ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN THÙY ANH Phát triển dịch vụ vận tải
hành khách công cộng ở Hà Nội luËn v¨n th¹c sÜ KINH TẾ
luËn v¨n th¹c sÜ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Đình Thiên
Hµ néi - 2008
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đô thị hoá, cơ giới hoá, công nghiệp hoá và toàn cầu hoá là bốn xu thế
chung của các nước trên thế giới nhất là đối với các nước đang phát triển. Quá
trình đô thị hoá vừa đưa lại những cơ hội, đồng thời đặt ra những thách thức đối
với phát triển bền vững đô thị.
Một mặt, đô thị hoá thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng công nghiệp – thương mại – dịch vụ và GDP ngày càng cao hơn, đầu tư cơ
sở hạ tầng, hệ thống đô thị được mở rộng một cách toàn diện và vững chắc, đầu
tư xây dựng các khu công nghiệp chế xuất, các khu đô thị mới; mặt khác, gây ra
những tác động tiêu cực như: làm cho các dòng dịch từ nông thôn vào đô thị để
tìm cơ hội có thu nhập cao hơn, sức ép dân số đô thị vốn đã quá tải càng làm cho
sự quá tải ấy càng nghiêm trọng hơn. Dân số đô thị tăng nhanh, cơ sở hạ tầng đô
thị không phát triển kịp một cách tương xứng, làm cho sức ép quá tải ngày càng
lớn, chưa có khả năng cân bằng. Môi trường đô thị xuống cấp, tệ nạn xã hội khu
vực đô thị càng phức tạp hơn. Đặc biệt tại các đô thị lớn của Việt Nam đang đứng
trước tình trạng ách tắc, tai nạn giao thông và ô nhiễm môi trường ngày càng
Do vậy, việc nghiên cứu đề tài: “ Phát triển dịch vụ VTHKCC ở Hà Nội”
có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn. Thấy rằng đã đến lúc phát triển giao
thông công cộng phải được xem là một trong những giải pháp mang tính chiến
lược nhằm giải quyết giao thông đô thị ỏ TP Hà Nội. Một hệ thống giao thông
liên thông, bền vững, thuận tiện, an toàn, có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu đi lại
ngày càng cao và đa dạng của người dân chính là tạo tiền đề cho sự phát triển
kinh tế - xã hội của Thủ đô Hà Nội.
2. Tình hình nghiên cứu
Việc nghiên cứu giải pháp phát triển dịch vụ VTHKCC ở Hà Nội, trong
những năm gần đây đã được các cấp, các ngành và các nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như: 3
- Hoàn thiện phương pháp lựa chọn phương tiện VTHKCC bằng xe buýt ở
thành phố Hà Nội.
- Hoàn thiện phương thức tổ chức quản lý VTHKCC bằng xe buýt ở đô thị.
- Những biện pháp nâng cao chất lựợng dịch vụ VTHKCC bằng ô tô.
- Tăng trưởng kinh tế và vấn đề phát triển giao thông đô thị.
Và rất nhiều các đề tài khoa học khác liên quan đến vấn đề này được nêu ở
danh mục tài liệu tham khảo. Luận văn đã kế thừa có chọn lọc các kết quả của
những công trình nghiên cứu khoa học về dịch vụ VTHKCC. Trên cơ sở đó tiếp
tục nghiên cứu để làm sáng tỏ hơn những vấn đề cơ bản về dịch vụ VTHKCC
như: khái niệm, vai trò và các nhân tố ảnh hưởng. Cùng với việc phân tích đánh
giá thực trạng dịch vụ VTHKCC ở Hà Nội để từ đó đưa ra các giải pháp thích
hợp, nhằm đẩy mạnh phát triển hơn nữa dịch vụ VTHKCC.
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận và
thực tiễn về phát triển dịch vụ VTHKCC ở đô thị, phân tích thực trạng dịch vụ
VTHKCC ở TP Hà Nội. Từ đó đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm đẩy mạnh
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiến về phát triển dịch vụ VTHKCC ở đô
thị.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ VTHKCC ở TP Hà Nội.
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển dịch vụ VTHKCC ở TP Hà
Nội.
