3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Phát triển bền vững là xu thế chung mà toàn nhân loại đang nỗ lực thực
hiện. Đó cũng là mục tiêu chiến lược quan trọng mà Đảng, Chính phủ và nhân
dân Việt Nam quyết tâm biến thành hiện thực trong hiện tại và tương lai.
Cùng với quá trình đổi mới, trong những năm qua nền kinh tế nước ta đã
tăng trưởng với tốc độ cao và tương đối ổn định. Sản xuất nông nghiệp và kinh tế
nông thôn phát triển đa dạng, góp phần bảo đảm an toàn lương thực quốc gia và
tham gia xuất khẩu với khối lượng lớn. Nhiều loại nông sản đã trở thành những
mặt hàng xuất khẩu quan trọng của Việt Nam. Công nghiệp đã được cơ cấu lại,
tăng trưởng khá nhanh và đang dần dần có tỷ trọng ngày càng cao trong nền kinh
tế. Các ngành dịch vụ đã được mở rộng và chất lượng phục vụ đã được nâng lên,
đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế và phục vụ đời sống dân cư. Kinh tế đối
ngoại phát triển, xuất khẩu tăng cao, thị trường trong nước đã thông thoáng hơn
với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế. Việc thu hút các nguồn vốn đầu tư
nước ngoài tiếp tục đạt được những kết quả khích lệ.
Trong lĩnh vực xã hội, Việt Nam cũng đạt được nhiều thành tựu quan trọng
trong giáo dục và đào tạo, chăm lo bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, phát triển văn
hoá, thông tin và các hoạt động xã hội khác. Đặc biệt là trong lĩnh vực xoá đói
giảm nghèo - một yếu tố quan trọng của phát triển bền vững - chúng ta cũng đạt
được những thành tựu nổi bật. Ở nước ta, xóa đói giảm nghèo được coi là mục
tiêu xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Ngay từ khi Việt Nam giành được độc lập (1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
xác định đói nghèo như là một thứ "giặc", cũng như giặc dốt, giặc ngoại xâm,
nên đã đưa ra mục tiêu phấn đấu để nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm
cho mọi người có công ăn, việc làm, ấm no và đời sống hạnh phúc.
Giảm đói nghèo không chỉ là một trong những chính sách xã hội cơ bản,
tăng trưởng kinh tế cao, giao lưu kinh tế mạnh. Bước vào năm 2010, tỉnh Bắc
Ninh đã có 13 năm tái lập. Nhìn lại chặng đường 13 năm xây dựng và phát triển,
mặc dù còn nhiều khó khăn và thách thức, song tỉnh Bắc Ninh đã nỗ lực phấn
đấu giành được những thành tựu quan trọng. Nhịp độ tăng trưởng kinh tế luôn
giữ ở mức độ cao, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong tỉnh tăng 13,5% trong
5
đó khu vực nông nghiệp tăng 6%; khu vực công nghiệp xây dựng cơ bản tăng
22%; khu vực dịch vụ tăng 12,5% mỗi năm; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực
theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá. Tỷ trọng công nghiệp xây dựng cơ
bản tăng nhanh từ 23,7% năm 1997 lên 47,8% năm 2008; Tỷ trọng nông nghiệp
giảm từ 45% năm 1997 xuống còn 23,6% năm 2008. Năm 2005 còn 10 % số hộ
nghèo (Tỷ lệ chung của cả nước là 17%), đến năm 2008 còn 7,5% - theo tiêu chí
năm 2000 (cả nước là 14,87%, vùng đồng bằng sông Hồng là 9,61%,). Năm 2009
là 5,82%. Tuy nhiên, kết quả xoá đói, giảm nghèo ở Bắc Ninh chưa thật bền
vững, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ tái nghèo-
nhất là vùng thuần nông, nơi khó khăn.
