Vai trò của chính phủ Nhật Bản trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và một số kinh nghiệm đối với Việt Nam - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ

 NGUYỄN VIỆT BÁCH
VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG
NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ĐỐI VỚI
VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÃ SỐ : 5 . 02 . 01
06

1.1.1 Một số quan niệm và các nội dung cơ bản của CNH, HĐH
06
1.1.2 Các mô hình cơ bản của CNH, HĐH
12
1.1.2.1 Các mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển
12
1.1.2.2 Các mô hình công nghiệp hoá trong thế kỷ XX
17 1.2 MỘT SỐ QUAN NIỆM CỦA CÁC TRƯỜNG PHÁI KINH TẾ VỀ VAI
TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG CNH VÀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
23
1.2.1 Vai trò của Chính phủ trong quan niệm của các nhà kinh tế
học cổ điển
23
1.2.2 Vai trò của Chính phủ trong quan niệm của Keynes
31 CHƯƠNG 2 : VAI TRÕ CỦA CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN
TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH ĐẤT NƯỚC
34 2.1 KHÁI QUÁT KINH TẾ NHẬT BẢN KỂ TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ
GIỚI LẦN THỨ 2
34

phủ Nhật Bản lựa chọn mô hình CNH, HĐH
50
2.2.2 Các chính sách điều tiết và điều hành hoạt động kinh tế của
Chính phủ Nhật Bản trong quá trình CNH, HĐH đất nước
52
2.2.2.1 Chính sách phát triển nguồn nhân lực và định hướng nền
kinh tế thông qua các kế hoạch của Chính phủ Nhật Bản
52
2.2.2.2 Chính sách công nghiệp và cơ cấu hợp lý các ngành kinh tế
mũi nhọn
57
2.2.2.3 Chính sách kinh tế đối ngoại
62
2.2.2.4 Chính sách Tài chính, Tiền tệ và Ngân hàng
69 2.3 ĐÁNH GIÁ VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN TRONG QUÁ
TRÌNH CNH, HĐH ĐẤT NƯỚC
73 2.3.1 Những thành công của Chính phủ Nhật Bản trong quá
trình CNH, HĐH
73
2.3.1.1 Nhật Bản đã xây dựng được một Chính phủ có năng lực,
không có tham nhũng và biết đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu
73
91
3.1.1 Thực trạng quá trình CNH, HĐH của Việt Nam
91
3.1.1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam trước đổi mới
(Giai đoạn 1960-1986)
91
3.1.1.2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá của Việt Nam sau khi đổi
mới (Giai đoạn 1986 cho đến nay)
94
3.1.2 Những đặc điểm nổi bật của quá trình CNH, HĐH ở Việt
Nam
98

3.2 VẬN DỤNG NHỮNG KINH NGHIỆM CỦA NHẬT BẢN VÀ ĐỀ XUẤT
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH CNH, HĐH CỦA
VIỆT NAM
102 3.2.1 Tạo môi trường thuận lợi và khắc phục những khó khăn
103
ảnh hưởng tới tiến trình CNH, HĐH ở Việt Nam
3.2.2 Xây dựng kế hoạch và dự báo kinh tế của Chính phủ
106


1 PHẦN MỞ ĐẦU

1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI :
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là con đường tất yếu đưa đất nước thoát
khỏi tình trạng lạc hậu và đói nghèo, tiến lên trở thành Quốc gia văn minh
hiện đại. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá có vai trò hết sức quan trọng đã được
Đảng ta xác định là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ tiến lên Chủ nghĩa
Xã hội. Điều này đã được thể hiện rõ trong văn kiện tại Đại hội Đảng Cộng
sản Việt Nam lần thứ VIII “ Xây dựng nước ta thành một nước Công
nghiệp có cơ sở vật chất, kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ
sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất ’’[1,Tr. 80]

Thế giới ( G8 ).

Để đạt được thành tựu như ngày nay Chính phủ Nhật đóng một vai trò
cực kỳ quan trọng, Chính phủ Nhật Bản đã đưa ra những quyết sách, cơ chế
để điều hành quá trình CNH, HĐH đất nước cực kỳ hiệu quả và luôn luôn có
những điều chỉnh hợp lý tác động vào nền kinh tế cho phù hợp với các biến
động của Thế giới. Chính vì vậy Nhật Bản đã thành công trong quá trình
CNH, HĐH đất nước.