5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DỊCH VỤ VTHKCC Ở ĐÔ THỊ
1.1 Tổng quan về dịch vụ VTHKCC
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ
Cho đến nay, chưa có một định nghĩa thống nhất về dịch vụ. Tính vô hình
và khó nắm bắt của dịch vụ, sự đa dạng, phức tạp của các loại hình dịch vụ làm
cho việc nêu một định nghĩa rõ ràng về dịch vụ trở nên khó khăn. Hơn nữa các
quốc gia khác nhau, phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, có cách hiểu về
dịch vụ không giống nhau. Có thể thấy rằng, dù có nhiều cách tiếp cận nhưng
cách định nghĩa kinh điển dựa trên tính chất của dịch vụ là định nghĩa chuyển tải
được những nội dung cơ bản và đầy đủ nhất về dịch vụ: “Dịch vụ là các hoạt
động của con người, được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình và không thể
cầm nắm được”. Định nghĩa này nêu lên được hai đặc điểm cơ bản của dịch vụ.
Thứ nhất, dịch vụ là một “sản phẩm”, là kết quả của quá trình lao động và
sản xuất nhằm thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người.
Thứ hai, khác với hàng hóa là cái hữu hình, dịch vụ là vô hình, phi vật chất
không thể lưu trữ được.
động đáp ứng cho khách hàng những nhu cầu cơ bản - những thứ khá trừu tượng,
chứ không chỉ cung cấp cho họ những thứ rõ ràng, hiển nhiên.
Các nhu cầu của khách hàng không chỉ thay đổi theo cá tính của họ mà còn
thay đổi theo đặc thù kinh doanh của doanh nghiệp. Chẳng hạn, khi muốn thỏa
mãn nhu cầu đi lại, khách hàng sẽ sử dụng phương tiện có được sự thoải mái, tiện
lợi và an toàn. Nhưng khi tìm đến một dịch vụ tư vấn, kế toán và kiểm toán, điều
khách hàng mong đợi là sự chính xác, tin cậy.
Có thể thấy được ngành dịch vụ mang những nét đặc thù sau:
- Giá trị sử dụng của sản phẩm dịch vụ không có hình thái vật chất cụ thể
mà tồn tại dưới hình thức phi vật thể. 7
- Quá trình sản xuất ra hàng hoá dịch vụ hướng phục vụ trực tiếp người
tiêu dùng với tư cách là những khách hàng, quá trình sản xuất và quá trình tiêu
dùng diễn ra đồng thời.
- Chất lượng dịch vụ khó xác định nó phụ thuộc vào hoàn cảnh tạo ra dịch
vụ như thời gian, địa điểm, người phục vụ ngoài ra nó còn phụ thuộc vào từng
quan điểm của người tiêu dùng dịch vụ đó.
- Do không mang hình thái vật thể và do quá trình sản xuất đồng thời cũng
là quá trình tiêu dùng nên hàng hoá dịch vụ không thể tồn tại độc lập, không thể
tích luỹ hay dự trữ.
Trên thực tế còn tồn tại một cách phân biệt các loại dịch vụ xét theo vai trò
của Nhà nước và thị trường trong việc cung ứng nó (sơ đồ 1.1):
Sơ đồ 1.1
Theo đó, có thể chia ra 3 loại dịch vụ:
- Dịch vụ cốt lõi có thể do Nhà nước cung ứng. Đây là loại dịch vụ quan
trọng, phục vụ cho các nhu cầu tối thiểu cần thiết trong xã hội. Nhà nước có trách
nhiệm bảo đảm cung ứng các loại dịch vụ này cho xã hội. Chi phí để cung cấp
không đầy đủ, hoặc thị trường tư nhân tạo ra sự bất bình đẳng trong xã hội, gây
tình trạng độc quyền, đẩy giá cả lên cao, làm ảnh hưởng tới lợi ích của người tiêu
dùng… Khi đó Nhà nước phải có trách nhiệm trực tiếp cung ứng hoặc điều tiết,
kiểm soát thị trường nhằm đảm bảo việc cung ứng dịch vụ đó được bình thường,
phục vụ nhu cầu cơ bản của con người.
