ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
NGUYỄN NGỌC QUANG VỐN ODA TRONG XÂY DỰNG
CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ ĐỐI NGOẠI
HÀ NỘI - 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG VIỆC THU HÚT
VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA 5
1.1. Tổng quan về nguồn vốn ODA 5
1.1.1. Khái niệm, bản chất và phân loại ODA 5
1.1.2. Nguồn gốc lịch sử của ODA 16
1.2. Vai trò của ODA trong đầu tƣ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao
thông ở Hà Nội 17
1.2.1. Khái quát thu hút và quản lý sử dụng nguồn vốn ODA vào đầu tư xây
dựng cơ sở hạ tầng giao thông ở Hà Nội 17
1.2.2. Sự cần thiết của nguồn vốn ODA trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng
giao thông ở Hà Nội 21
1.2.3. Kinh nghiệm trong việc thu hút và quản lý sử dụng nguồn vốn ODA 24
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 34
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ THU HÚT VÀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG
NGUỒN VỐN ODA TRONG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO
THÔNG Ở HÀ NỘI 36
2.1. Tổng quan về nguồn vốn ODA ở Hà Nội 36
2.1.1. ODA phân bổ theo ngành 36
2.1.2. ODA phân bổ theo loại hình 38
2.1.3. ODA phân bổ theo đối tác tài trợ 39
2.2. Nguồn vốn ODA trong xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông
Thành phố Hà Nội qua các năm 41
2.2.1. Thực trạng thu hút và quản lý sử dụng vốn ODA trong phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông Thành phố Hà Nội xét theo lĩnh vực 41
2.2.2. Thực trạng thu hút và quản lý sử dụng vốn ODA trong phát triển cơ sở
hạ tầng giao thông Thành phố Hà Nội xét theo đối tác 44
i
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
STT
Ký hiệu
Nguyên nghĩa
1
ADB
Ngân hàng phát triển châu Á
2
BQLDA
Ban quản lý dự án
3
CSHT
Cơ sở hạ tầng
4
DAC
Ủy ban hỗ trợ phát triển
5
FAO
Tổ chức lƣơng thực và nông nghiệp Liên hiệp quốc
6
FDI
Quỹ hợp tác kinh tế hải ngoại Nhật Bản
17
UNDP
Chƣơng trình phát triển Liên hiệp quốc
18
WB
Ngân hàng thế giới
19
WTO
Tổ chức thƣơng mại thế giới
20
WHO
Tổ chức y tế thế giới
ii
DANH MỤC BẢNG
STT
Số hiệu
Nội dung
Trang
1
Bảng 2.1
Cơ cấu ODA phân bổ theo ngành
37
2
Bảng 2.2
Cơ cấu ODA phân bổ theo loại hình
38
3
đầu tƣ phát triển cơ sở hạ tầng (CSHT) giao thông, bởi so với các nguồn vốn
khác, ODA có nhiều ƣu thế hơn. Tuy nhiên, không phải lúc nào ODA cũng
mang lại hiệu quả tốt, cũng tạo điều kiện phát triển CSHT giao thông, thúc
đẩy tăng triển kinh tế,… Không ít trƣờng hợp, nguồn vốn ODA không những
không tạo điều kiện cho việc phát triển hệ thống CSHT giao thông có hiệu
quả, không thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế, không giảm đƣợc đói nghèo, mà lại
có nguy cơ gây tăng thêm nợ nần. Trong những năm qua Việt Nam đã nhận
đƣợc một khối lƣợng ODA khá lớn của các nhà tài trợ, phần lớn nguồn vốn
này đƣợc sử dụng để phát triển CSHT, trong đó có giao thông. Theo đánh giá
của nhiều chuyên gia, chúng ta đã sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ này cho
các mục tiêu phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, v.v… Tuy nhiên, do
nhiều nguyên nhân nhƣ cơ chế chính sách quản lý ODA còn bất cập, không
ổn định; mô hình tổ chức quản lý điều hành các dự án ODA còn nhiều điều
phải bàn, công tác kiểm tra, giám sát còn chƣa nghiêm túc; hiện tƣợng tiêu
cực, tham ô, lãng phí làm thất thoát vốn, sử dụng vốn chƣa hiệu quả,… đặc
biệt là lĩnh vực xây dựng CSHT giao thông, làm mất lòng tin của nhà tài trợ
cũng nhƣ nhân dân trong cả nƣớc, thể hiện sự hạn chế trong công tác quản lý
nguồn vốn này của Việt Nam. Vì vậy, bên cạnh việc tăng cƣờng thu hút các
nguồn ODA, thì việc nâng cao năng lực quản lý để sử dụng hiệu quả nguồn
vốn ODA nói chung và trong xây dựng CSHT giao thông nói riêng là một vấn
đề cấp thiết trong điều kiện hiện nay của Việt Nam.
