Quản lý thu ngân sách nhà nước ở Việt Nam - Pdf 25

Cao Thị Thu H-ơng Quản lý thu ngân sách nhà n-ớc
ở việt nam

Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị Hà Nội - 2006


HÀ NỘI - 2006
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

LỜI CẢM ƠN Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thiện luận văn thạc sỹ
kinh tế, chuyên ngành Kinh tế - Chính trị tại Khoa Kinh tế – Đại học Quốc Gia
Hà Nội, bên cạnh sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận được sự động viên, giúp
đỡ tận tình, những ý kiến đóng góp quí giá của các Thầy, Cô, Gia đình và đồng
nghiệp. Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn chân thành tới :
- Thầy giáo hướng dẫn – TS Vũ Văn Hà, Phó Tổng biên tập Báo điện tử -
Đảng Cộng sản Việt Nam.
- Các Thầy, cô giáo và cán bộ quản lý Khoa Kinh tế - Đại học Quốc gia
Hà Nội.
- Các thầy cô giáo và cán bộ quản lý Khoa Sau Đại học - Đại học Quốc

từ.
Phụ lục 2
Lệnh thu ngân sách Nhà nước
Phụ lục 3
Giấy nộp tiền vào NSNN bằng tiền mặt
Phụ lục 4
Giấy nộp tiền vào NSNN bằng chuyển khoản
Phụ lục 5
Giấy nộp tiền vào NSNN bằng ngoại tệ tiền mặt
Phụ lục 6
Giấy nộp tiền vào NSNN bằng ngoại tệ chuyển khoản
Phụ lục 7
Bảng kê giấy nộp tiền vào NSNN
Phụ lục 8
Lệnh thoái thu NSNN
Phụ lục 9
Lệnh ghi thu ngân sách
Phụ lục 10
Qui trình thu NSNN (Thu NSNN qua KBNN). MỤC LỤC

Trang
PHẦN MỞ ĐẦU
1
CHƢƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU NSNN
7
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý thu NSNN
7

2.2.3. Phân cấp quản lý thu NSNN
45
2.2.4. Bộ máy quản lý thu NSNN
46
2.2.5. Qui trình thu NSNN
47
2.3. Đánh giá thực trạng công tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam
54
2.3.1. Những kết quả đã đạt được trong quản lý thu NSNN
54
2.3.2. Một số hạn chế trong quản lý thu NSNN
65
2.3.3. Nguyên nhân chủ yếu của hạn chế trong quản lý thu NSNN
77 CHƢƠNG 3 : GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ THU NSNN Ở VIỆT NAM
83
3.1. Mục tiêu và những thách thức đặt ra cho công tác quản lý thu
NSNN giai đoạn 2006-2010 và đến năm 2020
83
3.1.1. Mục tiêu
83
3.1.2. Những thách thức đặt ra cho nguồn thu của NSNN trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế
84
3.2. Phƣơng hƣớng hoàn thiện quản lý thu NSNN
86
3.3. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý thu NSNN ở Việt Nam
87

1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với việc chuyển sang nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), Ngân sách Nhà nước (NSNN) đã trở
thành công cụ tài chính rất quan trọng, góp phần to lớn vào việc phát triển kinh
tế-xã hội. Thu NSNN không chỉ đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước mà còn
là công cụ hữu hiệu để điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế. Những năm gần đây,
thu NSNN hàng năm liên tục gia tăng, chiếm trên 20% GDP. Thu NSNN liên
quan đến rất nhiều ngành, lĩnh vực, đối tượng khác nhau.
Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy nên thời gian qua, lĩnh vực quản lý
thu NSNN đã được chú trọng: Luật NSNN ban hành năm 1996 (có hiệu lực từ
1/1/1997); Luật NSNN sửa đổi năm 1998, Luật NSNN sửa đổi năm 2002 (có hiệu
lực 1/1/2004) và các văn bản dưới luật đã góp phần đổi mới cơ chế quản lý NSNN
cũng như cơ chế thu NSNN, góp phần xây dựng và hoàn thiện bộ máy cơ quan
thu thống nhất từ trung ương (TW) đến địa phương (cơ quan Tài chính, Thuế, Hải
quan, Kho bạc Nhà nước (KBNN) ), góp phần đổi mới quy trình thu, phương

quản lý thu nên còn gây khó khăn cho người nộp. Những bất cập này đã tác
động không nhỏ đến việc thu và quản lý nguồn thu NSNN trong những năm
vừa qua.
Điều rõ ràng là, từ yêu cầu gia tăng nguồn thu, trước yêu cầu của phát
triển và hội nhập kinh tế quốc tế, để khắc phục những hạn chế trên đây đòi hỏi
phải tiếp tục nghiên cứu cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn nhằm tìm ra
những giải pháp hữu hiệu để tiếp tục đổi mới công tác quản lý thu NSNN của
chúng ta.
Từ những lý do trên, tác giả đã chọn vấn đề "Quản lý thu ngân sách
nhà nước ở Việt Nam" làm đề tài nghiên cứu của Luận văn Thạc sĩ.
2. Tình hình nghiên cứu 3

