số hoàn vốn nội bộ IRR như dự tính.
Theo xác suất thống kê: Rủi ro là khả năng xuất hiện các biến cố ngẫu
nhiên có thể đo lường được bằng xác suất.
được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ.
Cùng với rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng là một trong những rủi ro chủ yếu
trong hoạt động cho vay của ngân hàng. [15]12
Timothy W.Koch:
Một khi ngân hàng nắm giữ tài sản sinh lợi, rủi ro xảy ra khi khách
hàng sai hẹn - có nghĩa là khách hàng không thanh toán vốn gốc và lãi theo
thỏa thuận. Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị
giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ
hạn. [16]
Hennie van Greuning - Sonja B rajovic Bratanovic:
Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể
chi trả tiền lãi, hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp
đồng tín dụng. Đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín
dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn
bộ. Điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ, và gây ảnh hưởng
tới khả năng thanh khoản của ngân hàng. [12]
Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự
phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005
của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn
thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không
thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Từ các định nghĩa trên ta có thể rút ra các nội dung cơ bản về rủi ro tín
dụng như sau:
ra rủi ro thì rủi ro tín dụng được phân ra thành rủi ro khách quan và rủi ro chủ
quan. Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như thiên
tai, địch họa, người đi vay bị chết, mất tích và các biến động ngoài dự kiến
khác làm thất thoát vốn vay trong khi người vay đã thực hiện nghiêm túc chế
độ chính sách. Rủi ro chủ quan do nguyên nhân thuộc về chủ quan của người
14
đi vay và người cho vay vì vô tình hay cố ý làm thất thoát vốn vay hay vì
những lý do chủ quan khác.
* Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được
phân chia thành các loại sau đây: Hình 1.1. Các loại rủi ro tín dụng
(Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (1999), Giáo trình Quản trị rủi ro trong
kinh doanh ngân hàng, Nxb Thống kê, Hà Nội)
Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân
phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch, xét duyệt cho vay và
đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch bao gồm rủi ro lựa chọn (rủi ro liên
quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, phương án vay vốn để
quyết định tài trợ của ngân hàng), rủi ro bảo đảm xuất phát từ các tiêu chuẩn
đảm bảo, như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm
bảo và mức an toàn của nó, rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản trị
hoạt động cho vay, như xây dựng và thực hiện chính sách tín dụng để định
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước:
+ Rủi ro đối với nợ cần chú ý (Nợ nhóm 2): Đó là những khoản nợ quá
hạn từ 10 đến 90 ngày, các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu (đối
với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức thì tổ chức tín dụng phải có hồ sơ
đánh giá khách hàng về khả năng trả nợ đầy đủ gốc và lãi đúng kỳ hạn được
điều chỉnh lần đầu)
+ Rủi ro đối với nợ dưới tiêu chuẩn (Nợ nhóm 3): là những khoản nợ
quá hạn từ 91 đến 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu,
trừ các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu phân loại vào nợ cần chú ý;
các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả
lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng.
+ Rủi ro đối với nợ nghi ngờ (Nợ nhóm 4): là những khoản nợ quá hạn
từ 181 đến 360 ngày; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn
dưới 90 ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại lần đầu; các khoản nợ cơ cấu lại thời
hạn trả nợ lần thứ hai.
16
+ Rủi ro đối với nợ có khả năng mất vốn (Nợ nhóm 5): là những khoản
nợ đã quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu
quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu; các
khoản nựo cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai; các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nựo lần thứ
ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn; các khoản nợ khoanh chờ
Chính phủ xử lý.
1.2.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Một số dấu hiệu cảnh báo rủi ro tín dụng trong hoạt động của ngân hàng:
Nhóm 1: Nhóm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng
Khách hàng có biểu hiện:
+ Các khoản nợ gốc và lãi khách hàng không thanh toán đầy đủ hoặc
chậm thanh toán;
nghề mà không thuộc chuyên môn của mình, lĩnh vực có độ rủi ro cao
+ Yếu tố đầu vào không thuận lợi như: giá cả nguyên vật liệu đầu vào
tăng, không nhập được những nguyên liệu đặc chủng
+ Cơ cấu vốn của doanh nghiệp không hợp lý, sử dụng vốn sai mục
đích ví dụ như: dùng vốn vay ngắn hạn để mua sắm, tài trợ cho TSCĐ, nhà
xuởng
+ Chi phí của doanh nghiệp không hợp lý
Nhóm 6: Nhóm các dấu hiệu về mặt pháp luật
+ Có những thay đổi về chính sách liên quan đến ngành nghề kinh
doanh của doanh nghiệp theo chiều hướng bất lợi
+ Doanh nghiệp có biểu hiện vi phạm pháp luật