ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
ĐÀO TRỌNG NGHĨA THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
ĐẶT RA ĐỐI VỚI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC KINH TẾ
HÀ NỘI - 2002
năm qua.
1.2.3. Xu hướng phát triển thương mại điện tử trong những năm tới.
1.2.3.1. Thƣơng mại điện tử phát triển nhanh, tuy với quy mô
chƣa lớn.
1.2.3.2. Các nhân tố quyết định sự phát triển của thƣơng mại
điện tử sẽ từng bƣớc đƣợc tạo lập.
1.2.3.3. Mở rộng ứng dụng thƣơng mại điện tử trong nhiều lĩnh
vực.
1.2.3.4. Thƣơng mại điện tử giữa các doanh nghiệp (B2B)
chiếm tỷ trọng chủ yếu trong thƣơng mại điện tử.
1.2.3.5. Sự kết hợp giữa kinh doanh trực tuyến và kinh doanh
truyền thống.
1.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển thương mại điện tử.
1.3.1. Tình hình phát triển công nghệ thông tin nói chung và
thương mại điện tử nói riêng tại Trung Quốc những năm gần
đây.
1.3.2. Vai trò của Chính phủ Trung Quốc.
1.3.3. Những trở ngại đối với sự phát triển thương mại điện tử ở
Trung Quốc hiện nay.
1.3.3.1. Chi phí truy cập Internet cao.
1.3.3.2. Hệ thống thẻ tín dụng quốc gia kém phát triển.
1.3.3.3. Việc giao vận hàng hóa chậm và không đảm bảo.
1.3.3.4. An toàn mạng thông tin còn yếu kém.
1.3.3.5. Chƣa xây dựng và củng cố đƣợc lòng tin của xã hội đối
với thƣơng mại điện tử.
1.3.3.6. Thiếu nguồn nhân lực và các công nghệ chủ chốt.
1.3.3.7. Sự cản trở do việc hạn chế nội dung dịch vụ Internet.
- iii -
CHƢƠNG 2
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT
3.1.1. Sự phát triển thương mại điện tử cần tuân thủ cơ chế thị
trường cùng với sự tác động tích cực của Nhà nước.
3.1.2. Phát triển thương mại điện tử dựa trên sự mở rộng hợp tác
quốc tế và cần phù hợp với tiến trình hội nhập khu vực và
quốc tế.
3.1.3. Chiến lược phát triển TMĐT cần phù hợp và kết hợp chặt chẽ
với những nội dung của Chiến lược phát triển kinh tế - xã
hội.
3.2. Kiến nghị một số giải pháp nhằm đẩy mạnh sự phát triển thương
mại điện tử ở Việt Nam.
3.2.1. Phát triển hạ tầng công nghệ thông tin.
3.2.2. Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao
năng lực nhận thức của toàn xã hội về thương mại điện tử.
3.2.3. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý.
3.2.4. Hoàn thiện môi trường kinh tế.
3.2.5. Phát triển các hình thức thanh toán điện tử.
3.2.6. Xây dựng hệ thống đảm bảo an toàn và bảo mật.
3.2.7. Khắc phục những hạn chế, những tác động tiêu cực nảy sinh
trong quá trình ứng dụng và phát triển thương mại điện tử ở
Việt Nam.
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 1 -
Mở đầu
1. Sự cần thiết của đề tài.
Thành tựu to lớn của CNTT trong những thập kỷ qua đã tạo ra nhiều
Vì vậy, “Thương mại điện tử và những vấn đề đặt ra đối với Việt
Nam” là một đề tài nghiên cứu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, góp phần
tìm hiểu một số vấn đề có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển thƣơng
mại điện tử ở Việt Nam.
2. Tình hình nghiên cứu.
Thƣơng mại điện tử đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tổ
chức quốc tế, nhƣ: Liên hợp quốc (UN), Tổ chức hợp tác và phát triển kinh
tế (OECD), Tổ chức thƣơng mại thế giới (WTO), Ngân hàng Thế giới
(WB), Trên thế giới, đông đảo các nhà nghiên cứu, các viện nghiên cứu,
các trƣờng đại học rất chú ý quan tâm tới thƣơng mại điện tử. Nhiều quốc
gia đã thành lập các cơ quan chuyên nghiên cứu về thƣơng mại điện tử.