Do tính chất phục vụ các nhu cầu chung của cả cộng động, loại dịch vụ này
còn được gọi là “Dịch vụ công cộng ”. DVCC là các hoạt động phục vụ các lợi
ích chung tối cần thiết của cả cộng đồng, do Nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy
nhiệm cho các cơ sở ngoài Nhà nước thực hiện nhằm đảm bảo trật tự và công 9
bằng xã hội. DVCC nhằm thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu và quyền cơ bản của
người dân trong việc hưởng thụ các của cải vật chất và tinh thần của xã hội.
Xét trên góc độ kinh tế học, DVCC là các hoạt động cung ứng cho xã hội
những hàng hóa công cộng bao gồm hàng hóa công cộng thuần túy và hàng hóa
công cộng không thuần túy. Hàng hóa công cộng thuần túy là loại hàng hóa mà
khi nó được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra việc sử dụng nó và việc tiêu dùng
của mỗi người không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác. Hàng hóa công
cộng không thuần túy là những hàng hóa thỏa mãn một trong hai đặc trưng trên.
DVCC là những hoạt động cung ứng các hàng hóa công cộng thuần túy và không
thuần túy, bao gồm cả những hàng hóa công cộng có tính chất cá nhân thiết yếu
được Nhà nước đảm bảo cung ứng.
Có thể phân loại DVCC theo các tiêu chí khác nhau. Trên góc độ kinh tế
học, gắn với phạm trù hàng hóa công cộng, xét theo tính chất công cộng hay cá
nhân của DVCC vụ có thể phân thành:
- DVCC thuần túy: là những dịch vụ không thể phân bổ theo khẩu phần để
sử dụng và cũng không thiết định suất sử dụng, bởi vì tiêu dùng của mỗi cá nhân
không làm giảm lượng tiêu dùng của người khác đồng thời khó có thể loại trừ ai
ra khỏi việc tiêu dùng nó chẳng hạn như cứu hỏa, chiếu sáng công cộng…
cá nhân đó ra khỏi việc hưởng thụ DVCC này. Thứ hai, không có tư nhân nào có
đủ quyền lực và vốn để huy động các nguồn lực cần thiết cho việc cung ứng các
DVCC thuần túy.
Đối với những DVCC không thuần túy, việc tư nhân cung cấp các DVCC
vụ này là không hiệu quả. Việc tư nhân cung ứng các DVCC này sẽ làm giảm
phúc lợi. Nếu công ty tư nhân cung cấp một DVCC không thuần túy nào đó thì
công ty sẽ bắt khách hàng nộp tiền sử dụng dịch vụ, điều đó không khuyến khích
các cá nhân sử dụng, dẫn tới việc sử dụng dưới mức khả năng cung ứng của dịch
vụ này. 11
Đối với DVCC vụ công cộng mang tính cá nhân như điện, nước, giao
thông vận tải… thì chi phí cận biên lớn đối với việc cung cấp cho thêm nhiều
người là lý do mà tư nhân không muốn đứng ra đảm nhiệm.
Một nguyên nhân khác dẫn tới việc Nhà nước phải đảm bảo cung ứng các
loại DVCC vụ này là do thất bại của thị trường. Các công ty tư nhân theo đuổi
mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận chứ không phải vì phúc lợi của quốc gia, dẫn tới
độc quyền tự nhiên, thủ tiêu cạnh tranh của thị trường. Do các các hãng khác
không thể tham gia vào ngành, các hãng độc quyền có thể định giá nhằm tối đa
hóa lợi nhuận, làm ảnh hưởng đến lợi ích của người tiêu dùng. Ngoài ra, Nhà
nước phải có trách nhiệm đảm bảo cung cấp các DVCC vì để cho thị trường cung
ứng thì sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng trong xã hội.
Như vậy, các DVCC hết sức đa dạng, với những nguyên nhân khác nhau
dẫn đến việc Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc cung ứng nó cho xã hội.
Do tính đa dạng của các loại DVCC nên việc Nhà nước đảm bảo cung ứng mỗi
loại DVCC cũng sẽ khác nhau về mức độ, cách thức, giải pháp…
Các cách thức can thiệp của Nhà nước vào việc cung cấp DVCC
Có thể dưới các hình thức sau:
- Nhà nước trực tiếp cung ứng thông qua hoạt động của các doanh nghiệp
- Không có một cá nhân nào có đủ quyền lực để huy động các nguồn lực
cho việc cung ứng DVCC vụ này.