2
Mặt khác, trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra sâu rộng
trên khắp thế giới, nhu cầu về ODA của các quốc gia cũng gia tăng không
ngừng, trong khi đó lƣợng cung ODA lại có xu hƣớng giảm. Trƣớc tình trạng
đó, hơn lúc nào hết, công tác thu hút và quản lý sử dụng ODA trong xây dựng
CSHT giao thông ở nƣớc ta cần đƣợc đặc biệt quan tâm. Với Hà Nội - Thủ đô
của cả nƣớc thì việc phát triển CSHT giao thông cần phải đƣợc chú ý nhiều
hơn nữa. Diện tích mở rộng cộng với sự phát triển của kinh tế xã hội đã khiến
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phân tích đánh giá thực trạng quá trình triển khai công tác
thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong xây dựng CSHT giao
thông trên địa bàn Hà Nội thời gian qua, luận văn rút ra những ƣu điểm, hạn
chế và nguyên nhân của nó cả trên góc độ quản lý Nhà nƣớc và góc độ triển
khai dự án, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu hút,
quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA trong lĩnh vực xây dựng CSHT giao
thông tại Hà Nội trong thời gian tới.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động thu hút và quản lý sử dụng
nguồn vốn ODA trong xây dựng CSHT giao thông cả trên góc độ quản lý Nhà
nƣớc nói chung và trên góc độ triển khai các dự án ODA về xây dựng CSHT
giao thông trên địa bàn Hà Nội trong khoảng thời gian 10 năm (2001 - 2011).
5. Câu hỏi nghiên cứu của đề tài
Phân tích tình hình thu hút và quản lý sử dụng vốn ODA trong xây
dựng CSHT giao thông trên địa bàn Hà Nội thời gian qua, từ đó đề xuất một
số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác thu hút và quản lý sử dụng nguồn vốn
4
ODA trong lĩnh vực xây dựng CSHT giao thông tại Hà Nội trong thời gian
tới.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở phƣơng pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, luận
văn sử dụng các phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ: phƣơng pháp phân tích
thống kê, phƣơng pháp so sánh tổng hợp, khái quát hóa để làm sáng tỏ hơn
các kết luận đƣợc rút ra trong nghiên cứu. Luận văn quán triệt đƣờng lối
chính sách về đổi mới kinh tế của Đảng và Nhà nƣớc qua các giai đoạn, đặc
biệt là chính sách mở cửa và thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài.
7. Những đóng góp mới của luận văn
Luận văn hệ thống hóa và khái quát về mặt lý luận công tác thu hút và
thức đƣợc thiết lập với mục đích chính là thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã
hội của các nƣớc đang phát triển. Điều kiện tài chính của giao dịch này có
tính chất ƣu đãi và thành tố viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25%” [9].
Đến năm 1999, theo báo cáo nghiên cứu chính sách của Ngân hàng thế
giới (WB) xuất bản tháng 6/1999 có đƣa ra định nghĩa về ODA nhƣ sau:
“ODA là một phần của tài chính phát triển chính thức (ODF), trong đó có yếu
tố viện trợ không hoàn lại cộng với cho vay ƣu đãi và phải chiếm ít nhất 25%
trong tổng viện trợ thì gọi là ODA” [12] (ODF là tất cả các nguồn tài chính
mà chính phủ các nƣớc phát triển và các tổ chức đa phƣơng giành cho các
nƣớc đang phát triển).