Cùng với các địa phương trong cả nước giai đoạn từ nay đến năm 2015 là
giai đoạn quan trọng để kinh tế tỉnh Bắc Ninh đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện
đại hoá. Cùng với nỗ lực của cả nước trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn
cầu, Bắc Ninh đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức trong việc theo đuổi
mục tiêu vừa tăng trưởng kinh tế nhanh, vừa sớm hạ thấp tỷ lệ đói nghèo và thực
hiện công bằng xã hội một cách bền vững. Để góp phần thực hiện mục tiêu
“kép”, nhiều tham vọng này, việc nghiên cứu một cách toàn diện công cuộc Xoá
đói giảm nghèo trong quá trình tăng trưởng kinh tế tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn
từ khi tái lập tỉnh (1997) đến nay và đề ra những Giải pháp cơ bản về tăng trưởng
kinh tế và xoá đói giảm nghèo ở tỉnh Bắc Ninh giai đoạn từ nay đến năm 2015 là
yêu cầu cấp thiết.
2. Tình hình nghiên cứu :
Vấn đề xoá đói giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế luôn được các nhà
giải quyết công bằng xã hội nên áp dụng cho Việt Nam trong quá trình tăng
trưởng kinh tế của mình.
Phạm Lan Hương, Đinh Hiểu Minh, Bùi Quang Tuấn (2003), "Quan hệ
giữa việc làm, đói nghèo và các chính sách tăng trưởng thiên về người nghèo ở
Việt Nam", NXB Lao động xã hội.
Các tác giả đã phân tích mối quan hệ giữa việc làm và đói nghèo, cho rằng
tăng trưởng kinh tế và tạo nhiều việc làm là cơ sở để giảm nhanh đói nghèo. Từ
đó đưa ra các chính sách tăng trưởng thiên về người nghèo.
Lê Bộ Lĩnh (1998), "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số
nước Châu Á và Việt Nam", NXB Chính trị quốc gia.
7
Tác giả đã khái quát lý thuyết và thực tiễn tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội ở Châu Á, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nền kinh tế
Đông Bắc Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Đông Nam Á như Malaixia,
Thái Lan, Việt Nam. Tác giả đã phân tích những mặt thành công nhất trong một
vài lĩnh vực của quá trình thực hiện công bằng xã hội ở mỗi nước trong đó có
Việt Nam, tác giả cũng chưa nêu những bài học kinh nghiệm cụ thể nào từ các
nước có thể áp dụng cho Việt Nam.
Lê Xuân Bá, Chu Tiến Quang (2001), "Nghèo đói và Xoá đói giảm nghèo ở
Việt Nam", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
Các tác giả đã phân tích thực trạng đói nghèo ở Việt Nam và nguyên nhân
của thực trạng đó. Từ những nguyên nhân trên các tác giả cũng đưa ra những giải
pháp cụ thể áp dụng cho Việt Nam để có thể Xoá đói giảm nghèo nhanh chóng.
Đỗ Phú Trần Tình (2010), "Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội (Lý
thuyết và thực tiễn ở Hồ Chí Minh) ", NXB Lao động.
Tác giả khảo sát một yếu tố quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế là công
bằng xã hội, là yếu tố tác động thuận lợi để giúp tăng trưởng có chất lượng ngày
càng cao. Tăng trưởng kinh tế và Công bằng xã hội luôn là mục tiêu xuyên suốt
trong chiến lược tăng trưởng kinh tế của Việt Nam, và qua khảo sát phạm vi
trưởng kinh tế của tỉnh Bắc ninh.
* Phạm vi nghiên cứu: Vấn đề xoá đói giảm nghèo trong bối cảnh tăng
trưởng kinh tế ở Bắc Ninh được tiếp cận từ góc độ kinh tế - chính trị.
* Thời gian nghiên cứu: Từ ngày tái lập tỉnh Bắc Ninh (1997) đến nay.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sẽ được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối và chính
sách của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế - xã hội và công cuộc xoá đói
giảm nghèo. Luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử
và các phương pháp nghiên cứu cụ thể của kinh tế học và xã hội học như:
Phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp, đối chiếu, so sánh, phương pháp điều
tra phỏng vấn, tổng kết thực tiễn để đánh giá và làm sáng tỏ các vấn đề nghiên
cứu của đề tài.