- Tư nhân cung ứng sẽ không hiệu quả đối với sự phát triển và gây sự thiếu
công bằng trong xã hội.
Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, XHH là một giải pháp
quan trọng để cải tiến việc cung ứng DVCC. Việc XHH DVCC thường đem lại
hiệu quả cao hơn so với sự cung ứng bao cấp của Nhà nước. Điều đó xuất phát từ
những nguyên nhân sau: 13
- Tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp cung
ứng đồng thời tạo cơ hội cho người tiêu dùng lựa chọn và sử dụng những dịch vụ
tốt nhất. Các đơn vị tham gia cung ứng luôn luôn phải đổi mới quản lý, nâng cao
hiệu quả để có thể tồn tại trong cơ chế cạnh tranh.
- Việc XHH các DVCC tạo điều kiện cho mọi người tham gia tích cực vào
các hoạt động này, phát huy được khả năng và năng lực tiềm tàng trong xã hội.
Trong điều kiện ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp, khối lượng DVCC phải cung
ứng cho xã hội lại quá lớn thì việc huy động một phần sự đóng góp của nhân dân
sẽ làm giảm gánh nặng cho ngân sách.
- XHH DVCC trong điều kiện phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng trong
cơ chế thị trường ở nước ta là một giải pháp cần thiết góp phần tạo ra sự công
bằng trong tiêu dùng DVCC vụ công.
Tất cả những hoạt động cung ứng DVCC dù được tiến hành dưới hình thức
nào thì Nhà nước vẫn là người chịu trách nhiệm trước xã hội về việc đảm bảo
cung ứng chúng.
1.1.2 Khái niệm dịch vụ VTHKCC
Hiện tại có nhiều khái niệm khác nhau về VTHKCC. Chẳng hạn,
VTHKCC là tập hợp các phương thức vận tải của Nhà nước thực hiện chức năng
vận chuyển hành khách phục vụ sự đi lại của người dân trong thành phố.
dịch vụ vận tải có khả năng làm thỏa mãn nhu cầu đi lại bằng phương tiện vận tải
của hành khách, phù hợp với công dụng hay mục đích của dịch vụ vận tải đó.
Chất lượng dịch vụ VTHKCC là một tập hợp những tính chất lượng của
dịch vụ VTHKCC có khả năng làm thoả mãn nhu cầu đi lại bằng phương tiện vận
tải công cộng của hành khách, phù hợp với công dụng hay mục đích của dịch vụ
vận tải đó.
1.2 Đặc điểm và vai trò dịch vụ VTKHCC đối với đô thị 15
1.2.1 Đặc điểm của dịch vụ VTHKCC
1.2.1.1 Đặc điểm của dịch vụ vận tải
Sản phẩm vận tải là sự di chuyển hàng hoá và hành khách trong một không
gian nhằm thoả mãn nhu cầu của con người. Do đó vận tải có những đặc điểm
sau:
- Sản xuất trong quá trình vận tải là quá trình tác động về mặt không gian
chứ không tác động về mặt kỹ thuật vào đối tượng lao động. Trong vận tải không
có đối tượng lao động như các ngành sản xuất khác mà chỉ có đối tượng chuyên
chở gồm hàng hoá và hành khách mà sản phẩm là sự di chuyển hàng hoá và hành
khách.
- Sản xuất vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới. Sản phẩm vận tải là
sự di chuyển vị trí của đối tượng chuyên chở và bản chất của sản phẩm vận tải là
sự bảo toàn đối tượng vận tải trong quá trình thay đổi vị trí chứ không phải làm
thay đổi hình dáng, tính chất lý hoá của đối tượng chuyên chở.
- Sản phẩm vận tải không có hình dáng kích thước cụ thể, không tồn tại
độc lập ngoài quá trình sản xuất ra nó. Nó được hình thành trong quá trình vận tải
đồng thời quá trình sản xuất là quá trình tiêu thụ sản phẩm và quá trình vận tải
kết thúc thì quá trình tiêu thụ cũng kết thúc.