Nghị định 87/CP của Chính phủ Việt Nam, có hiệu lực từ ngày
20/08/1997 đã định nghĩa ODA nhƣ sau: “ODA là viện trợ không hoàn lại
hoặc là cho vay ƣu đãi đối với các nƣớc đang phát triển của các tổ chức nƣớc
6
ngoài, với phần viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% giá trị của khoản
vốn vay” [8].
Theo chƣơng trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) trong “Báo cáo
tổng quan viện trợ phát triển chính thức tại Việt Nam, tháng 12/2002” có đƣa
ra về định nghĩa về ODA nhƣ sau: “Viện trợ phát triển chính thức (ODA) bao
gồm tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và các khoản cho vay đối với
các nƣớc đang phát triển, cụ thể là (i) do khu vực chính thức thực hiện; (ii)
chủ yếu nhằm phát triển kinh tế và phúc lợi; (iii) cung cấp với các điều khoản
ƣu đãi về mặt tài chính (nếu là vốn vay thì có phần không hoàn lại ít nhất là
25%)”.
Định nghĩa về ODA hiện hành đang đƣợc Chính phủ Việt Nam sử dụng
trong “Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức ODA”
ban hành theo Nghị định số 17/2001/NĐ-CP ngày 04/5/2011: Hỗ trợ phát
triển chính thức (sau đây gọi tắt là ODA) trong quy chế này đƣợc hiểu là hoạt
động hợp tác phát triển giữa Nhà nƣớc hoặc Chính phủ nƣớc Cộng hòa xã hội
là điểm phân biệt giữa viện trợ và cho vay thƣơng mại. Yếu tố “cho không”
đƣợc xác định dựa vào việc so sánh lãi suất viện trợ ở mức lãi suất tín dụng
thƣơng mại (tiêu chuẩn quy ƣớc là 10%/năm).
Tính ƣu đãi của ODA còn đƣợc thể hiện ở chỗ nó chỉ dành riêng cho
các nƣớc đang và chậm phát triển. Tuy nhiên, để nhận đƣợc nguồn vốn ODA,
các nƣớc đang phát triển phải đảm bảo đƣợc hai điều kiện cơ bản sau:
- Thứ nhất, mức GDP bình quân đầu ngƣời thấp. Nƣớc có GDP bình
quân đầu ngƣời càng thấp thƣờng nhận đƣợc tỷ lệ viện trợ không hoàn lại của
ODA càng lớn và khả năng vay với lãi suất thấp cũng nhƣ thời hạn ƣu đãi dài
8
hơn. Cho đến khi các nƣớc này đạt trình độ phát triển nhất định qua ngƣỡng
đói nghèo thì sự ƣu đãi sẽ giảm đi.
-Thứ hai, để đƣợc tiếp nhận ODA thì mục tiêu sử dụng vốn của các
nƣớc đang phát triển phải phù hợp với phƣơng hƣớng ƣu tiên xem xét trong
mối quan hệ giữa bên cấp ODA và bên nhận ODA.
Trên thế giới hiện có khoảng chừng 150 nƣớc đang phát triển, khoảng
77% dân số thế giới hiện đang sống ở những nƣớc này. Thế nhƣng, tổng sản
phẩm quốc dân (GNP) của những nƣớc đang phát triển này lại chƣa đầy 14%
trong tổng số của toàn thế giới. Khoảng cách về kinh tế và xã hội giữa những
nƣớc công nghiệp tiên tiến và những nƣớc đang phát triển chẳng những không
thu hẹp mà ngày càng mở rộng thêm.
Những vấn đề nan giải chính nảy sinh trong những nƣớc đang phát
triển không chỉ thuần túy liên quan đến vấn đề kinh tế, mà cả những vấn đề
khác nữa nhƣ tỷ lệ tăng dân số cao, đói ăn và suy dinh dƣỡng, tuổi thọ ngắn
ngủi và những vấn đề về môi trƣờng. Đặc biệt nghiêm trọng là vấn đề dân số.
