ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ TRẦN THỊ HIỀN HÀ Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam
luËn v¨n th¹c sÜ KINH TẾ
Hµ néi - 2006
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT BCN
BỘ CÔNG NGHIỆP
BKHCN&MT
Bộ khoa học công nghệ và môi trƣờng
BNN
BỘ NÔNG NGHIỆP
BTNMT
Bộ tài nguyên và môi trƣờng
BXD
BỘ XÂY DỰNG
BYT
Bộ y tế
CIDA
CƠ QUAN PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ
CANADA
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
GTCC
VIỆT NAM
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ 4
1.1 Những khái niệm cơ bản 4
1.1.1 Khái niệm chất thải 4
1.1.2 Phân loại chất thải rắn đô thị 5
1.1.3 Khái quát về đô thị hóa ở Việt Nam 6
1.2 Các vấn đề cơ bản của quản lý nhà nƣớc về chất thải rắn đô thị
8
1.2.1 Định nghĩa quản lý nhà nƣớc
8
1.2.2 Bản chất của quản lý nhà nƣớc 8
1.2.3 Nội dung hoạt động của công tác quản lý nhà nƣớc về
chất thải rắn đô thị 10
1.2.4 Các công cụ quản lý nhà nƣớc về chất thải rắn đô thị 17
1.3 Kinh nghiệm của các nƣớc trong khu vực và trên thế giới 30
1.3.1 Kinh nghiệm quản lý chất thải rắn đô thị ở các nƣớc phát triển 30
1.3.2 Kinh nghiệm của các nƣớc Đông Nam Á 33
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
CHẤT THẢI RẮN ĐÔ THỊ Ở VIỆT NAM 35
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Trong thời đại hiện nay, nền kinh tế thế giới đang có xu hướng toàn cầu hóa, sự
trỗi dậy của các quốc gia đang phát triển đã góp phần thúc đẩy và gia tăng mạnh mẽ
nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, kéo theo sự phát triển đó là môi trường quốc gia và
quốc tế ngày càng bị hủy hoại nghiêm trọng. Đặc trưng của việc môi trường bị hủy
hoại là các loại chất thải công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt ngày càng nhiều, các
nguồn nước phục vụ sinh hoạt và sản xuất công nghiệp, nông nghiệp ngày càng bị
thiếu và nhiễm bẩn do các chất thải gây nên. Hậu quả làm ô nhiễm môi trường trầm
trọng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của cộng đồng.
Ở nước ta, quá trình công nghiệp hoá, đô thị hóa đang diễn ra hết sức khẩn
trương, bộ mặt xã hội đã có những bước biến đổi tích cực. Tuy nhiên với sự phát triển
đó, tình trạng xuống cấp về môi trường đang ngày càng một rõ nét đặc biệt ở các đô thị
lớn. Môi trường hầu như ngày càng xấu đi rất nhanh, trở thành nguy cơ đe doạ cuộc
sống của người dân, bộ mặt văn minh của các đô thị. Vì vậy trong chiến lược phát triển
kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, vấn đề bảo vệ môi trường và quản lý các chất thải,
đặc biệt là chất thải rắn đô thị theo hướng phát triển bền vững là vấn đề hết sức cần
thiết.
Cùng với nhịp độ tăng trưởng kinh tế cao, quá trình đô thị hoá đã làm cho mức
độ tăng dân số cũng như chất thải sản xuất và sinh hoạt ở các đô thị tăng nhanh. Chiến
lược quản lý chất thải rắn đô thị Việt Nam đến năm 2020 đã được Chính phủ thông qua
năm 1999 với mục tiêu từng bước hình thành một hệ thống đồng bộ về công tác quản
lý nhà nước về chất thải rắn nhằm kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường đảm bảo phát
triển bền vững. Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị được coi là một nhân tố quan
trọng trong quản lý nền kinh tế. Với ý nghĩa như vậy tôi chọn đề tài nghiên cứu cho
luận văn tốt nghiệp khoá học: "Quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam”. 2
- Nghiên cứu kinh nghiệm đầu tư công nghệ kiểm soát chất thải rắn đô thị ở các
nước trên thế giới và trong khu vực. Rút ra các quy luật khách quan ảnh hưởng đến vấn
đề đầu tư này.