9
6. Những điểm mới của luận văn:
- Đưa ra những đánh giá sát thực về thực trạng đói nghèo và xoá đói giảm
nghèo ở Tỉnh Bắc Ninh trong thời gian qua (từ khi tái lập tỉnh - 1997 - đến nay);
chỉ rõ những vấn đề cần giải quyết và nguyên nhân của chúng.
- Đề xuất được một số kiến nghị có tính chất giải pháp nhằm thúc đẩy công
cuộc xoá đói giảm nghèo trên cơ sở gắn kết nó với quá trình tăng trưởng kinh tế
trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.
7. Cấu trúc và nội dung của Luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn được cấu trúc gồm 3 chương :
Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về tăng trưởng kinh tế, công bằng xã
hội và nghèo đói.
Chương 2. Thực trạng và những vấn đề đặt ra về xoá đói giảm nghèo trong
quá trình tăng trưởng kinh tế ở tỉnh Bắc Ninh từ ngày tái lập tỉnh (1997) đến nay
Chương 3. Giải pháp cơ bản về tăng trưởng kinh tế và xoá đói giảm nghèo
ở tỉnh Bắc Ninh từ nay đến 2015
thác nguồn lực trong nước và ngoài nước. Mỗi quốc gia trên thế giới đều có sự
kết hợp và khả năng khai thác các nguồn lực khác nhau. Song, quan niệm chung
nhất là, phải tạo ra được sự tiến bộ toàn diện cả về kinh tế và xã hội, trong đó
tăng trưởng là tiền đề cần thiết cho sự phát triển.
Vậy, tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm về quy mô, sản lượng sản phẩm
hàng hoá và dịch vụ trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Nếu tổng
sản phẩm hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia tăng lên thì nó được coi là tăng
trưởng kinh tế. Hay nói cách khác, tăng trưởng kinh tế chỉ thể hiện mặt lượng
của nền kinh tế theo theo thời gian.
Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta thường dùng mức tăng lên của
tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hay tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Mức tăng đó
thường tính trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân, hay tính bình quân theo đầu người
của một thời kỳ nào đó từ năm gốc (năm 0) đến năm thứ n. Thông thường người
ta thường đo mức tăng hay tốc độ tăng trưởng kinh tế của một năm, chẳng hạn
năm thứ n. Trong trường hợp này, năm gốc chính là năm trước đó (n-1).
Khi đo lường sự tăng trưởng người ta thường sử dụng các số đo tuyệt đối
và số đo tương đối.
Mức tăng trưởng tuyệt đối: có thể được tính theo hai phương pháp.
- Theo tổng sản phẩm (GNP hay GDP) của nền kinh tế: ∆Y
n
= Y
n
– Y
0
Trong đó:
∆Y
n
: tổng sản phẩm tăng thêm của năm n so với năm gốc.
Y
n
n
YY
gY
Y
x 100 =
0
n
Y
Y
x 100
Trong đó: g(Y
n
) là tốc độ tăng trưởng GNP (GDP) của toàn bộ nền kinh tế
của năm n, tính bằng phần trăm.
- Theo GNP (GDP) bình quân đầu người:
0
0
n
n
yy
gy
y
x 100 =
chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại và kèm theo đó là việc không
ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình độ phát triển văn minh xã hội thể hiện
ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ
sơ sinh, trình độ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu
khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế - xã hội…
Như vậy, phát triển kinh tế có thể hiểu là một quá trình tăng tiến về mọi mặt
của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng thêm
về qui mô sản lượng và sự tiến bộ về cơ cấu kinh tế xã hội. Đó cũng là quá trình
đảm bảo sự tiến bộ, thịnh vượng và cuộc sống tốt đẹp hơn cho đông đảo người
dân.
Với nội hàm rộng lớn trên đây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế đã
phản ánh nhiều mặt khác nhau của tiến trình kinh tế của một đất nước. Tuy nhiên
trong khoảng hai thập niên vừa qua, do xu hướng hội nhập, khu vực hoá, toàn
cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên đã nảy sinh nhiều vấn đề dù là ở
phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung đến sự
phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong đó có những vấn đề cực kỳ phức
tạp, nan giải đòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng đồng nhân loại, ví dụ như:
môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ đó đòi hỏi sự
phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và cả thế giới phải được nâng lên tầm cao
mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển. Thực tiễn đó đã thúc
đẩy sự ra đời một khái niệm mới về phát triển phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện
hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, đó là khái
niệm phát triển bền vững.