- Sản phẩm vận tải không thể dự trữ được mà chỉ có năng lực vận tải mới
có thể dự trữ được nhằm đáp ứng nhu cầu vận tải tăng lên đột biến theo mùa, vụ.
17
Hình 1.1: Mô phỏng GTVT đô thị
Hệ thống giao thông vận tải đô thị đã tạo ra mạng lưới đường, hệ thống
phương tiện và hệ thống công trình phục vụ nhu cầu đi lại của người dân đô thị.
Trong đô thị, thời gian một chuyến đi thường không quá 30 phút, trường
hợp đặc biệt không quá 45 phút. Điều đó không những đòi hỏi phương tiện có
tính năng tốt, được sử dụng hợp lý mà mạng lưới đường, cách tổ chức giao thông
phải được quy hoạch, thiêt kế và quản lý tốt.
VTHKCC có những đặc điểm chủ yếu sau:
- Các tuyến xe của VTHKCC có khoảng cách vận chuyển ngắn do
VTHKCC diễn ra trong phạm vi của một thành phố nhằm thực hiện việc giao lưu
hành khách giữa các vùng trong thành phố với nhau. Trên tuyến, khoảng cách
giữa các điểm đỗ ngắn (trung bình từ 400-600 mét).
- Yêu cầu chạy xe rất cao: xe phải chạy với tần xuất lớn, độ chính xác về
thời gian và không gian cao để một mặt đảm bảo chất lượng phục vụ hành khách
mặt khác nhằm giữ gìn trật tự, an toàn giao thông đô thị.
GTVT ĐÔ THỊ
HỆ THỐNG VẬN TẢI
HỆ THỐNG GIAO
THÔNG
Hệ thống
giao thông
độngthông
động
Hệ thống
giao thông
sau:
- Mục tiêu của việc đầu tư phát triển VTHKCC không đơn thuần tìm kếm
lợi nhuận mà còn nhằm thực hiện các mục tiêu xã hội và tạo tiền đề cho việc phát
triển kinh tế xã hội.
- VTHKCC là một bộ phận của GTVT đô thị thuộc kết cấu hạ tầng của hệ
thống giao thông đô thị, là tiền đề cho việc phát triển các chức năng đô thị khác.
việc đầu tư phát triển VTHKCC luôn chiếm vị trí quan trọng trong việc phát triển
đô thị và đi trước một bước cả về năng lực và trình độ công nghệ.
- VTHKCC là ngành kinh tế kỹ thuật đòi hỏi tính hệ thống và đồng bộ cao,
bởi vậy quy mô đầu tư ban đầu lớn làm hạn chế các nhà đầu tư có khả năng bỏ
vốn vào lĩnh vực này.
- VTHKCC là ngành có chu kỳ kinh doanh dài, đầu tư vào VTHKCC
thường gặp nhiều yếu tố bất định, nằm ngoài khả năng tự điều tiết của các nhà
đầu tư tư nhân, dễ gặp rủi ro, do vậy cần thiết phải có sự can thiệp của Nhà nước. 19
- VTHKCC cung ứng dịch vụ hàng hoá công cộng gây ngoại ứng tích cực
đối với việc phát triển đô thị nói chung, giá cả thị trường ở đây không phản ánh
tát cả các chi phí đối với xã hội cũng như lợi ích thu được của sản xuất. Bởi vậy,
trên quan điểm thị trường sẽ xuất hiện những trục trặc nhất định, đặc biệt là sự
mất cân đối giữa cung và cầu, nằm ngoài khả năng tự điều chỉnh của nó. Rõ ràng
Nhà nước phải có những chính sách điều tiết cần thiết.
- Đầu tư cho VTHKCC trong các đô thị được xem như là một trong những
chỉ tiêu quan trọng vào lĩnh vực phúc lợi công cộng để đảm bảo sự công bằng xã
hội và đạt hiệu quả cao vì nó tác động trực tiếp đến đời sống và sinh hoạt hàng
ngày của người dân đô thị.