- Đề xuất những biện pháp: chính sách xã hội hóa, chính sách tài chính, chính
sách khuyến khích công nghệ trong hệ thống các biện pháp quản lý nhà nước đối với
chất thải rắn đô thị ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Các hoạt động của Nhà nước về quản lý chất thải rắn đô thị cho một số khu
vực.
- Phạm vi nghiên cứu: Chất thải rắn đô thị trong khoảng thời gian 10 năm gần
đây.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn vận dụng phương pháp duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử làm phương pháp cơ bản, kết hợp với phương pháp phân tích - thống
kê, so sánh - tổng hợp, suy luận lôgic – lịch sử để làm rõ vấn đề nghiên cứu.
6. Những đóng góp của luận văn
- Hệ thống hóa về mặt lý thuyết đối với việc quản lý chất thải rắn đô thị, từ đó
làm rõ hơn một số lý luận về hoạt động của Nhà nước về quản lý chất thải rắn đô thị.
- Phân tích thực trạng hoạt động quản lý Nhà nước về chất thải rắn đô thị từ đó
đưa ra những kinh nghiệm quản lý đối với chất thải rắn đô thị trong thời kỳ hiện nay.
- Đề xuất một số định hướng và biện pháp cụ thể trong quản lý Nhà nước đối
với chất thải rắn đô thị.
7. Bố cục của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị.
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị.
Chương 3: Định hướng và giải pháp trong quản lý nhà nước về chất thải rắn đô thị.
5
Chất thải rắn nguy hại hiện nay tập trung chủ yếu ở các đô thị. Tuy dân đô thị
của ta mới chiếm 24% dân số nhưng lượng chất thải ở đô thị chiếm trên 50% chất thải
sinh hoạt của cả nước. Chất thải ở các vùng đô thị thường có tỉ lệ các thành phần nguy
hại lớn như các loại phân, các loại dung môi sử dụng trong gia đình, công sở…đấy
chưa kể ở đô thị đang xuất hiện nhiều loại chất thải khó phân huỷ như nhựa, kim loại,
thuỷ tinh…
1.1.2. Phân loại chất thải rắn đô thị
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà chất thải được phân loại theo các tiêu chí
khác nhau. Theo thuộc tính vật lý chất thải đô thị có thể phân ra: chất thải rắn, lỏng,
khí. Theo nguồn gốc phát sinh chất thải đô thị có thể phân ra: chất thải sinh hoạt, chất
thải công nghiệp ở đô thị, chất thải có nguồn gốc khác trong các lĩnh vực như y tế.
Đối với vấn đề quản lý, kiểm soát và xử lý chất thải ở đô thị có hiệu quả cần
phân tích nguồn gốc phát sinh của chất thải rắn. Chất thải rắn được phân theo các lĩnh
vực kinh tế để thấy rõ nguồn gốc là cơ sở hoạch định chính sách quản lý của Nhà nước
trong các lĩnh vực kinh tế.
1.1.2.1 Chất thải rắn sinh hoạt:
Chất thải rắn sinh hoạt bao gồm các loại chất thải do người tiêu dùng thải ra môi
trường từ các hộ gia đình, hoạt động thương mại, văn phòng, cơ quan, trường học…
Các loại chất thải rắn sinh hoạt này thường gặp như thực phẩm, giấy, cacrton,
plastic, vải, da, thuỷ tinh, lon…
Ở các nước phát triển, chất thải rắn sinh hoạt thường được phân loại ngay tại nơi
phát sinh là hộ gia đình, cơ quan, trường học, …bằng các thùng rác chuyên dùng. Sự
phân loại từ nguồn gốc phát sinh của chất thải rắn sinh hoạt rất thuận tiện cho việc thu
gom, vận chuyển, xử lý chất thải có hiệu quả kinh tế.