Phát triển bền vững
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi
trường từ những năm đầu của thập niên 70 của thế kỷ 20. Năm 1987, trong Báo
cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội đồng Thế giới về Môi trường và
13
Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc, “phát triển bền vững” được định nghĩa
14
các ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm phát triển bền vững, thực hiện thắng lợi
sự nghiệp CNH, HĐH” [26, tr,18]. Quan điểm phát triển bền vững đã được tái
khẳng định trong các văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001)
của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
2001-2010 là: “Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi
với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường” và “Phát triển kinh
tế - xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hoà giữa
môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học”
[19,114].
Khi xem xét mối quan hệ giữa tăng trưởng và phát triển kinh tế thì tăng
trưởng là điều kiện, tiền đề cho sự phát triển. Bởi vì, nền kinh tế có tăng trưởng
thì mới có khả năng tăng ngân sách nhà nước, tăng thu nhập của dân cư. Nhờ có
tăng trưởng kinh tế, Nhà nước mới có thể tăng đầu tư cho giáo dục, chăm sóc sức
khỏe nhân dân, xây dựng kết cấu hạ tầng, giải phóng sức sản xuất và có điều kiện
giải quyết các chính sách xã hội. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện làm thay đổi
mọi mặt đời sống xã hội và tác động trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế.
Ngược lại sự tiến bộ về mọi mặt của nền kinh tế sẽ là động lực đẩy nhanh tốc độ
tăng trưởng. Tuy nhiên tăng trưởng chỉ là điều kiện cần, nhưng nó chưa là điều
kiện đủ để phát triển. Tăng trưởng mà không phát triển sẽ dẫn đến suy thoái cả về
kinh tế, xã hội và không thể duy trì bền vững, ngược lại phát triển mà không tăng
trưởng là không tồn tại trong thực tế.
1.1.2. Công bằng xã hội: Khái niệm và các thước đo
Khác với khái niệm tăng trưởng kinh tế trong kinh tế học ở chỗ mang tính
thực chứng, là cái có thể xác định bằng con số, khái niệm công bằng xã hội mang
tính chuẩn tắc, nghĩa là tuỳ thuộc nhiều vào quan điểm của con người. Định
nghĩa về công bằng xã hội chính vì thế mà chỉ mang tính tương đối, bởi vì nó
đúng với thời điểm này, song lại không phù hợp với thời điểm khác. Trong điều
kiện và trình độ phát triển kinh tế ở nước ta, Từ điển Bách khoa Việt Nam mô tả
- Gánh chịu rủi ro khác nhau.
Xã hội công bằng, đương nhiên không phải là một xã hội bình quân cào
bằng và cũng không chỉ công bằng về lợi ích vật chất, lợi ích kinh tế trong phân
phối, mà còn đòi hỏi phải có sự công bằng về chính trị, về pháp luật, về tự do tín
ngưỡng và không tín ngưỡng, về tự do dân chủ và sự bình đẳng về cơ hội sản
xuất, kinh doanh, được tự do hành nghề, mà ngành nghề đó không bị pháp luật
16
ngăn cấm. Do vậy, một nội dung quan trọng của xã hội công bằng trước hết là
thiết lập một sân chơi bình đẳng trong xã hội cho tất cả các thành phần kinh tế,
mọi thành viên xã hội được tự do đua tài trên thương trường theo pháp luật.
Một vấn đề đáng lưu ý là luôn có một số người phải gánh chịu những rủi ro,
những điều không may mắn của tạo hoá như tật nguyền, cô đơn, cơ nhỡ , do đó
xã hội phải có chính sách nhân đạo đối với họ.