Việt Nam có vị trí cùng nằm trong khu vực với Nhật Bản, nên cũng có
một số nét tương đồng về kinh tế, văn hoá, xã hội. Đất nước ta cũng là một
nước đã trải qua sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh, vừa xoá bỏ cơ chế kinh
tế bao cấp cũ chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường. Quá trình CNH, HĐH đã
được Đảng ta xác định là trọng tâm, phải tạo được cơ sở vật chất, kỹ thuật
hiện đại. Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay việc nghiên cứu về vai trò của
Chính phủ với nhiệm vụ đưa ra những quyết sách, cơ chế điều hành trong quá
trình CNH, HĐH là rất cần thiết và quan trọng, bởi đây chính là vấn đề then
chốt quyết định sự thành bại của CNH, HĐH. Nhật Bản là một nước đã có sự
thành công trong CNH, HĐH vì vậy việc nghiên cứu vai trò của Chính phủ
Nhật Bản trong quá trình CNH-HĐH là cần thiết đối với quá trình CNH,
HĐH của Việt Nam. Qua đó chúng ta có thể học hỏi, đúc rút kinh nghiệm 3 điều hành của Chính phủ Nhật Bản để vận dụng cho phù hợp với tình hình
Kinh tế Xã hội của Việt Nam.

2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI :

thảo lộ trình‟‟ Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
- TS. Nguyễn Minh Tú – ThS. Vũ Xuân Nguyệt Hồng (năm 2001)
“Chính sách công nghiệp và các công cụ chính sách công nghiệp : Kinh
nghiệm của Nhật Bản và bài học rút ra cho công nghiệp hoá ở Việt Nam”
Nhà xuất bản Lao động

Qua những công trình nghiên cứu trên các tác giả chỉ tập trung vào
nghiên cứu các chính sách kinh tế cụ thể của Nhật Bản và phác thảo các lộ
trình cho quá trình CNH,HĐH. Các công trình này chưa nghiên cứu tập trung
cụ thể vào vai trò của Chính phủ Nhật Bản trong quá trình CNH,HĐH. Vì vậy
luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu cụ thể “Vai trò của Chính phủ Nhật
Bản trong quá trình CNH,HĐH và một số kinh nghiệm đối với Việt Nam”.
Từ đó tạo ra những cơ sở đề xuất những giải pháp, nhằm năng cao hơn nữa
vai trò của Chính phủ, cũng như có những chính sách đúng đắn phù hợp, đi
tắt đón đầu, rút ngắn thời gian hoàn thành mục tiêu CNH, HĐH đưa đất nước
nhanh chóng trở thành Quốc gia có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại.

3. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU :

Đề xuất một số gợi ý nhằm nâng cao vai trò và hoạt động của Chính
phủ, nhằm đưa ra những quyết sách chiến lược trong quá trình CNH, HĐH và
rút ngắn thời gian hoàn thành mục tiêu CNH, HĐH đất nước trong quá trình
hội nhập kinh tế Thế giới.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU :

* Đối tượng nghiên cứu :

hiện nay.
6 7. BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN :

Luận văn được kết cấu làm 3 chương ( Ngoài phần mở đầu, kết luận và
danh mục tài liệu tham khảo)

Chương 1 : Cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của Chính phủ
trong quá trình Công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

Chương 2 : Vai trò của Chính phủ Nhật Bản trong quá trình
CNH, HĐH đất nước.

Chương 3 : Vận dụng những kinh nghiệm của Nhật Bản, để góp
phần đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH ở Việt Nam.

7 CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VAI TRÕ CỦA CHÍNH PHỦ

một quá trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ, tạo nền
tảng cho sự bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.
Công nghiệp hoá luôn luôn đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp với những bước
tiến tuần tự về công nghệ, vân dụng phát triển chiều rộng, tạo nhiều công ăn
việc làm cho đội ngũ lao động đông đảo hiện nay, với việc tranh thủ các cơ
hội đi tắt đón đầu, phát triển chiều sâu tạo nên những mũi nhọn theo trình độ
tiến triển của khoa học công nghệ mới.

Công nghiệp hoá luôn được hiểu là quá trình chuyển biến căn bản trình
độ kỹ thuật của nền kinh tế, từ trình độ phổ thông chuyển sang trình độ cơ
khí, biến nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp. Với nội dung
này có thể nhận định rằng công nghiệp hoá là quá trình xây dựng nền đại
công nghiệp, cũng là quá trình tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật của phương
thức sản xuất mới. Công nghiệp hoá không đơn thuần chỉ là quá trình cải biến
thể chế và cấu trúc của nền kinh tế. Nếu như nền kinh tế nông nghiệp nông
thôn cổ truyền vận động và phát triển trong khuôn khổ cơ chế tự túc tự cấp,
khép kín với sự thống trị của các quan hệ trao đổi hiện vật trực tiếp thì trong
nền kinh tế dựa trên nền tảng đại công nghiệp, cơ chế vận hành phải là cơ chế
mang tính xã hội hoá cao và phổ biến rộng rãi các quan hệ trao đổi sản phẩm
của lao động.