1.1.2.2 Chất thải rắn công nghiệp trong đô thị:
Công nghiệp là một ngành sản xuất tạo ra khối lượng vật chất vô cùng lớn cho
xã hội. Đây là một ngành cung cấp hầu hết các tư liệu sản xuất, cơ sở hạ tầng và phần
Vit Nam hin cú 605 ụ th, trong ú cú 3 thnh ph trc thuc Trung ng,
83 thnh ph, th xó thuc tnh v trờn 500 th trn (s liu nm 1999). Cỏc ụ th c
phõn loi nh sau:
- 2 ụ th loi I l H Ni, TP H Chớ Minh cú dõn s ni thnh trờn 1 triu dõn.
- 8 ụ th loi II dõn s ni thnh t 35 vn n di mt triu dõn l Hi Phũng,
Nng, Hu, Nam nh, Vinh, Biờn Ho, Cn Th, Quy Nhn.
- 12 ụ th loi III cú dõn s ni thnh t 10 n 35 vn dõn l H Long, Thỏi
Nguyờn, Vit Trỡ, Buụn Mờ Thut, Nha Trang, Lt.
- 64 ụ th loi IV, gm hu ht l cỏc th xó vi dõn s t 3 n 10 vn dõn.
- 519 đô thị loại V (phần lớn là thị trấn), có dân số từ 4 nghìn đến d-ới 30
nghìn dân.
Bảng 1.1 Sơ đồ Phân loại chất thải
Rỏc thụng thng
(rỏc t c, rỏc
tượng quản lý là các quá trình xã hội, hành vi của cá nhân và tổ chức xã hội; phương
thức quản lý là bằng quyền lực nhà nước và có tổ chức cao; mục tiêu quản lý là duy ttrì
và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và tăng cường quyền lực nhà nước.
1.2.2 Bản chất của quản lý nhà nƣớc:
Quản lý ở góc độ chung nhất, là sự tác động của chủ thế đối với khách thể,
nhằm duy trì tình trạng hiện có của đối tượng hoặc biến đổi đối tượng nhằm đặt được
các mục tiêu do chủ thể xác định.
Quản lý nhà nước có các đặc trưng sau:
- Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức, “tổ chức”được hiểu như là một
khoa học về sự thiết lập những mối quan hệ giữa con người và con người, giữa cá nhân
và tập thể, để thực hiện quá trình quản lý xã hội. Tổ chức là một chức năng quan trọng
trong quản lý nhà nước, không có tổ chức thì không thể quản lý. Vấn đề đặt ra là nhà
nước phải tổ chức như thế nào để mọi công dân đều có thể đóng góp tích cực và chủ
động khả năng của mình cho đất nước.
- Quản lý nhà nước là sự tác động có điều chỉnh, điều chỉnh là sự quy định của
Nhà nước thể hiện bằng pháp luật và các quyết định về nguyên tắc, tiêu chuẩn, biện
pháp… nhằm tạo ra sự cân bằng, cân đối các mặt hoạt động của các quá trình xã hội và
hành vi hoạt động của con người. 9
- Quản lý nhà nước là sự tác động mang tính quyền lực nhà nước, tức là bằng
pháp luật và theo nguyên tắc pháp chế. Quyền lực nhà nước mang tính mệnh lệnh đơn
phương và tính tổ chức rất cao. Pháp luật phải được chấp hành nghiêm chỉnh, mọi
người đều bình đẳng trước pháp luật.
Các chức năng của quản lý nhà nước đối với xã hội là những hoạt động quản lý
đặc biệt, biểu hiện các phương hướng, giai đoạn và lĩnh vực tác động của nhà nước đối
với xã hội.
- Chức năng tổ chức – nhân sự: Tổ chức là sự liên kết của những con người
cùng thực hiện một chương trình, mục tiêu nhất định, theo những nguyên tắc nhất định.
1.2.3. Nội dung hoạt động của công tác quản lý nhà nƣớc về chất thải rắn đô thị.
1.2.3.1 Định hƣớng và chiến lƣợc
Nhu cầu về quản lý chất thải rắn ở Việt Nam là rất lớn nếu xét tương quan với
năng lực hiện có và tốc độ tăng trưởng các đô thị và phát triển công nghiệp.
Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được những tổn thất về kinh tế và xã hội do
quản lý chất thải yếu kém và đang khắcphục vấn đề bằng cách kết hợp các biện pháp
chính sách, tài chính, nâng cao nhận thức và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng.
Trong tiến trình phát triển chung của đất nước, việc giải quyết được những thách thức
này sẽ là chìa khoá để có đạt được các mục tiêu quản lý chất thải an toàn và có tính chi
phí – hiệu quả. Chiến lược quốc gia quản lý chất rắn được thông qua năm 1999 dự báo
nhu cầu đầu tư cho lĩnh vực này sẽ lên đến 30 nghìn tỷ đồng vào năm 2020. Tuy nhiên,
với hiện trạng và chi phí cho hoạt động quản lý chất thải rắn như hiện nay, để có thể
đạt được những mục tiêu của chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia thì trong giai đoạn
2004-2020 sẽ cần một khoản đầu tư tổng cộng nhiều hơn so với dự kiến khoảng 10
nghìn tỷ đồng.
Một trong những nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm môi trường tại các
đô thị là các vấn đề môi trường chưa được quan tâm đúng mức trong quy hoạch xây
dựng đô thị. Ngoài việc quy hoạch sử dụng đất và phân khu chức năng, các vấn đề cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đô thị, như hệ thống thoát nước, thu gom và xử lý rác, xử lý nước 11
thải, giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn,… cần chú ý đúng mức. Mặc dù việc lập báo
cáo đánh giá tác động môi trường cho các đề án quy hoạch đô thị đã được quy định
trong luật bảo vệ môi trường, nhưng công tác triển khai thực hiện cho đến nay vẫn còn
chậm, chưa hiệu quả và chưa chứng tỏ được tầm quan trọng của việc bảo vệ môi
trường trong quy hoạch xây dựng đô thị.
Một nguyên nhân khác dẫn đến việc các đô thị phải chịu sức ép môi trường
ngày càng tăng là việc thiếu các biện pháp hữu hiệu trong chỉ đạo và quản lý quy hoạch
xây dựng cũng như tình trạng xây dựng lộn xộn tại các đô thị lớn.
Như vậy, quy hoạch quản lý chất thải đô thị phải gắn liền với quy hoạch phát
triển kinh tế, xã hội một cách đồng bộ, tuỳ thuộc vào từng đô thị đảm bảo sự phát triển
bền vững trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của từng vùng, từng địa
phương.
1.2.3.2 Hoạt động tài chính
Vấn đề tìm kiếm các nguồn tài chính cho các dịch vụ quản lý chất thải đã và
đang là thách thức đối với cộng đồng và các nhà lập kế hoạch địa phương.
Mối quan hệ giữa Chính phủ, tổ chức dịch vụ môi trường với người sản xuất và
người tiêu dùng trong quản lý chất thải là mối quan hệ hai mặt giữa chi phí và lợi ích,
giữa chi phí và thụ hưởng. Khác với các hàng hoá và dịch vụ thông thường giá cả về
dịch vụ môi trường không hoàn toàn là sự thoả thuận giữa người bán và người mua mà
phần lớn là do sự qui định của Chính phủ qua hệ thống pháp luật.
Do giá cả về dịch vụ môi trường, chất thải không thực hiện theo quan hệ cung,
cầu của thị trường nên Chính phủ đóng vai trò rất quan trọng để cung cấp loại dịch vụ
này. Chính phủ thay mặt nhà nước sử dụng các công cụ kinh tế để thực hiện dịch vụ
môi trường. 13
Tạo lập nguồn vốn để chi hoàn việc sản xuất hàng hoá hay dịch vụ công cộng do
ô nhiễm gây ra. Việc áp dụng công cụ kinh tế về phí ô nhiễm do các hộ gia đình và các
cơ quan chi trả khi sử dụng dịch vụ môi trường là để bồi hoàn một phần chi phí cho
công ty làm sạch chất thải. Ví dụ đơn giản là các hộ gia đình ở thành phố hiện nay đã
có thói quen trả phí dịch vụ vệ sinh quét dọn rác thải cho Công ty môi trường Thành
phố. Sự đóng góp của các hộ gia đình ở đây nhằm mục tiêu bồi hoàn chi phí mà họ
được thụ hưởng từ dịch vụ vệ sinh đường phố.