Cơ hội ở đây còn được biểu hiện là sự bình đẳng trong cơ hội việc làm, cơ
hội về buôn bán và đầu tư, bình đẳng trong việc tiếp cận với những cơ hội mà với
sự cố gắng và năng lực sẵn có của con người có thể đạt đến một mức sống cao
hơn. Đây chính là kết quả sự công bằng được thực hiện trong phát triển và vì vậy,
nếu khi mọi tầng lớp dân chúng có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển và
được thụ hưởng thành quả của sự phát triển tương ứng với sức lực, trí tuệ và tài
năng của mình thì lúc đó hiện tượng này được coi là sự phát triển công bằng.
Luận điểm này khác hẳn một số quan niệm tầm thường hoá công bằng xã hội
trong sự tăng trưởng theo cái gọi là cào bằng thu nhập, bình quân hoá mức sống
theo hướng thủ tiêu các động lực theo hướng của sự tăng trưởng kinh tế và phát
triển xã hội.
Để khảo sát vấn đề công bằng xã hội, người ta sử dụng các thước đo sau:
Phân phối thu nhập theo đầu người hoặc các nhóm dân cư: thước đo này
tính phân phối thu nhập cho từng cá nhân hoặc hộ gia đình nhận được trong một
thời gian nhất định, không quan tâm đến nguồn mang lại thu nhập và môi trường
sống của dân cư. Phương pháp tính là người ta thường chia dân số của một nước,
20
Nghèo
1,9
5
20
Rất nghèo
1,4
Ta có thể thấy mức độ công bằng xã hội thông qua việc so sánh nhóm giàu
nhất và nhóm nghèo nhất: (Ở ví dụ trên, 20% dân số giàu nhất có thu nhập nhiều
gấp 59 lần so với 20% dân số nghèo nhất).
Đường cong Lorenz: mô tả chênh lệch trong phân phối thu nhập. Nó được
biểu thị trong một hình vuông mà cạnh đáy biểu thị phần trăm cộng dồn số người
được nhận thu nhập và cạnh bên biểu thị phần trăm cộng dồn tổng thu nhập được
phân phối. Đường chéo của hình này (OI) biểu thị mức độ bình đẳng tuyệt đối
trong phân phối thu nhập, bởi vì mọi điểm nằm trên đường chéo OI phản ánh các
mức phân bổ đồng đều giữa phần trăm dân số cộng dồn và phần trăm tổng thu
nhập cộng dồn. Đường cong Lorenz càng gần đường bình đẳng tuyệt đối, phân
phối càng công bằng.
Đường cong Lorenz là một công cụ tiện lợi, giúp đánh giá tác động của các
chính sách đến mức độ công bằng trong phân phối thu nhập của các nhóm dân
cư. Nó cho phép hình dung được mức độ bất bình đẳng trong phân phối thu nhập
giữa các nhóm dân cư thông qua việc quan sát hình dạng của đường cong. Nó
cũng cho phép so sánh mức độ bất bình đẳng trong phân phối giữa các quốc gia
hay giữa các thời kỳ phát triển.
Tuy nhiên sử dụng phương pháp này có những hạn chế. Đó là, phương pháp
này chưa lượng hoá được mức độ bất bình đẳng bằng một chỉ số, do đó mà mọi
sự so sánh chỉ mang tính chất định tính. Nó cũng không đưa ra một kết luận
chính xác khi các đường Lorenz giao nhau và rất phức tạp khi phải so sánh quá
nhiều nước trong cùng một lúc.
coi là một chỉ số đánh giá trình độ phát triển của một nước ở một thời kì nhất
đinh. Những nhu cầu cơ bản này bao gồm mức thấp nhất về dinh dưỡng, sức
khoẻ, mặc, ở và các khả năng đảm bảo sự phát triển cá nhân. Dù có những quan
Đường bình đẳng
tuyệt đối
A
B
19
điểm khác nhau về các nhu cầu cơ bản, nhưng nhìn chung là có thể đo được các
nhu cầu này. Một xã hội không được coi là công bằng khi đại đa số dân cư không
được thoả mãn các nhu cầu cơ bản bất luận GNP/người cao hay thấp.
Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI): được
UNDP đưa ra làm tiêu chí để đánh giá sự phát triển, sự tiến bộ của một quốc gia.