Hình thái hiện vật của nền kinh tế được thay thế bằng hình thức xã hội
hoá. Theo đó công nghiệp hoá cũng là quá trình cải biến hệ thống thể chế và
cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế hiện vật khép kín tự túc sang nền kinh tế trao
đổi lao động xã hội hoá dựa trên sự phân công lao động xã hội phát triển
mạnh mẽ. Như vậy công nghiệp hoá là một quá trình cải biến toàn diện nền
kinh tế. Một mặt đây là quá trình thay thế các phương thức sản xuất dựa vào
kỹ thuật thủ công. Mặt khác đây cũng chính là quá trình cải biến các phương
với mô hình hướng nội thay thế nhâp khẩu. 10
Công nghiệp hoá là cả một quá trình chuyển biến căn bản về kinh tế, xã
hội của đất nước. Không thể tiến hành công nghiệp hoá với kỹ thuật cổ điển
và cơ chế quản lý cũ, mà công nghiệp hoá luôn luôn phải gắn liền với hiện đại
hoá. “ Công nghiệp hoá không chỉ làm tăng thêm một cách giản đơn tốc độ
và tỉ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, mà là cả một quá
trình chuyển dịch cơ cấu, gắn liền với đổi mới công nghệ, tạo nền tảng cho sự
tăng trưởng bền vững và có hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân‟‟.
Công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại hoá, kết hợp với các bước tuần tự về
công nghệ, vận động phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, tạo thêm nhiều
công ăn việc làm cho đội ngũ đông đảo người lao động.

Khoa học công nghệ hiện đại là nhân tố then chốt của hiện đại hoá.
Nhưng hiện đại hoá có nội dung rộng lớn và phong phú hơn nhiều, bao gồm
các mặt : Kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá.

Hiện đại hoá thường được định nghĩa là quá trình nhờ đó các nước
đang phát triển tìm cách đạt được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến
hành cải cách chính trị và củng cố cơ cấu xã hội của họ, nhằm tiến tới một hệ
thống kinh tế, xã hội và chính trị giống các nước phát triển. Nói đến hiện đại
hoá là nói đến một quá trình lâu dài đầy gian khổ để cải biến một xã hội cổ
truyền thành một xã hội hiện đại, một xã hội có trình độ văn minh cao hơn,
thể hiện đầy đủ hơn những giá trị của chúng mà nhân loại muốn vươn tới. Các
nước có trình độ và điều kiện kinh tế và xã hội khác nhau nên thường có

và các nhóm xã hội có thay đổi về nghề nghiệp nâng cao thu nhập, nâng cao
đời sống kinh tế và địa vị xã hội. Công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở bất kỳ
nước nào cũng đi đôi với đô thị hoá, với sự tăng lên mạnh mẽ về tỉ trọng và
vai trò của các tầng lớp trung lưu hóa gắn liền với tri thức hoá xã hội, sẽ tạo
ra cho xã hội một cơ sở bền vững cho sự ổn định và phát triển đất nước.
12 Xây dựng một xã hội văn minh hiện đại không phải chỉ là xây dựng
khoa học công nghệ hay sức mạnh kinh tế, mà còn là xây dựng phát triển văn
hoá. Trong công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước không thể xem nhẹ khía
cạnh văn hoá của phát triển, vì chính văn hoá làm cho phát triển có ý nghĩa
hơn. Bất cứ sự phát triển nào về kinh tế, kỹ thuật, hay thể chế mà dẫn tới huỷ
hoại những giá trị văn hoá làm xấu đi những quan hệ con người đều là vô
nghĩa. Văn hoá được thể hiện trình độ được vun trồng của con người, của xã
hội, tức là làm cho con người và xã hội ngày một tiến bộ hơn, khiến cho con
người càng ngày càng đổi mới, ngày càng xa rời trạng thái nguyên sơ. Văn
hoá không ngừng hoà thiện chất lượng con người, nâng cao khả năng hoạt
động sáng tạo, làm cho con người ứng xử tốt đẹp với con người. Bởi vì chỉ có
thông qua sự phát triển con người và năng lực con người, mà có thể biến đổi
toàn bộ định hướng, những giá trị vật chất của nền văn minh và sử dụng toàn
bộ tiềm năng to lớn của nó cho những mục đích tốt đẹp.
Chính trên quan điểm này mà UNESCO khẳng định mạnh mẽ rằng :
Văn hoá là chìa khoá của phát triển, là mục tiêu và hệ điều tiết của phát triển
mà không sợ cường điệu vai trò của văn hoá.
Khi nghiên cứu quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá từ những khía
cạnh kinh tế, chính trị, xã hội và văn hoá. Chúng luôn được khẳng định sự