Bảng 1.2
khuyến khích tuân thủ pháp luật môi trường, hỗ trợ thực hiện các hoạt động khác trong
phạm vi kế hoạch phát triển của nhà nước.
1.2.3.3 Hoạt động đào tạo nguồn nhân lực
- Tổ chức hệ thống tuyên truyền phổ biến trên các phương tiện thông tin đại
chúng để mọi người thực hiện nghiêm chỉnh luật bảo vệ môi trường.
- Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ và kỹ thuật phòng chống
ô nhiễm môi trường và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
- Đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa tại các trường đại học, cao đẳng,
trung học chuyên nghiệp thành các môn học cơ sở về bảo vệ môi trường.
1.2.3.4 Hoạt động khoa học công nghệ
Một số hoạt động hướng tới giảm thiểu chất thải rắn và tận dụng chất thải rắn
sản xuất các loại phân bón phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Thủ tướng Chính phủ đã có những quyết định về chiến lược cho ngành công
nghiệp sản xuất phân bón về đầu tư, chất lượng số lượng để phục vụ nông nghiệp. trên
cơ sở đó tận dụng các chất phế thải rắn để sản xuất phân bón vi sinh. Giải quyết chất
thải rắn đô thị có tiềm ẩn nguy hại là vấn đề bức bách hiện nay đối với các đô thị đặc
biệt là các thành phố lớn. Ở nước ta hiện nay phần lớn chất thải rắn đô thị thuần túy
mới chỉ thu gom và chôn lấp chưa tổ chức xử lý một cách triệt để và tái sử dụng chất
thải. Theo số liệu điều tra tại Hà Nội năm 2004, nếu tính riêng lượng chất thải rắn phát
sinh thì tỷ lệ tăng gấp 4 lần so với năm 1998 vì vậy phải xử lý các cơ sở công nghiệp
gây ô nhiễm trầm trọng. 15
Trong thời gian qua các ngành và các địa phương đã tiến hành đánh giá xác định
các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trầm trọng cần phải xử lý. Chính phủ đã quyết định
đóng cửa nhà máy xi măng Hải Phòng khi xây dựng xong nhà máy Tràng Kênh. Tại Hà
Nội đã di chuyển 1 xí nghiệp và công đoạn gây ô nhiễm trầm trọng của 4 cơ sở sản
xuất nội thành ra khu công nghiệp ngoại thành trên tổng số 12 cơ sở phải di chuyển đợt
đầu. Ở thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện chương trình điều tra ô nhiễm, xác định
Hiện nay ở nước ta hầu hết các đô thị đều chưa có hệ thống thu gom hoàn thiện,
vì vậy hiệu quả thu gom thấp. Ở các đô thị lớn, chất thải ở đường phố được công ty
môi trường đô thị, dịch vụ công cộng hay công ty vệ sinh thu gom vận chuyển tới các
bãi đổ chất thải rắn hoặc các xí nghiệp chế biến chất thải rắn.
Biện pháp xử lý chất thải rắn đô thị ở Việt Nam hiện nay chủ yếu chôn lấp. Hiện
tại một số bãi chôn lấp rác được xây dựng theo tiêu chuẩn bãi chôn lấp hợp vệ sinh.
Phần lớn những bãi rác cũ trước đây là những bãi rác lộ thiên, không có những biện
pháp xử lý môi trường. Mặt khác do quá trình đô thị hoá, một số bãi rác hiện nay nằm
gần khu dân cư do vậy không đảm bảo yêu cầu về bảo vệ sức khoẻ cộng đồng.