Trên thế giới hiện có một số tạp chí và Web site chuyên khảo về thƣơng
mại điện tử. Trong vài năm gần đây, nhiều diễn đàn, hội nghị, hội thảo
quốc tế về thƣơng mại điện tử liên tục đƣợc tổ chức.
Ở Việt Nam, thƣơng mại điện tử đã và đang đƣợc quan tâm nghiên
cứu. Đảng và Nhà nƣớc đã xác định đƣờng lối, chủ trƣơng từng bƣớc ứng
dụng và phát triển thƣơng mại điện tử. Hiện nay, thƣơng mại điện tử cũng
thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành nhƣ bƣu chính viễn thông,
thƣơng mại, , nhiều tổ chức Phòng Thƣơng mại và Công nghiệp Việt
Nam, Hội Tin học Việt Nam, Bộ Thƣơng mại cũng đã thành lập Ban chỉ
đạo ứng dụng và phát triển thƣơng mại điện tử do Thứ trƣởng Lê Danh
Vĩnh làm Trƣởng ban. Bộ Thƣơng mại cũng đang triển khai dự án nghiên
cứu ứng dụng và phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam. Nhiều hội nghị,
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 3 -
hội thảo về thƣơng mại điện tử đã đƣợc tổ chức. Thƣơng mại điện tử đã
đƣợc đề cập khá nhiều trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng nhƣ truyền
hình, báo chí.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về thƣơng mại điện tử ở Việt Nam mới
chỉ mang tính tiếp cận ban đầu, hoặc mới chỉ đề cập tới một vài khía cạnh
lực lƣợng sản xuất và quan hệ sản xuất trong xu thế "số hóa". Dựa trên cơ
sở đó, phân tích môi trƣờng vĩ mô và những vấn đề đặt ra đối với sự phát
triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam. Từ đó, bƣớc đầu xác định, đề xuất
một số kiến nghị nhằm thúc đẩy sự phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt
Nam.
Do giới hạn về khuôn khổ của bản luận văn cao học, về kinh nghiệm
quốc tế, bài viết chỉ nghiên cứu sự phát triển TMĐT ở một nƣớc cụ thể là
Trung Quốc - một nƣớc có nhiều điểm tƣơng đồng với Việt Nam
5. Phƣơng pháp nghiên cứu.
Để thực hiện đề tài, tác giả ứng dụng đồng thời và hài hòa những
phƣơng pháp nghiên cứu chủ đạo trong kinh tế chính trị nhƣ:
- Phƣơng pháp duy vật biện chứng.
- Phƣơng pháp duy vật.
Trong đó, chú trọng sử dụng các phƣơng pháp nhƣ:
+ Phƣơng pháp trừu tƣợng hóa.
+ Phƣơng pháp thống kê.
+ Phƣơng pháp so sánh.
+ Phƣơng pháp phân tích, tổng hợp.
6. Dự kiến những đóng góp mới của đề tài:
- Hệ thống hóa dƣới góc độ lý thuyết những vấn đề cơ bản về thƣơng
mại điện tử.
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 5 -
- Phân tích, đánh giá quá trình hình thành và phát triển thƣơng mại
điện tử trên phạm vi quốc tế và Việt Nam, chỉ ra các nhân tố và điều kiện
cần thiết cho sự phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam. Từ đó, bƣớc đầu
xác định những vấn đề đặt ra đối với sự phát triển TMĐT ở Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm tạo lập cơ sở cho sự tiếp cận và từng
bƣớc phát triển thƣơng mại điện tử ở Việt Nam.
7. Bố cục của luận văn:
mại (bao gồm nhiều lĩnh vực hay chỉ bó hẹp trong một số lĩnh vực).
Một số định nghĩa xác định nội dung hoạt động là các hoạt động
thƣơng mại và phƣơng tiện thực hiện là các phƣơng tiện điện tử hay các
mạng viễn thông nói chung. "Thương mại điện tử, định nghĩa một cách đơn
giản, là những giao dịch thương mại trong lĩnh vực dịch vụ bằng các
phương tiện điện tử”. (Transatlantic Business Dialogue Electronic
Commerce White Paper, 1997) [28]. “Thương mại điện tử gồm tất cả các
hình thức giao dịch thương mại, với chủ thể tham gia gồm cả các tổ chức
và các cá nhân, dựa trên sự xử lý và truyền các dữ liệu số hóa, bao gồm
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 7 -
văn bản, âm thanh, hình ảnh” (OECD, 1997) [30]. “Thương mại điện tử là
sự tiến hành các hoạt động thương mại, mà các hoạt động đó dẫn tới sự
trao đổi giá trị thông qua các mạng viễn thông” (European Information
Technology Obervatory 1997) [24]. "Thương mại điện tử là việc sử dụng
công nghệ có liên quan đến Internet để cải tiến và chuyển hỡnh thỏi của
cỏc hoạt động kinh doanh quan trọng. Thương mại điện tử là bất kỳ hoạt
động nào có thể nối các hệ thống kinh doanh trực tiếp tới khách hàng,
nhân viên, người bán hàng và các nhà cung cấp thông qua các mạng nhỏ
(nội bộ bên trong và bên ngoài) và trên mạng toàn thế giới"[1].