Trong hoàn cảnh đó, ở những nƣớc đang phát triển, công tác y tế, vệ sinh,
cung cấp nƣớc sạch, giáo dục và một loạt những thứ gọi là những nhu cầu cơ
bản của con ngƣời còn thiếu rất nhiều. Hơn nữa, những nƣớc này đang tụt hậu
trong các lĩnh vực giao thông vận tải, viễn thông, năng lƣợng, công nghiệp
nƣớc đang phát triển nhƣ cho phép thực hiện các chƣơng trình xóa đói, giảm
nghèo, cải cách giáo dục, nâng cao chất lƣợng y tế cộng đồng, bảo vệ môi
trƣờng sinh thái, dinh dƣỡng,…
- Thứ tư, trợ giúp chính phủ các nƣớc đang phát triển thực hiện các
chƣơng trình nghiên cứu tổng hợp nhằm hoạch định chính sách hay cung cấp
10
thông tin cho đầu tƣ tƣ nhân bằng các hoạt động điều tra, khảo sát, đánh giá
tài nguyên và hiện trạng kinh tế - xã hội ở các ngành, các vùng lãnh thổ.
Nói tóm lại, ODA đƣợc ƣu tiên cho những dự án kinh tế - xã hội không
sinh lợi trực tiếp, hoặc khả năng thu hồi vốn chậm, nhƣng lại có ý nghĩa và
ảnh hƣởng quan trọng đến việc tạo lập một môi trƣờng thuận lợi cho sợ phát
triển của đất nƣớc nói chung và khuyến khích đầu tƣ tƣ nhân trong và ngoài
nƣớc nói riêng. Mặt khác, ODA còn là công cụ thúc đẩy sự gắn bó các quan
hệ giữa nƣớc cung cấp ODA và nƣớc tiếp nhận, đồng thời nó góp phần đáng
kể và củng cố nền hòa bình và giải quyết các vấn đề chung của toàn thế giới.
b, ODA với những lợi ích chiến lược và chính trị ngắn hạn của bên cung cấp
Mục đích chung của ODA theo quan điểm chính thống trên thế giới
giúp đỡ các nƣớc nghèo phát triển kinh tế - xã hội và con ngƣời. Tuy nhiên,
ngoài việc thực hiện các mục tiêu giúp các nƣớc nghèo phát triển, các nƣớc,
các tổ chức cung cấp ODA còn theo đuổi các mục đích riêng tùy theo từng
nƣớc và tùy vào từng giai đoạn lịch sử nhất định. Các mục tiêu đó có thể là:
- Lợi ích kinh tế có đƣợc từ các khoản ODA mang lại.
- Mở rộng xuất khẩu (buộc nƣớc nhận ODA mua sản phẩm của họ).
- Mở rộng hợp tác quốc tế có lợi cho họ.
- Đảm bảo an ninh quốc phòng hoặc theo đuổi các mục tiêu chính trị
khác.
Thí dụ, chƣơng trình viện trợ của chính phủ Mỹ chủ yếu quan tâm đến
việc ủng hộ các nƣớc đồng minh chiến lƣợc hơn là để giảm nghèo khổ. Trong
các nƣớc này, Israen và Ai Cập thu hút hơn một nửa ngân sách viện trợ của
quản lý còn thấp, lại thiếu kinh nghiệm trong tiếp nhận, xử lý và điều hành dự
án,…
Ở Việt Nam, vốn vay bao gồm vay của Chính phủ và vay của các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội; thông thƣờng vốn vay của Chính
phủ đƣợc hoàn trả bằng nguồn ngân sách Nhà nƣớc. Vay của Chính phủ
thƣờng là vay ODA theo các hiệp định song phƣơng và đa phƣơng. Nhƣ vậy
thực chất của ODA là vốn vay, phải trả cả gốc và lãi gắn liền với kế hoạch trả
nợ của ngân sách nhà nƣớc hàng năm. Vốn vay ODA đƣợc tập trung vào ngân
sách Nhà nƣớc, là một nguồn vốn của ngân sách Nhà nƣớc vì thế nó phải tuân