Bảng 1.3 Sơ đồ hoạt động môi trƣờng chất thải rắn
Tạo ra một xã hội kinh tế phát triển và bền vững hài hòa với môi trường
Hoạt động kinh tế dạng sản xuất &
tiêu thụ với khối lượng lớn trong thế
kỷ 20
Tiêu hủy nhiều chất thải
Xây dựng & duy trì luật pháp về 3R
(Giảm thiểu, Tái sử dụng &Tái chế)
- Thông tư của bộ khoa học và công nghệ và môi trường số 1817/1999/TT
BKHCNMT ngày 21 tháng 10 năm 1999 hướng dẫn xác nhận các dự án đặc biệt
khuyến khích đầu tư quy định tại khoản 7 mục I phụ lục I nghị định 10/1998/NĐ-CP
của Chính Phủ về một số biện pháp khuyến khích đảm bảo đầu tư trực tiếp nước ngoài
tại Việt Nam liên quan đến bảo vệ môi trường, phục hồi môi trường, tái sử dụng và tái
chế chất thải.
Văn bản quy phạm pháp luật về chất thải rắn và chất thải nguy hại 18
- Nghị định của Chính phủ số 13/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 2 năm 2003 về
việc quy định danh mục hàng nguy hiểm, vận chuyển hàng nguy hiểm bằng đường bộ.
- Chỉ thị số 199/TTg ngày 3 tháng 4 năm 1997 của Thủ tướng Chính phủ về
những biện pháp cấp bách trong công tác quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công
nghiệp.
- Quyết định số 60/2002 của bộ trưởng bộ khoa học công nghệ và môi trường về
việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất thải nguy hại.
- Quyết định số 152/1999/QĐ-TTg ngày 10/7/1999 của Thủ tướng chính phủ về
việc phê duyệt chiến lược quản lý chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp Việt
Nam đến năm 2020.
- Quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 2/12/1999 của Thủ tướng Chính phủ về
việc ban hành quy chế quản lý chất thải nguy hại.
- Thông tư liên tịch số 1590/1997/TTLB-KHCNMT-XD của bộ khoa học, công
nghệ và môi trường và bộ xây dựng, ban hành ngày 17/10/1999 hướng dẫn thi hành chỉ
thị số 199/TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách
trong quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp.
- Quyết định số 60/2002/QĐ-BKHCNMT của bộ trưởng bộ khoa học, công
nghệ và môi trường ngày 8/8/2002 về việc ban hành hướng dẫn kỹ thuật chôn lấp chất
thải nguy hại.
Văn bản quy phạm pháp luật về chất thải y tế
pháp luật về môi trường và chất thải không chỉ là các văn bản qui phạm phạm luật 20
trong nước, mà còn là công ước, pháp luật quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường và
chất thải.
Công ước quốc tế
Nước ta đã tham gia ký kết một số công ước quốc tế, trong đó có 3 công ước
liên quan đến quản lý chất thải:
- Nghị định thư Kyoto và cơ chế phát triển sạch (CDM) được ký kết vào năm
2002 và đây là cơ sở để xây dựng chiến lược quốc tế về cơ chế phát triển sạch
- Công ước Basel về kiểm soát vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy
hại về việc tiêu huỷ chung. Công ước Basel có hiệu lực từ năm 1992 Việt Nam đã tham
gia ký kết vào năm 1995. Công ước này tập trung vào quản lý các hoạt động vận
chuyển và tiêu huỷ chất thải nguy hại.
- Công ước quốc tế về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POP
5
). Công ước
Stockholm về các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (POP
5
) được thông qua do tính
khẩn cấp và nhu cầu trong việc quản lý, giảm thiểu và loại bỏ các chất (POP
5
) là những
chất đã gây ra nhiều vấn đề về sức khoẻ và môi trường. Nước ta đã ký kết công ước
(POP
5
) vào năm 2001 và có hiệu lực vào năm 2002. Bộ tài nguyên và môi trường đã
xây dựng kế hoạch hành động quốc gia để tham gia, thực hiện và thi hành công ước
này.