Một số định nghĩa xác định phƣơng tiện thực hiện hẹp hơn, chỉ bao
gồm Internet. “Thương mại điện tử là thuật ngữ dùng để chỉ mua bán hàng
hóa và các dịch vụ trên mạng Internet, đặc biệt là qua dịch vụ World Wide
Web”[21, 334]. Việc giới hạn hẹp phƣơng tiện hoạt động chỉ qua Internet
có ƣu điểm là xác định cụ thể phƣơng tiện thực hiện, thuận lợi cho việc
đánh giá, đo lƣờng nhƣng không bao quát đƣợc toàn bộ môi trƣờng hoạt
động TMĐT, nhất là trong xu thế hiện nay CNTT dang phát triển không
ngừng, các phƣơng tiện thực hiện TMĐT ngày càng mở rộng và phát triển.
Theo UNCTAD, rất nhiều định nghĩa về TMĐT chủ yếu dựa trên
những kinh nghiệm thực tế và thƣờng không đánh giá hết sự quan trọng
thể xác định rằng nếu tối thiểu 2 trong 3 công đoạn cuối cùng của mô hình
trên (ký kết hợp đồng, giao nhận và thanh toán) đƣợc thực hiện qua Internet
thì đó là một giao dịch TMĐT.
Định nghĩa trên phương diện quốc gia:
Thay vì chú trọng tới các bƣớc của một giao dịch TMĐT, định nghĩa
TMĐT theo chiều dọc nhấn mạnh tới vai trò của các đối tƣợng tham dự
khác nhau trong TMĐT (ví dụ nhƣ: chính phủ, các thể chế luật pháp, các
doanh nghiệp ). Hiểu theo cách thông thƣờng, định nghĩa này rất gần với
những quan tâm của chính phủ trong việc đƣa ra những sự lựa chọn mang
tính chiến lƣợc để tạo môi trƣờng thích hợp cho sự phát triển TMĐT.
Mô hình thứ hai (mô hình IMBSA) có thể đƣợc diễn tả theo cách
thức sau:
1. I viết tắt của hạ tầng (Infrastructure) - điều kiện đầu tiên cho sự
phát triển TMĐT và sử dụng Internet là hạ tầng viễn thông - lớp đầu tiên
của mô hình này.
2. M viết tắt của thƣ tín (Messages) - Một trong những điều kiện cần
thiết đầu tiên là phát triển các công cụ nhằm tiêu chuẩn hóa và làm tƣơng
thích các thƣ tín điện tử - những thứ sẽ đƣợc trao đổi trong quá trình giao
dịch TMĐT. Mặc dù về cơ bản thƣ tín mang một “chức năng quốc tế” (thƣ
tín cần đƣợc trao đổi trên phạm vi toàn cầu) nhƣng chính phủ đóng vai trò
quan trọng trong việc chấp thuận và phổ biến.
3. B là các cơ sở pháp lý căn bản (Basic Rules) - những đạo luật cơ
bản và mang tính quốc tế, bao gồm những lĩnh vực liên quan tới TMĐT. Ví
dụ nhƣ luật thƣơng mại (WTO), luật sở hữu trí tuệ (WIPO), cũng nhƣ các
qui định liên quan đến việc trao đổi thƣ tín điện tử,
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 10 -
4. S là các cơ sở pháp lý trong từng lĩnh vực (Sectoral Rules). Các
hoạt động trong mỗi lĩnh vực liên quan tới giao dịch TMĐT (nhƣ các hoạt
động thuộc ngân hàng, các mặt hàng cụ thể có thể mua bán qua mạng thông
phát triển vƣợt bậc của công nghệ thông tin và mạng Internet.
- Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trƣờng và sự phát triển không
ngừng của công nghệ thông tin, TMĐT ngày càng đƣợc ứng dụng trong
nhiều lĩnh vực và ngày càng phát triển các hình thức TMĐT mới.
- Hoạt động thƣơng mại điện tử thu hút sự tham gia của mọi đối
tƣợng xã hội, đặc biệt cần có sự phối hợp và thống nhất trên phạm vi quốc
tế.
1.1.2. Các loại hình hoạt động chủ yếu trong thƣơng mại điện tử.
- Thương mại điện tử giữa các doanh nghiệp (B2B)
Thƣơng mại điện tử giữa các doanh nghiệp (Business to Business -
B2B) là loại hình hoạt động thƣơng mại điện tử giữa các doanh nghiệp. Đặc
trƣng quan trọng của loại hình hoạt động này là các hàng hóa, dịch vụ trong
giao dịch sẽ đƣợc sử dụng làm đầu vào để sản xuất các hàng hóa, dịch vụ
khác.
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 12 -
B2B thƣờng bao gồm các hoạt động giao dịch thƣơng mại, trao đổi
dữ liệu điện tử (EDI), giao gửi số hóa các dung liệu
- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C)
B2C là loại hình hoạt động TMĐT giữa doanh nghiệp với ngƣời tiêu
dùng. Đặc trƣng quan trọng của loại hình hoạt động này là các hàng hóa,
dịch vụ trong giao dịch sẽ đƣợc sử dụng để phục vụ các nhu cầu của ngƣời
tiêu dùng.
Một trong những hoạt động chính của loại hình B2C là bán lẻ các sản
phẩm, dịch vụ (hữu hình và vô hình).
- Thương mại điện tử giữa doanh nghiệp và chính phủ (B2G)
Trên mạng thông tin quốc tế Internet, B2G (Business-to-Government)
là thuật ngữ chung chỉ việc các cơ quan của chính phủ và doanh nghiệp có
thể sử dụng các Web site trung ƣơng để trao đổi thông tin và làm việc với
nhau có hiệu quả hơn. Chẳng hạn, các Web site của chính phủ có thể cung
v.v.) và chi phí dịch vụ truyền thông (phí điện thoại, phí nối mạng và truy
cập mạng) phải đủ rẻ để đông đảo ngƣời sử dụng có thể tiếp cận đƣợc. éiều
này cú ý nghĩa đặc biệt to lớn đối với các nƣớc đang phát triển, mức sống
nói chung cũn thấp.
Cũng cần lƣu ý rằng hạ tầng cơ sở công nghệ thông tin chỉ có thể có
và hoạt động đáng tin cậy trên nền tảng một nền công nghiệp điện năng
vững chắc, đảm bảo cung cấp điện năng đầy đủ, ổn định, và với mức giá
hợp lý.
Thiết lập và củng cố đƣợc một hạ tầng công nghệ trên nền tảng công
nghiệp điện năng nhƣ vậy đũi hỏi thời gian, hơn nữa phải đầu tƣ rất lớn.
Đây là điều đặc biệt khó khăn đối với các nƣớc đang phát triển.
1.1.3.2. Nguồn lực con người.
Thƣơng mại trong khái niệm "thƣơng mại điện tử" liên quan tới mọi
ngƣời, từ ngƣời tiêu thụ tới ngƣời sản xuất phân phối, tới các cơ quan chính
phủ, tới cả các nhà công nghệ và phát triển.
Áp dụng thƣơng mại điện tử tất yếu làm nảy sinh hai yêu cầu: một là
mọi ngƣời đều cần quen thuộc và có khả năng thành thạo hoạt động trên
Internet, hai là có một đội ngũ chuyên gia tin học nhanh, thƣờng xuyên bắt
kịp các công nghệ thông tin mới phát triển ra để phục vụ cho kinh tế số hoá
nói chung và thƣơng mại điện tử nói riêng, cũng nhƣ có khả năng thiết kế
các công cụ phần mềm đáp ứng đƣợc nhu cầu hoạt động của một nền kinh
tế số hoá, tránh bị động lệ thuộc hoàn toàn vào nƣớc khác.