Từ khi Luật NSNN (1996) được ban hành, công tác quản lý thu NSNN
được chuyển đổi theo Luật NSNN (1996), đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan đến quản lý thu NSNN. Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu có
liên quan như:
- Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tập trung, quản lý các khoản
thu NSNN và kiểm soát chi NSNN qua Kho bạc Nhà nước trên địa bàn Thành
phố Hồ Chí Minh - Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành của TS.Nguyễn
Thanh Dương, Kho bạc Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành tháng 3
năm 2001. Đề tài đã đánh giá thực trạng, đề xuất những giải pháp nhằm hướng
đến hoàn thiện cơ chế quản lý quĩ NSNN trên địa bàn và quĩ NSNN nói chung
cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, năm 2002 Việt Nam đã thông
qua Luật Ngân sách sửa đổi, nên rất cần có những nghiên cứu khảo sát thực tế
kịp thời, làm cơ sở cho những điều chỉnh, định hướng trong xây dựng chính
sách và chỉ đạo điều hành thực tiễn.
- Hoàn thiện quản lý thu NSNN qua KBNN trên địa bàn thành phố Hà

đến một phần của công tác quản lý thu NSNN. Hiện chưa có công trình nào
nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống về quản lý thu NSNN ở Việt Nam. Vì
lý do đó tác giả đã lựa chọn đề tài trên với hy vọng có cái nhìn xác thực, hệ
thống trên bình diện cả nước về công tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Tìm những giải pháp tiếp tục đổi mới quản lý thu nhằm nâng
cao hiệu quả công tác quản lý thu NSNN ở Việt Nam, góp phần thu đúng, thu
đủ, thu kịp thời các khoản thu vào NSNN, đồng thời tăng cường bồi dưỡng
nguồn thu cho NSNN để phục vụ cho các nhiệm vụ và mục tiêu phát triển kinh
tế – xã hội của đất nước.
Nhiệm vụ: Để thực hiện mục đích nói trên, các nhiệm vụ cần thực hiện
là: - Phân tích, làm rõ cơ sở lý luận về quản lý thu NSNN.
- Đánh giá thực trạng quản lý thu NSNN ở Việt Nam thời gian qua. 5

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý thu NSNN ở Việt Nam .

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu cả về mặt lý luận và thực tiễn quản lý thu NSNN
ở Việt Nam. Trong khi nghiên cứu, phân tích, luận văn sẽ khảo sát trên bình
diện quốc gia và có phân tích sâu ở một số lĩnh vực như theo sắc thuế, khu vực
kinh tế, địa phương và so sánh với quản lý thu NSNN ở một số quốc gia trên
thế giới. Trong các nguồn thu của NSNN, luận văn chủ yếu tập trung nghiên
cứu nguồn thu từ thuế và phân tích sâu vai trò của KBNN trong công tác quản
lý thu NSNN ở Việt Nam. Đánh giá thực trạng thu NSNN ở Việt Nam trong
những năm gần đây. Về thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn gần mười
năm trở lại đây- từ khi có Luật NSNN, tất nhiên để có cái nhìn chiều sâu, trong
khi phân tích tác giả sẽ so sánh với các giai đoạn trước.