Chỉ số HDI được xây dựng trên ba chỉ tiêu cơ bản nhất, thể hiện cho sự phát triển
là:
- Tuổi thọ bình quân: chỉ tiêu này đo bằng thời gian sống bình quân của mỗi
người dân trong một quốc gia từ khi ra đời cho đến lúc chết. Tuổi thọ phản ánh
chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần, trình độ y tế, chính sách quốc
gia về kinh tế - xã hội.
- Thành tựu giáo dục: chỉ tiêu này có hai nội dung chính: trình độ học vấn
của người dân và số năm được giáo dục bình quân.
- Mức thu nhập bình quân đầu người: là mức GDP tính theo đầu người.
Như vậy, HDI phản ánh được ba mặt quan trọng của chất lượng cuộc sống
con người là tuổi thọ, trình độ học vấn, trí tuệ qua giáo dục và GDP/người. Nếu
xã hội phát triển đồng bộ, cân đối, hài hoà cả ba mặt trên thì HDI sẽ cao và
ngược lại. Tuy nhiên chỉ tiêu này không phản ánh được sự khác biệt của các chế
độ xã hội, không phản ánh được nhiều mặt quan hệ xã hội của cuộc sống.
Chỉ số chất lượng vật chất cuộc sống: chỉ số này được tính toán dựa trên 3
Nghèo tương đối
Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, nghèo được định nghĩa dựa
vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân. Nghèo tương đối có thể được xem như là việc
cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người
thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với sự sung túc của xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác
định khách quan. Bên cạnh việc thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu
thốn tài nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về
văn hóa-xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một
phần được các nhà xã hội học xem như là một thách thức xã hội nghiêm trọng.
Ranh giới nghèo tương đối
Ranh giới cho nạn nghèo tương đối dựa vào nhiều số liệu thống kê khác
nhau cho một xã hội. Một con số cho ranh giới của nạn nghèo được dùng trong
chính trị và công chúng là 50% hay 60% của thu nhập trung bình. Vì thế từ năm
2001 trong các nước thành viên của Liên minh châu Âu những người được coi là
21
nghèo khi có ít hơn 60% của thu nhập trung bình. Lý luận của những người phê
bình cho rằng con số này trên thực tế cho biết rất ít về chuẩn mực cuộc sống của
con người. Những ai hiện tại có mức thu nhập thấp hơn 50% so với thu nhập
trung bình thì cũng vẫn có mức thu nhập ít hơn 50% thu nhập trung bình khi tất
cả các thu nhập đều tăng gấp 10 lần. Vì thế những người đó vẫn còn là nghèo
tương đối. Và khi những người giàu bỏ đi hay mất tiền của thì mức thu nhập
trung bình sẽ giảm đi và vì thế làm giảm thiểu nghèo tương đối trong một nước.
Ngược lại nghèo tương đối sẽ tăng lên khi một người không nghèo có thể tăng
được thu nhập ngay cả khi những người có thu nhập khác vẫn không có thay đổi.
Người ta còn phê bình là ranh giới nghèo trộn lẫn vấn đề nghèo với vấn đề phân
bố thu nhập. Vì không có sự phân chia rõ ràng giữa nghèo và giàu trên thực tế
Chun nghốo ca Vit Nam qua cỏc giai on
i vi Vit Nam, Chớnh ph Vit Nam ó 5 ln nõng mc chun nghốo
trong thi gian t 1993 n cui nm 2008.
Nm 1993 chun úi nghốo chung cú mc chi tiờu l 1,16 triu
ng/nm/ngi (cao hn chun úi nghốo lng thc thc phm l 55%); nm
1998 l 1,79 triu ng/nm/ngi (cao hn chun úi nghốo lng thc thc
phm l 39%). Da trờn cỏc chun nghốo ny, t l úi nghốo chung nm 1993 l
58% v 1998 l 37,4%; cũn t l úi nghốo lng thc tng ng l 25% v
15%.