với con người và con người với thiên nhiên. Đây là vấn đề cấp bách sống còn
của nền văn minh nhân loại, luôn luôn được cả cộng đồng thế giới quan tâm.

Tóm lại công nghiệp hoá, hiện đại hoá là một quá trình và một xu
hướng phát triển của cả thế giới, đây cũng là con đường phát triển chung mà
tất cả các nước trên thế giới đều trải qua, vào những thời điểm khác nhau và
với những nhịp độ khác nhau.

1.1.2 Các mô hình cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá

1.1.2.1 Các mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển
14 Những mô hình kiểu cổ điển đều có những đặc điểm chung mang tính
phổ biến, điển hình nhất của mô hình cổ điển được thực hiện ở Anh và Pháp.
Sự chuyển biến kinh tế và xã hội sau khi chế độ phong kiến tan rã và hình
thành chủ nghĩa tư bản, đây là một trong những tiền đề đầu tiên cho quá trình
công nghiệp hoá. Chúng được diễn ra như một quá trình lịch sử tự nhiên nó
bao gồm những đặc trưng mang tính phổ biến như sau :

* Đặc trưng trước tiên của mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển là sự
chuyển biến, hay còn gọi là cuộc cách mạng trong lĩnh vực sản xuất nông
nghiệp, trong đó là sự thay đổi phương thức canh tác và sự thay đổi của chế
độ sở hữu ruộng đất, chính trị. Sự thay đổi này đã làm tách rời sản xuất công
nghiệp ra khỏi sản xuất nông nghiệp. Điển hình nhất là nước Anh, nước có
mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển đậm nét nhất. Cuộc cách mạng nông


Như vậy cuộc cách mạng nông nghiệp và cách mạng ruộng đất mang
đầy tính cưỡng bức và chậm chạp nhưng trở thành một tiền đề không thể
thiếu cho bước khởi đầu của cách mạng công nghiệp.

* Đặc trưng thứ hai của mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển là sự
hình thành tầng lớp chủ doanh nghiệp trong tất cả các lĩnh vực sản xuất, từ
sản xuất công nghiệp, nông nghiệp cho đến tất cả các ngành dịch vụ, thương
mại và tín dụng. Đây là nhân tố quan trọng nhất để hình thành nên cuộc cách
mạng công nghiệp và đặc biệt là các chủ xưởng thợ thủ công thành thị.

Trong khi sự phát triển mạnh mẽ của nông nghiệp do sự thay đổi về sở
hữu ruộng đất tạo ra, là một tiền đề quan trọng cho phát triển sản xuất công
nghiệp. Sự phát triển của những chủ trang trại bỏ vốn của mình ra để kinh
doanh cũng là nhân tố quan trọng cho quá trình công nghiệp hoá. Với sự hỗ
trợ của các thương gia và các tổ chức tín dụng, các nhà tư bản Anh đã biến
đất nước thành những công xưởng của Thế giới và trở thành nơi khởi nguồn
của công cuộc công nghiệp hoá. 16
* Đặc trưng nổi bật thứ ba của mô hình công nghiệp hoá theo kiểu cổ
điển là sự phát triển của ngoại thương và chính sách thực dân xâm chiếm
thuộc địa. Đây là tác nhân bổ trợ cực mạnh cho tiến trình cách mạng công
nghiệp, ở những nước đi tiên phong trong mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ
điển. Đây chính là những yếu tố quan trọng bổ xung về nguồn nguyên liệu,
vốn đầu tư, lao động và thị trường tiêu thụ. Những thị trường này không một

đường thuỷ, ô tô, máy bay và cuối cùng là hiện đại hoá các ngành thuộc lĩnh
vực dịch vụ. Khi quá trình công nghiệp hoá càng phát triển, càng có kết quả
thì các ngành công nghiệp nặng càng chiếm tỉ trọng lớn hơn so với các ngành
công nghiệp nhẹ sản xuất ra tư liệu tiêu dùng trực tiếp.