7

Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN LÝ THU NSNN
1.1. Cơ sở lý luận về quản lý thu NSNN
1.1.1. Ngân sách nhà nước
1.1.1.1.Khái niệm ngân sách nhà nước
NSNN là phạm trù kinh tế và phạm trù lịch sử. Sự hình thành và phát
triển của NSNN gắn liền với sự xuất hiện và phát triển của kinh tế hàng hoá -
tiền tệ trong các phương thức sản xuất của các cộng đồng và Nhà nước của
từng cộng đồng. Nói cách khác, sự ra đời của Nhà nước, sự tồn tại của kinh tế
hàng hoá - tiền tệ là những tiền đề cho sự phát sinh, tồn tại và phát triển của
NSNN.
Nhà nước xuất hiện với tư cách là cơ quan có quyền lực công cộng để
duy trì và phát triển xã hội. Để thực hiện chức năng đó, Nhà nước phải có
nguồn lực tài chính. Bằng quyền lực công cộng, Nhà nước đã ấn định các thứ
thuế, bắt công dân phải đóng góp để chi tiêu cho bộ máy nhà nước, quân đội,
cảnh sát
Dưới chế độ phong kiến, chi tiêu của Nhà nước và chi tiêu của Nhà vua
không có sự tách biệt nhau. Khi giai cấp tư sản ra đời, sự lớn mạnh về kinh tế
của giai cấp này đòi hỏi phải phá bỏ cát cứ phong kiến, mở rộng thị trường và
lưu thông hàng hoá tự do. Giai cấp tư sản gây áp lực về kinh tế, tài chính đối
với Nhà vua, từng bước tham gia và khống chế Nghị viện. Giai cấp tư sản đấu
tranh đòi Nhà vua không được quyền quyết định thu thuế mà phải do Nghị viện
quyết định. Sau đó, cuộc đấu tranh chuyển sang đòi tách chi tiêu của Nhà vua
ra khỏi chi tiêu của Nhà nước và toàn bộ chi tiêu của Nhà nước phải do Nghị
viện quyết định. Tất nhiên, Nhà vua không dễ dàng chấp nhận, nhưng với thế
lực đang lên và ngày càng lớn mạnh, nhất là khi đã khống chế Nghị viện, giai
cấp tư sản đã giành được thắng lợi. Tuy nhiên, thu của Nhà nước và chi tiêu
của Nhà nước vẫn là hai mảng riêng biệt. Giai cấp tư sản tiếp tục cuộc đấu

chính gắn liền với quá trình tạo lập, sử dụng quỹ tiền tệ tập trung của Nhà 9

nước nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước trên cơ sở luật định. Nó
phản ánh các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát
sinh khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia theo
nguyên tắc không hoàn trả trực tiếp là chủ yếu.
1.1.1.2. Đặc điểm của ngân sách nhà nước
NSNN là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. NSNN bao
gồm những quan hệ tài chính nhất định trong tổng thể các quan hệ tài chính của
quốc gia. Có thể kể ra các quan hệ đó là:
Quan hệ tài chính giữa Nhà nước với dân cư, các doanh nghiệp thuộc
mọi thành phần kinh tế (đặc biệt là với doanh nghiệp nhà nước), các tổ chức xã
hội, các Nhà nước khác và với các tổ chức quốc tế. Đồng thời bao gồm cả
quan hệ tài chính giữa Nhà nước với tư cách là bên tham gia hình thành quỹ
công như quỹ bảo hiểm xã hội, quỹ đầu tư
Các quan hệ tài chính thuộc NSNN có các đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, việc tạo lập và sử dụng quỹ NSNN gắn với quyền lực của Nhà
nước và việc thực hiện các chức năng của Nhà nước. Nhà nước quyết định mức
thu chi, nội dung và cơ cấu thu chi NSNN.
Thứ hai, hoạt động thu chi NSNN được thực hiện trên cơ sở những luật
lệ do Nhà nước quy định. Nhà nước thống nhất quản lý và sử dụng cho nhu cầu
chung của cả nước.
Thứ ba, NSNN luôn gắn chặt với sở hữu Nhà nước, luôn chứa đựng lợi
ích chung, lợi ích công cộng. Hoạt động thu chi NSNN là sự thể hiện các mặt
hoạt động kinh tế - xã hội của Nhà nước, là việc xử lý các quan hệ lợi ích trong
xã hội khi Nhà nước tham gia phân phối các nguồn tài chính quốc gia. Lợi ích
của Nhà nước (lợi ích chung của quốc gia) thể hiện cả trong phân phối thu nhập

lực quân sự, quyền lực kinh tế, quyền lực tôn giáo và chúng đều là cơ sở, chỗ
dựa cho hoạt động thu NSNN.
Thứ ba, thu NSNN được thực hiện dưới dạng tiền tệ. Đó là một bộ phận
của cải vật chất của xã hội được huy động về tay Nhà nước nhưng khi được ghi
thu NSNN là phải dưới dạng tiền tệ. 11