Năm 1997, Việt Nam đ-a ra chuẩn nghèo đói thuộc phạm vi của ch-ơng
trình quốc gia để áp dụng cho thời kỳ 1996-2000 nh- sau: Hộ nghèo: là hộ có
thu nhập tuỳ theo từng vùng ở các mức t-ơng ứng nh- sau: Vùng nông thôn miền
núi, hải đảo: d-ới 15 kg gạo/ng-ời/tháng (t-ơng đ-ơng 55 ngàn đồng); vùng nông
thôn đồng bằng, trung du: d-ới 20 kg/ng-ời/tháng (t-ơng đ-ơng 70 ngàn đồng);
vùng thành thị: D-ới 25kg/ng-ời/tháng (t-ơng đ-ơng 90 ngàn đồng). Xã nghèo:
là xã có tỷ lệ hộ nghèo đói từ 40% trở lên, thiếu cơ sở hạ tầng (đ-ờng giao thông,
tr-ờng học, trạm y tế, điện sinh hoạt, n-ớc sinh hoạt, thuỷ lợi nhỏ và chợ).
Trc nhng thnh tớch ca cụng cuc gim nghốo cng nh tc tng
trng kinh t v mc sng, t nm 2001 Chớnh ph ó cụng b mc chun
nghốo mi ỏp dng cho thi k 2001-2005, theo ú chun nghốo ca Chng
trỡnh xúa úi gim nghốo quc gia mi c xỏc nh mc khỏc nhau tu
theo tng vựng, c th bỡnh quõn thu nhp l: 80 nghỡn ng/ngi/thỏng cỏc
vựng hi o v vựng nỳi nụng thụn; 100 nghỡn ng/ngi/thỏng cỏc vựng
ng bng nụng thụn; 150 nghỡn ng/ngi/ thỏng khu vc thnh th.
V theo Q s 170/2005/Q TTg ngy 8/7/2005 ca Chớnh ph ban hnh
chun nghốo ỏp dng cho giai on 2006-2010 c th nh sau: i vi khu vc
23
nông thôn: Những hộ có mức thu nhập bình quân từ 200.000 đồng/người/tháng
trở xuống là hộ nghèo. Đối với khu vực thành thị, những hộ có mức thu nhập
Cũng có nhiều nhân tố gây ra sự khác nhau trong thu nhập từ tài sản. Với
một cá nhân, tài sản hay của cải do đâu mà có? Trước hết là do thừa kế. Việc tập
trung của cải thừa kế vào tay một số ít người tạo nên sự chênh lệch lớn về thu
nhập từ tài sản. Tiếp theo là do tiết kiệm. Một cá nhân có thể tạo ra của cải bằng
cách tiết kiệm hay để dành. Tuy nhiên, việc tiết kiệm từ tiền lương bình thường
để có một tiền lương lớn là rất khó. Cuối cùng là do kinh doanh. Đây là một cách
quan trọng vào bậc nhất để trở nên giàu có. Tuy nhiên không phải ai cũng có
năng lực vào mạo hiểm để làm việc này.
Như vậy trong xã hội khó có sự đồng đều giữa các nguồn lực. Do vậy thu
nhập của họ cũng khác nhau. Từ sự chênh lệch về thu nhập đã tạo ra sự phân hoá
giàu nghèo trong xã hội.
Từ lý luận về phân phối thu nhập trong nền kinh tế thị trường nêu trên, ta
nhìn nhận các nguyên nhân sâu sắc hơn dẫn đến nghèo đói. Đó là :
* Nguồn lực hạn chế và nghèo nàn
Người nghèo thường thiếu nhiều nguồn lực. Họ rơi vào vòng luẩn quẩn của
nghèo đói và thiếu nguồn lực. Người nghèo có khả năng tiếp tục nghèo vì họ
không thể đầu tư vào nguồn vốn nhân lực của họ. Ngược lại, nguồn vốn nhân lực
thấp lại cản trở họ thoát khỏi nghèo đói.