Song song với việc chuyển dịch cơ cấu ngành là quá trình đổi mới, thay
thế dần trang thiết bị kỹ thuật, ở trình độ về căn bản dựa trên nền tảng của kỹ
thuật cơ khí, điện khí và hóa chất. Việc đáp ứng các yêu cầu phát triển của kỹ
thuật nêu trên cũng đồng thời là lịch sử phát triển của cách mạng. Công
nghiệp hoá đi từ công nghiệp nhẹ đến việc hình thành một cách ngày càng
đồng bộ và hoàn chỉnh hơn các ngành công nghiệp nặng.

Ngoài sự thay đổi về cơ cấu ngành kinh tế mô hình công nghiệp hoá
kiểu cổ điển còn là sự thay đổi của phương thức tổ chức sản xuất, các hình
thức tổ chức sản xuất cũng biến đổi một cách dần dần, tuần tự từ sản xuất
kinh doanh một chủ đến sản xuất kinh doanh chung vốn và cuối cùng là hình
thức công ty cổ phần. Cùng với sự phát triển của các hình thức tổ chức sản
xuất kinh doanh nêu trên là sự phát triển của phương thức huy động vốn. Từ
sự tích tụ chậm chạp đến các hình thức tập trung vốn qua tín dụng và phát
hành trái phiếu, cổ phiếu để huy động vốn lớn trên thị trường trong nước và
quốc tế. Trong mô hình công nghiệp hoá kiểu cổ điển các nước theo mô hình
này đã phải trải qua gần ba thế kỷ, nên gặp rất nhiều khó khăn và thời gian
công nghiệp hoá rất dài. Những nước công nghiệp hoá theo kiểu cổ điển hầu
hết là những quốc gia đi đầu trong tiến bộ khoa học và kỹ thuật nên quá trình 18 công nghiệp hoá hầu như dựa trên cơ sở khoa học và kỹ thuật của chính bản


thương trong giai đoạn này mang tính chất thực dân bóc lột và chiếm đoạt các
nước thuộc địa để phục vụ cho các nước công nghiệp hoá.

Ngoài qui mô lãnh thổ và dân số lớn, những nước công nghiệp hoá theo
mô hình này còn có sự thay đổi thể chế xã hội và hình thành nên các lực
lượng xã hội tiến hành công nghiệp hoá. Quá trình thay đổi này cũng diễn ra
từ từ, chậm chạp và phù hợp với sự phát triển tuần tự của sức sản xuất xã hội.
Trong mô hình cổ điển công nghiệp hoá diễn ra đồng thời với quá trình phát
triển của thị trường Tư bản chủ nghĩa, trong đó nổi bật lên là đội ngũ những
nhà chủ doanh nghiệp có bản lĩnh, có tinh thần kinh doanh dám chịu rủi do và
rất năng động sáng tạo trong sản xuất kinh doanh, đây là một yếu tố quan
trọng trong quá trình công nghiệp hoá. Bản thân sự phát triển của tầng lớp xã
hội này và các thiết chế tổ chức của thị trường cũng diễn ra một cách tuần tự,
trong mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau với sức sản xuất xã hội. Trong giai đoạn
này tốc độ tăng trưởng công nghiệp không cao.

Tóm lại do những ràng buộc của điều kiện lịch sử, quá trình công
nghiệp hoá theo mô hình cổ điển đã diễn ra các bước đi tự nhiên, tuần tự,
chậm chạp, từ thấp đến cao và được thực hiện trong khoảng thời gian hai trăm
năm.

1.1.2.2 Các mô hình công nghiệp hoá trong thế kỷ XX

Khác xa với công nghiệp hoá kiểu cổ điển là mô hình mở đường, tự
thân vận động và phát triển. Quá trình công nghiệp hoá trong thế kỷ XX được
tiến hành trong điều kiện thế giới đã có những thay đổi to lớn về chính trị,
kinh tế và xã hội so với những thế kỷ trước do những tác động của cách mạng
khoa học công nghệ và sự phát triển của lực lượng sản xuất.


khỏi cảnh nô dịch, nghèo nàn lạc hậu. Mô hình công nghiệp hoá này thường
được thực hiện ở những quốc gia có trình độ công nghiệp rất bình thường,
nên vấn đề công nghiệp hoá là một vấn đề sống còn đối với thể chế chính trị
và xã hội vừa mới được hình thành.

Trích đoạn Quan điểm của các nhà Trọng thương Quan điểm của trường phái Trọng nông Vai trò của Chính phủ trong quan niệm của Keynes Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ đắc lực cho sự nghiệp CNH, HĐH TIẾNG VIỆ T:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status