1.1.2.2. Đặc điểm của thu ngân sách nhà nước
Thu NSNN có những đặc điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, thu NSNN phản ánh các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong
quá trình phân chia các nguồn tài chính quốc gia giữa Nhà nước với các chủ thể
trong xã hội. Sự phân chia đó là một tất yếu khách quan, xuất phát từ yêu cầu
tồn tại và phát triển của bộ máy Nhà nước cũng như yêu cầu thực hiện các chức
năng kinh tế - xã hội của Nhà nước.
Thứ hai, thu NSNN có phạm vi rộng, liên quan đến hầu hết các đối tượng
trong xã hội. Thực chất của thu NSNN là lấy về cho Nhà nước một phần thu
nhập của các tổ chức và cá nhân trong xã hội. Do đó, các tổ chức, cá nhân có
thu nhập đều là đối tượng của hoạt động thu NSNN.
Thứ ba, thu NSNN được thực hiện với nhiều phương thức khác nhau.
Thực vậy, trong thu NSNN có nhiều phương thức được áp dụng như : Tự
nguyện - Bắt buộc ; Ngang giá - Không ngang giá; Có đối khoản - Không có
đối khoản trực tiếp; Kinh tế - Phi kinh tế Trong đó: bắt buộc, không ngang
giá, không có đối khoản trực tiếp, phi kinh tế là rất phổ biến.
Thứ tư, thu NSNN gắn chặt với thực trạng kinh tế và sự vận động của các
phạm trù giá trị như giá cả, lãi suất, thu nhập Sự vận động của các phạm trù
đó vừa tác động đến sự tăng giảm mức thu, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao tác
dụng điều tiết của các công cụ thu NSNN.
1.1.2.3. Nội dung thu ngân sách nhà nước

do các cam kết về tài chính với các nước và các tổ chức quốc tế; thu từ vay nợ
trong nước qua phát hành trái phiếu và thu từ vay nợ nước ngoài )
Trong các nguồn thu của NSNN, thuế là một hình thức huy động tài
chính cho Nhà nước đã có từ lâu đời. Thuế trở thành công cụ để Nhà nước có
nguồn thu nhằm trang trải các chi tiêu của Nhà nước. Trải qua quá trình phát
triển lâu dài và cho đến nay, các Nhà nước đều sử dụng thuế để phân phối các
khoản thu nhập và huy động các nguồn thu cho Nhà nước. Nhà nước dùng
quyền lực của mình ban hành các luật thuế để bắt buộc dân cư và các tổ chức 13

kinh tế đóng góp cho Nhà nước. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã
khẳng định: Một trong những quyền lực công của Nhà nước là thu thuế.
Các yếu tố cấu thành một sắc thuế gồm có: Người nộp thuế; người chịu
thuế; đối tượng đánh thuế; căn cứ tính thuế; thuế suất; đơn vị tính thuế; giá tính
thuế; khởi điểm đánh thuế; miễn giảm thuế; thưởng, phạt; thủ tục về thuế.
Trong nền kinh tế thị trường: Thuế tạo nguồn thu chủ yếu cho NSNN. Nguồn
tích luỹ của NSNN chỉ có thể tăng nhanh trên cơ sở nền kinh tế phát triển và
đạt hiệu quả cao. Thuế phải phát huy vai trò bồi dưỡng và khai thác nguồn thu
ngày càng tăng từ sự tăng trưởng kinh tế cho NSNN.
1.1.2.4. Vai trò của thu ngân sách nhà nước
Thứ nhất, thu NSNN có vai trò trong việc khai thác, động viên và tập
trung các nguồn tài chính cần thiết để tạo lập quỹ NSNN, đáp ứng nhu cầu chi
tiêu đã được dự tính cho từng giai đoạn phát triển. Dưới bất kỳ chế độ nào, nhà
nước muốn thực thi các chức năng, nhiệm vụ của mình, tất yếu phải có nguồn
tài chính. Các nguồn tài chính này có thể huy động từ các khu vực kinh tế, các
thành phần kinh tế, từ trong nước và ngoài nước.
Thứ hai, thu NSNN là công cụ điều tiết, điều chỉnh nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, thu NSNN là một trong những công cụ

Tùy theo từng thời kỳ mà Nhà nước sử dụng những công cụ khác nhau
để can thiệp vào những vấn đề đó ở tầm vĩ mô cũng như vi mô. Ngày nay, Nhà
nước can thiệp vào các vấn đề đó chủ yếu ở tầm vĩ mô thông qua hoạt động
kiểm tra, kiểm soát bằng hệ thống pháp luật, hệ thống thuế. Thông qua công cụ
thuế, Nhà nước thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động sản xuất kinh
doanh trên các mặt chủ yếu như thu nhập, giá cả mặt hàng, hoạt động xuất nhập
khẩu
Tóm lại, xét trên nhiều phương diện, thu NSNN có vai trò cực kỳ quan
trọng. Để phát huy vai trò tích cực của thu NSNN trong thực tế thì một trong 15