theo các quy định của luật ngân sách Nhà nƣớc, quy chế vay và trả nợ nƣớc
ngoài. Cho nên vấn đề đặt ra là phải sử dụng vốn vay ODA đúng mục đích
phát triển kinh tế - xã hội, (trong đó có một bộ phận đƣợc sử dụng để xây
dựng CSHT giao thông) và phải thực hiện đƣợc các nhiệm vụ của chính sách
tài chính quốc gia đó là chi tiêu tiết kiệm, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm
thƣớc đo chủ yếu. Đồng thời, ODA là vốn vay nƣớc ngoài nên phải chịu sự
quản lý, tác động của phía nƣớc ngoài trong việc sử dụng ODA và phải tuân
theo các quy định của nhà tài trợ. Vì vậy, cũng cần đàm phán để đạt yêu cầu
tối thiểu về lãi suất, thời hạn vay, thẩm định, giá, định mức chi tiêu, phí tƣ
vấn, chính sách đối với chuyên gia, tỷ giá đồng tiền vay,… Viện trợ không
hoàn lại cũng đƣợc quản lý nhƣ một nguồn thu của ngân sách Nhà nƣớc giành
cho đầu tƣ phát triển, còn phần vay ƣu đãi đƣợc hạch toán bù đắp bội chi ngân
sách Nhà nƣớc để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ nƣớc ngoài, để khi đến
hạn có thể thực hiện thanh toán trả nợ nƣớc ngoài một cách đầy đủ và đúng
hạn.
Nhƣ vậy, rõ ràng viện trợ của các nƣớc phát triển dành cho các nƣớc
đang phát triển, không phải chỉ là sự giúp đỡ “hào hiệp, vô tƣ”, giúp xóa đói
13
giảm nghèo, bảo vệ môi trƣờng, đáp ứng những yêu cầu cơ bản nhất của con
ngƣời một cách đơn thuần nhƣ họ vẫn thƣờng nói, mà trƣớc hết vẫn là vì lợi
cung cấp viện trợ và nƣớc tiếp nhận viện trợ.
- ODA hỗn hợp: là các khoản ODA kết hợp một phần ODA không
hoàn lại và một phần tín dụng thƣơng mại theo các điều kiện của tổ chức Hợp
tác kinh tế và phát triển, thậm chí có loại ODA vốn vay kết hợp tới ba loại
hình gồm một phần ODA không hoàn lại, một phần vốn ƣu đãi và một phần
tín dụng thƣơng mại. Nhƣng tính chung lại thì yếu tố không hoàn lại hay
thành tố hỗ trợ phải đạt ít nhất 25% so với tổng giá trị các khoản vay đó.
b, Phân theo nguồn cung cấp
Theo nguồn cung cấp, ODA có hai loại: ODA song phƣơng và ODA đa
phƣơng [9].
- ODA song phƣơng: Là nguồn vốn chuyển trực tiếp giữa hai chính phủ
với nhau nên thủ tục tiến hành cung cấp và tiếp nhận so với nguồn ODA đa
phƣơng đơn giản hơn và thời gian ký kết viện trợ cũng nhanh hơn. Song các
nƣớc cung cấp yêu cầu nội dung của các khoản viện trợ phải rất chi tiết và cụ
thể. Và đi kèm là các ràng buộc về kinh tế hoặc chính trị hoặc cả hai.
ODA đa phƣơng: Là nguồn viện trợ đƣợc hình thành từ sự đóng góp
của các nƣớc giàu và nguồn quỹ này do các tổ chức quốc tế, các tổ chức
chuyên môn, các tổ chức tài chính quản lý. Thực hiện theo mục đích, tôn chỉ
riêng của mình, các tổ chức tài chính quốc tế nhƣ Ngân hàng thế giới (WB),
Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB), các tổ chức
15
thuộc Liên hợp quốc (FAO, WHO, UNDP,…) các khoản hỗ trợ của các tổ
chức thuộc Liên hợp quốc thƣờng là viện trợ không hoàn lại.