Ngoài ra, nếu sử dụng Internet/Web, thỡ một yờn cầu tự nhiờn nữa
của kinh doanh trực tuyến là tất cả những ngƣời tham gia đều phải thành
thạo Anh ngữ, vỡ tới nay (và cú lẽ cũn tới một thời điểm rất xa nữa) ngôn
ngữ chủ yếu sử dụng trong thƣơng mại nói chung và thƣơng mại điện tử qua
mạng Internet nói riêng vẫn là tiếng Anh. Đây cũng sẽ là một khó khăn
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 15 -
không nhỏ đối với các nƣớc đang phát triển nhƣ Việt Nam. Yêu cầu này của
mà pháp luật yêu cầu, ví dụ nhƣ: hợp đồng viết, công chứng, đăng ký Các
hợp đồng đƣợc giao kết qua các phƣơng tiện thông tin điện tử cũng phải đ-
ƣợc công nhận về mặt giá trị pháp lý.
- Cần có cơ sở pháp lý để giải quyết tranh chấp, trách nhiệm của bên
thứ ba trong giao dịch (nhà cung cấp dịch vụ Internet, dịch vụ kết nối, dịch
vụ chứng thực, xác nhận ). Các nhà cung cấp dịch vụ mạng, các cơ quan
chứng thực (bên thứ ba) đóng vai trò quan trọng trong sự thành công của
một giao dịch TMĐT vì họ chính là ngƣời chuyển đi hoặc lƣu giữ các
thông tin, các tệp dữ liệu, đồng thời họ có thể cấp các chứng thực xác nhận
độ tin cậy và chính xác của ngƣời gửi cũng nhƣ của dữ liệu. Vì vậy, trách
nhiệm và quyền hạn đối với các thông tin chuyển đi và lƣu giữ của các nhà
cung cấp dịch vụ cũng phải đƣợc quy định trong khuôn khổ pháp lý của
TMĐT.
- Bảo vệ pháp lý các thanh toán điện tử (bao gồm cả việc pháp chế
hoá các cơ quan phát hành các thẻ thanh toán).
- Quy định pháp lý đối với các dữ liệu có xuất xứ từ Nhà nƣớc, nhằm
vừa có thể đảm bảo tính công khai hóa, vừa đảm bảo bảo mật.
- Bảo vệ phỏp lý đối với sở hữu trí tuệ (bao gồm cả bản quyền tác
giả) liên quan đến mọi hỡnh thức giao dịch điện tử. Càng ngày, giỏ trị sản
phẩm càng cao ở khớa cạnh "chất xỏm" của nú mà khụng phải là bản thõn
nú. Vỡ lẽ đó, nổi lên vấn đề bảo vệ sở hữu trí tuệ và bản quyền của cỏc
thụng tin trờn Web (cỏc hỡnh thức quảng cỏo, cỏc nhón hiệu thƣơng mại,
các cơ sở dữ liệu, các dung liệu truyền gửi qua mạng v.v.) và hệ thống pháp
luật điều chỉnh các mối quan hệ về sở hữu trí tuệ sẽ phải đƣợc điều chỉnh.
- Thông tin riêng về cá nhân, về doanh nghiệp phải được đảm bảo bí
mật. Khi thực hiện các giao dịch trên mạng, các chủ thể tham gia giao dịch
thƣờng đƣợc yêu cầu phải khai báo các thông tin về cá nhân, do đặc điểm
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 17 -
của loại giao dịch này là các chủ thể thƣờng không biết nhau trƣớc đó. Các
khó khăn to lớn về luật áp dụng để điều chỉnh hợp đồng, về thanh toán và
đặc biệt là về thu thuế.
Việc thu thuế và quản lý xuất nhập khẩu là một thách thức lớn đối với
các quốc gia tham gia vào giao dịch TMĐT. Tranh chấp là điều không thể
tránh khỏi, mà toà án và các phƣơng thức giải quyết tranh chấp truyền
thống khác sẽ không còn hoàn toàn thích hợp và hữu hiệu cho việc giải
quyết các tranh chấp, vi phạm liên quan tới các giao dịch điện tử, bởi
TMĐT mang tính không biên giới về mặt địa lý và đa dạng về chủ thể và
hình thức giao dịch. Vấn đề cũn khú khăn hơn nữa là đánh thuế các dung
liệu tức là các hàng hoá "phi vật thể" (nhƣ âm nhạc, chƣơng trỡnh truyền
hỡnh, chƣơng trỡnh phần mềm v.v giao trực tiếp giữa cỏc đối tác thông
qua mạng).