những vấn đề quan trọng là thu đúng, thu đủ, thu kịp thời. Muốn vậy, phải xác
định đúng đắn nguồn thu và không ngừng bồi dưỡng nguồn thu.
1.1.2.5. Những nhân tố ảnh hưởng đến thu ngân sách nhà nước
Một vấn đề hết sức quan trọng trong thu NSNN là việc xác định mức
động viên và lĩnh vực động viên một cách đúng đắn, hợp lý. Điều đó không chỉ
ảnh hướng đến số thu NSNN, mà còn tác động mạnh mẽ đến quá trình phát
triển kinh tế, xã hội. Mức động viên và lĩnh vực động viên lại chịu tác động của
nhiều nhân tố kinh tế, chính trị, xã hội của Quốc gia. Các nhân tố ảnh hưởng
đến thu NSNN cần phải kể đến là:
a. Thu nhập GDP bình quân đầu người:
Chỉ tiêu này phán ánh tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế của một
quốc gia, phản ánh khả năng tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của một nước, là
nhân tố quyết định đến mức động viên của NSNN để không ảnh hưởng tiêu cực
đến các vấn đề tiết kiệm, tiêu dùng và đầu tư của các tổ chức kinh tế, của các
tầng lớp dân cư.
b. Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế:
Tỷ suất doanh lợi trong nền kinh tế phản ánh hiệu qủa của đầu tư phát

hệ thống các phương pháp nhằm thay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, tiếp
cận đến mục tiêu cuối cùng, phục vụ cho mục đích của con người. Với ý nghĩa
như vậy, có thể khái quát : Quản lý thu NSNN là quá trình Nhà nước vận dụng
các quy luật khách quan; sử dụng hệ thống các phương pháp tác động đến các
hoạt động thu NSNN nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ
mà Nhà nước phải đảm nhận.
Đối tượng tác động của quản lý thu NSNN là toàn bộ các khoản thu được
lập kế hoạch trong dự toán NSNN năm nhằm phục vụ cho việc thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Quản lý thu NSNN là sự liên kết hữu cơ giữa Nhà nước với tư cách chủ thể
quản lý với khách thể quản lý (các tầng lớp dân cư, thành phần kinh tế trong xã
hội) và đối tượng quản lý (các khoản thu NSNN). Tác động của quản lý thu
NSNN mang tính tổng hợp, hệ thống gồm nhiều biện pháp khác nhau được 17

biểu hiện dưới dạng cơ chế quản lý. Cơ sở của quản lý thu NSNN là sự vận
dụng các quy luật kinh tế – xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan. Mục tiêu
cơ bản của quản lý thu NSNN là các khoản thu NSNN phải được tập trung
đúng, đầy đủ, kịp thời và được phân chia chính xác cho các cấp NSNN.
Quản lý thu NSNN có các đặc điểm sau :
Một là, thu NSNN được quản lý bằng pháp luật và theo dự toán. Mọi
Nhà nước đều quản lý thu NSNN bằng luật.
Hai là, quản lý thu NSNN sử dụng một hệ thống tổng hợp các biện pháp
nhưng biện pháp quan trọng nhất là biện pháp tổ chức – hành chính theo hai
hướng: Chủ thể quản lý ban hành các văn bản pháp quy, quy định tính chất,
mục tiêu, quy mô, cơ cấu tổ chức, điều kiện thành lập, điều lệ hoạt động, mối
quan hệ trong và ngoài tổ chức và Chủ thể đưa ra các quyết định quản lý buộc
cấp dưới hoặc cơ quan thuộc phạm vi điều chỉnh thực hiện những nhiệm vụ

b) Xây dựng các khoản mục và bồi dưỡng nguồn thu NSNN:
* Về các khoản mục thu NSNN: Các khoản mục thu được xây dựng dưới
nhiều hình thức khác nhau, trong đó Mục lục NSNN được coi là bao quát nhất
và có tính pháp lý cao .
Mục lục NSNN là bảng phân loại các nội dung thu, chi thuộc giao dịch
thường niên của NSNN theo những tiêu thức và phương pháp nhất định nhằm
phục vụ cho việc quản lý điều hành cũng như việc kiểm soát và phân tích các
hoạt động của NSNN một cách hiệu quả và tiện lợi.
Mục lục NSNN có ý nghĩa rất quan trọng trong quản lý NSNN nói
chung, trong đó có quản lý thu NSNN. Đó là một hệ thống mã số được sắp xếp
theo những trật tự, tiêu thức, ký hiệu nhất định. Xét về quản lý thu NSNN, Mục
lục NSNN có vai trò trong cả chu trình NSNN:Lập, chấp hành và quyết toán
NSNN.
Ngoài ra, Mục lục NSNN không thể thiếu được trong hoạt động phân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status