Các hộ nghèo ở nông thôn thường có rất ít đất đai và tình trạng không có đất
đang có xu hướng tăng lên, nhất là trong bối cảnh hiện tại, khi đất dành cho nông
nghiệp đang dần bị chuyển đổi thành đất phi nông nghiệp (các khu công nghiệp,
vui chơi, giải trí ). Thiếu đất đai ảnh hưởng đến việc bảo đảm an ninh lương
thực của người nghèo cũng như khả năng đa dạng hóa sản xuất, để hướng tới sản
xuất các loại cây trồng với giá trị cao hơn. Đa số người nghèo lựa chọn phương
án sản xuất tự cung, tự cấp. Họ vẫn duy trì các phương thức sản xuất truyền
thống với giá trị thấp, thiếu cơ hội thực hiện các phương án sản xuất mang lợi
nhuận cao hơn. Do vẫn theo phương pháp sản xuất truyền thống nên giá trị sản
phẩm và năng suất các loại cây trồng, vật nuôi còn thấp, thiếu tính cạnh tranh
trên thị trường và vì vậy họ rơi vào vòng luẩn quẩn của sự nghèo khó.
Bên cạnh đó, đa số người nghèo chưa có nhiều cơ hội tiếp cận với các dịch
* Người nghèo không có đủ điều kiện tiếp cận với pháp luật, chưa được bảo
vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp
Người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và các đối tượng có hoàn cảnh đặc
biệt thường có trình độ học vấn thấp nên không có khả năng tự giải quyết các vấn
26
đề vướng mắc có liên quan đến pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật có cơ chế
thực hiện phức tạp mà người nghèo khó nắm bắt. Mạng lưới các dịch vụ pháp lý,
số lượng các luật gia, luật sư hạn chế, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở
các thành phố, thị xã; phí dịch vụ pháp lý còn cao.
* Các nguyên nhân về nhân khẩu học
Quy mô hộ gia đình là "mẫu số" quan trọng có ảnh hưởng đến mức thu nhập
bình quân của các thành viên trong hộ. Đông con vừa là nguyên nhân vừa là hệ
quả của nghèo đói. Tỷ lệ sinh trong các hộ gia đình nghèo còn rất cao. Đông con
là một trong những đặc điểm của các hộ gia đình nghèo. Năm 1998, số con bình
quân trên 1 phụ nữ của nhóm 20% nghèo nhất là 3,5 con so với mức 2,1 con của
nhóm 20% giàu nhất. Quy mô hộ gia đình lớn làm cho tỷ lệ người ăn theo cao.
(Tỷ lệ người ăn theo của nhóm nghèo nhất là 0,95 so với 0,37 của nhóm giàu
nhất).
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ sinh cao trong các hộ nghèo là
do họ không có kiến thức cũng như điều kiện tiếp cận với các biện pháp sức khỏe
sinh sản. Tỷ lệ phụ nữ nghèo đặt vòng tránh thai thấp, tỷ lệ nam giới nhận thức
đầy đủ trách nhiệm kế hoạch hóa gia đình và sử dụng các biện pháp tránh thai
chưa cao. Mức độ hiểu biết của các cặp vợ chồng nghèo về vệ sinh, an toàn tình
dục, cũng như mối liên hệ giữa tình trạng nghèo đói, sức khỏe sinh sản và gia
tăng nhân khẩu còn hạn chế.
Tỷ lệ người ăn theo cao trong các hộ nghèo còn có nghĩa là nguồn lực về lao
động rất thiếu, đây cũng chính là một nguyên nhân dẫn đến tình trạng nghèo đói
của họ.
* Nguy cơ dễ bị tổn thương do ảnh hưởng của thiên tai và các rủi ro khác
Phụ nữ có ít cơ hội tiếp cận với công nghệ, tín dụng và đào tạo, thường gặp
nhiều khó khăn do gánh nặng công việc gia đình, thiếu quyền quyết định trong
hộ gia đình và thường được trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại
việc. Phụ nữ có học vấn thấp dẫn tới tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh và bà mẹ cao hơn,
sức khỏe của gia đình bị ảnh hưởng và trẻ em đi học ít hơn.
Bất bình đẳng giới còn là yếu tố làm gia tăng tỷ lệ sinh và tăng tỷ lệ lây
truyền HIV do phụ nữ thiếu tiếng nói và khả năng tự bảo vệ trong quan hệ tình
dục.
* Bệnh tật và sức khỏe yếu kém cũng là yếu tố đẩy con người vào tình trạng
nghèo đói trầm trọng