Tất cả những vấn đề ấy đũi hỏi phải cú cỏc nỗ lực tập thể nhằm đạt
tới cỏc thoả thuận quốc tế làm nền tảng pháp lý cho sự phát triển TMĐT.
1.1.3.4. Môi trường kinh tế.
Khác với các nhân tố khác, môi trƣờng kinh tế là một nhân tố phổ quát
đối với sự hình thành và phát triển TMĐT. Thực chất, TMĐT cũng là một
lĩnh vực hoạt động trong nền kinh tế thị trƣờng, cho nên sự phát triển TMĐT
phụ thuộc rất nhiều vào sự hoàn thiện của thể chế kinh tế, cơ chế kinh tế, phụ
thuộc vào hiệu quả của các chính sách kinh tế vĩ mô và sự hoàn thiện các
yếu tố thị trƣờng khác. Đặc biệt, hoạt động TMĐT liên quan đến nhiều lĩnh
vực kinh tế - pháp luật - khoa học công nghệ, nên những biến động trên
các lĩnh vực đó cũng sẽ ảnh hƣởng trực tiếp tới sự phát triển TMĐT.
Cũng giống nhƣ thƣơng mại truyền thống, TMĐT cũng có mối quan
hệ mật thiết với sự phát triển của các ngành khác, nằm trong một thể thống
nhất hữu cơ của toàn bộ nền kinh tế. Các ngành sản xuất hàng hóa, dịch vụ
cung cấp sản phẩm thƣơng mại cho TMĐT, còn nếu nhƣ TMĐT phát triển
cũng sẽ kích thích sự phát triển của các ngành khác. Trong mối quan hệ
Chương 1: Thương mại điện tử - cơ sở lý luận và thực tiễn
- 19 -
EAN International (European Article Numbering International) và Uniform
Code Council, thể hiện dƣới dạng các vạch, gọi là mó vạch (bar-code) theo
đó tất cả các sản phẩm hàng hoá và dịch vụ đều đƣợc mó hoỏ bằng một số
13 con số, và tất cả cỏc cụng ty đều có địa chỉ của mỡnh bằng một mó cú từ
100 đến 100.000 con số. Việc hội nhập vào và thiết lập toàn bộ hệ thống
mó sản phẩm và mó cụng ty (gọi chung là mó hoỏ thƣơng mại: commercial
coding) cho một nền kinh tế, đặc biệt là nền kinh tế của nƣớc đang phát
triển, nói chung cũng không đơn giản.
1.1.3.6. An toàn và bảo mật.
Giao dịch thƣơng mại bằng phƣơng tiện điện tử đặt ra đũi hỏi rất cao
về bảo mật và an toàn, nhất là khi hoạt động trên Internet/Web. Bảo mật
điện tử là một nhân tố tối quan trọng cho sự phát triển của TMĐT. Tuy
nhiên, đây cũng là một đề tài nhức nhối vì mọi vấn đề bao giờ cũng có mặt
trái, và mặt trái của Internet là đã tạo ra một môi trƣờng trú ngụ cho các tin
tặc đang sở hữu những công cụ tự động hoá ngày càng phức tạp và hiệu
quả phá hoại rất lớn.
Khi thực hiện các giao dịch TMĐT, các chủ thể tham gia giao dịch th-
ƣờng đƣợc yêu cầu phải khai báo các thông tin về cá nhân. Các thông tin này
rất dễ bị một bên thứ ba lấy để sử dụng cho các mục đích khác mà không đ-
ƣợc phép của ngƣời có thông tin liên quan. Do vậy, thông tin riêng về cá
nhân, về doanh nghiệp phải đƣợc đảm bảo bí mật. Việc tin tặc tấn công vào
các website thƣơng mại đã trở nên thƣờng xuyên và có xu hƣớng liên tục gia
tăng đến mức chúng đã trở thành "cơn ác mộng" đối với các doanh nghiệp
kinh doanh trên mạng và với bất cứ quốc gia nào. Mỗi khi tiến hành giao
dịch trên mạng, ngƣời ta không khỏi phấp phỏng lo âu bởi những tai mắt
dỡnh dập của nhóm các tin tặc “xuyên quốc gia". Các nhà cung cấp dịch vụ
Internet, cũng nhƣ các công ty mua bán hàng hóa, dịch vụ trên mạng, phải
thuyết phục khách hàng của mỡnh bằng sự đảm bảo an toàn cần thiết đối với