Ngoài hai nguồn cung cấp ODA kể trên, không thể không kể đến sự
đóng góp tích cực của các tổ chức phi chính phủ (NGOs) trong việc cung cấp
ODA trên thế giới. Các tổ chức này xuất hiện ngày càng nhiều, theo OECD,
số lƣợng các tổ chức này tăng đáng kể trong 10 năm gần đây.
c, Phân loại theo mục tiêu sử dụng
Theo mục tiêu sử dụng, ODA có 4 loại [9]:
1.1.2. Nguồn gốc lịch sử của ODA
ODA ra đời vào những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai bắt nguồn
từ tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu, tiền thân của tổ chức hợp tác kinh tế và
phát triển OECD (Organization for Economic Cooperation and
Development). Tổ chức hợp tác kinh tế châu Âu đƣợc thành lập để tiếp nhận
quản lý khoản viện trợ trị giá khoảng 25 tỷ USD trong khuôn khổ của kế
hoạch Marshall nhằm xây dựng lại châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai.
Tổ chức OECD ra đời vào ngày 14/12/1960 tại Paris thay thế cho tổ
chức hợp tác kinh tế châu Âu, với thành viên là các nƣớc phát triển, xuất phát
từ ý tƣởng thành lập một tổ chức bao gồm các nền kinh tế phát triển đồng ý
cung cấp giúp đỡ các nƣớc nghèo phát triển. OECD đã thành lập các Ủy ban
chuyên môn để điều phối hoạt động của mình, một trong số các ủy ban đó là
Ủy ban hỗ trợ phát triển DAC (Development Assistance Committee). DAC có
nhiệm vụ hỗ trợ và cân đối toàn bộ nguồn viện trợ do các nƣớc thành viên của
OECD đóng góp cho các nƣớc đang và chậm phát triển nhằm phát triển kinh
17
tế xã hội ở các nƣớc này. Ngoài ra DAC cũng có chức năng là đƣa ra các chủ
trƣơng, chính sách cung cấp ODA cho xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế
ở các nƣớc chậm phát triển. DAC có 25 thành viên đó là các nƣớc: Anh, Áo,
Bỉ, CH Czech, Canada, Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Đức, Hàn Quốc, Hunggary,
Hà Lan, Iceland, Italia, Nhật Bản, Netherlands, Nauy, New Zealand, Mỹ,
Phần Lan, Pháp, Lucxămbua, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Úc. Tổ
chức hợp tác kinh tế và phát triển đã hoạt động có hiệu quả cao ngay từ ngày
mới thành lập. Họ đã nhận đƣợc sự ủng hộ nhiệt tình của cả bên tiếp nhận hỗ
trợ và bên cung cấp hỗ trợ. Khái niệm ODA đã đƣợc Ủy ban hỗ trợ phát triển
(DAC) của Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) chính thức đề cập
đến vào năm 1969. Đến lúc này, sự đóng góp của những nƣớc phát triển cho
quá trình tăng trƣởng kinh tế ở các nƣớc nghèo đã không chỉ còn mang tính tự
giác nữa mà đã có tính bắt buộc. Vào thời điểm năm 1970 Đại hội đồng Liên
Trì phục vụ cho công tác quy hoạch và giải phóng mặt bằng, tái định cƣ.
Dự án xây dựng nhà ga T2 sân bay Nội Bài khởi công ngày 04/12/2011
với tổng mức đầu tƣ gần 900 triệu USD thì trong đó vốn vay ODA Nhật Bản
đã là 691 triệu USD. Dự án đầu tƣ gồm nhà ga hành khách T2 có 4 tầng với
diện tích mặt bằng khoảng 139.000 m2, đƣợc thiết kế theo mô hình dạng cánh
với ý tƣởng hài hòa với thiên nhiên, tận dụng tối đa ánh sáng tự nhiên, tiết
kiệm năng lƣợng. Nhà ga sẽ đƣợc đầu tƣ hệ thống thiết bị, dây chuyền công
nghệ hàng không tiên tiến, theo tiêu chuẩn quốc tế. Lƣu lƣợng vận chuyển
hàng không tại sân bay Nội Bài đã vƣợt quá công suất của nhà ga T1 từ năm
2007. Sản lƣợng năm 2010 đạt trên 9,5 triệu hành khách và đạt 11 triệu hành
khách vào năm 2011. Nhà ga T2 sau khi hoàn thành sẽ góp phần giải quyết