Hiện nay, các loại phương tiện thường được sử dụng trong hệ thống
VTHKCC trong đô thị bao gồm: tàu điện ngầm, tàu điện bánh sắt, tàu điện bánh
hơi, tàu điện một ray, tàu điện trên cao, xe buýt, ô tô điện…
Vận tải đường sắt: trong các thành phố lớn vận tải đường sắt coi
như là một hình thức vận tải đô thị. Khả năng thông qua của vận tải đường sắt rất
lớn (khoảng 45 – 65 nghìn hành khách một hướng). Cùng với sự mở rộng quy mô
thành phố, các ga đường sắt ở khu vực thành phố cũng tăng lên. Độ dài của các
tuyến vận tải hành khách nội đô đã đạt từ 10 – 15 km và có xu hướng ngày càng
tăng.
Mạng lưới đường sắt nội đô phát triển ở những nơi chưa có tàu điện ngầm
tạo điều kiện thuận lợi cho hành khách thực hiện chuyến đi hoặc tiếp chuyển giữa
các hình thức vận tải khác nhau.
Xe điện bánh hơi: được vận hành trên đường phố như xe buýt song
nguồn động lực dùng năng lượng điện phải có hệ thống 2 đường dây dẫn để
truyền dẫn điện và các các trạm biến thế. Do vậy nên tính cơ động của chúng bị
hạn chế và yêu cầu chất lượng mặt đường phải đảm bảo và độ dốc không quá 8%. 21
Khả năng vận chuyển của xe điện bánh hơi khoảng 4.800 hành khách/ giờ,
nó có ưu điểm là ít gây tiếng ồn và ô nhiễm môi trường. Xe điện bánh hơi thường
được sử dụng ở những tuyến có luồng hành khách không lớn và mặt đường rộng.
Ô tô buýt: là loại phương tiện hành khách được sử dụng phổ biến
nhất hiện nay. Xe buýt đầu tiên được đưa vào khai thác ở London (Anh) vào năm
1900.
Ưu điểm nổi bật của xe buýt là:
- Có tính cơ động cao, không phụ thuộc vào mạng dây dẫn hay đường ray,
dễ hòa nhập vào hệ thống giao thông đường bộ trong thành phố.
- Khai thác và điều hành đơn giản, có thể nhanh chóng điều chỉnh tuyến,
chuyến lượt, thay xe trong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng đến hoạt động
vận chyển hành khách.
- Hoạt động có hiệu quả đối với dòng hành khách có công suất nhỏ và
trung bình, đối với các luồng hành khách có hệ số biến động cao về thời gian và
Từ 250 – 500
Xe đạp, xe máy, ô tô buýt, taxi, xe điện bánh hơi và tàu
điện.
4
Từ 500 – 1.000
Xe đạp, xe máy, ô tô buýt, taxi, xe điện bánh hơi, tàu điện
và một vài loại hình giao thông ngoài mặt đường phố.
5
> 1.000
Giao thông ngoài mặt đường (tàu điện ngầm, xe điện trên
cao…) kết hợp với các phương tiện giao thông đường phố
như trên.
Tàu điện 1 ray: là loại PTVT hiện đại (lần đầu tiên được sử dụng ở
thành phố Vuppeptal của Đức vào năm 1901 với chiều dài tuyến 13 km). Tàu
điện 1 ray có tốc độ cao (bình quân có thể đạt 60 km/h) và khả năng chuyên chở
lớn (gần 25.000 hành khách/h). Nó có ưu diểm là diện tích chiếm dụng khoảng
không ít. Loại này thường được sử dụng nhiều ở các nước phát triển và ngày
càng được hoàn thiện. Gần đây người ta đã nghiên cứu để đưa vào sử dụng tàu
điện 1 ray trên đệm từ hoặc đệm không khí và có thể đạt tốc độ 500 km/h. Ngoài
việc sử dụng tàu điện 1 ray trong thành phố, nó còn được sử dụng vận tải hành
khách liên tỉnh.
Tàu điện chạy trên cao: có dạng tương tự như tàu điện ngầm nhưng
hoạt động trên tuyến đường chuyên dụng ở trên cao. Đây là phương tiện vận tải
hiện đại và rất phát triển. 23
Táu điện trên cao có khả năng chuyên chở 25.000 – 30.000 hành khách/giờ
và đạt tốc độ 30 – 40 km/h. Cũng như tàu điện ngầm, tàu điện trên cao không
giao cắt với đường phố, tiết kiệm quỹ đất, đặc biệt là khi không có khả năng mở