Xóa đói, giảm nghèo bền vững ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ NGUYỄN THỊ NGỌC

XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
Ở HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Ở HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Chuyên ngành : Chuyên ngành KTCT
Mã số: 60 31 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS VŨ THANH SƠN

Hà Nội – Năm 2012

LỜI CẢM ƠN

óa đói giảm nghèo bền
vững ở huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang” là công trình
nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS.
Vũ Thanh Sơn
Các số liệu, tài liệu nêu ra trong luận văn là trung thực,
đảm bảo tính khách quan, khoa học. Các tài liệu tham khảo
và nguồn trích dẫn có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng.

Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2012
Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Ngọc MỤC LỤC

Nội dung Trang
Danh mục các chữ viết tắt i

2.2. Tình hình phát triển kinh tế - xã hội huyện Lục Ngạn giai đoạn 2006-
2010
44
2.2.1. Phát triển đa dạng, nâng cao chất lư
ợng, sức cạnh tranh sản phẩm cây ăn quả
44
2.2.2. Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi 46
2.2.3. Phát triển kinh tế lâm nghiệp 47
2.2.4. Phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề nông thôn 48
2.2.5. Về văn hoá - thông tin 49
2.2.6. Phát triển Giáo dục-ĐT và Dạy nghề 50
2.2.7. Kết cấu hạ tầng đô thị 51
2.3. Tình hình thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo bền vững ở huyện Lục Ngạn 51
2.3.1. Thực trạng đói nghèo ở Lục Ngạn 51
2.3.2. Nguyên nhân nghèo đói ở huyện Lục Ngạn 54
2.3.3. Tình hình xóa đói giảm nghèo bền vững ở huyện Lục Ngạn giai đoạn 2006-
2010
61
Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu xóa đói giảm nghèo bền
vững ở Lục Ngạn giai đoạn 2011-2020
66
3.1. Mục tiêu và phương hướng và giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo bền vững của
huyện từ nay đến năm 2020
66
3.1.1. Phương hướng chung 66
3.1.2. Mục tiêu chủ yếu đến năm 2020 67
3.1.3. Các giải pháp thực hiện giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2011-
2020
74
3.2. Các giải pháp thực hiện giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2011- 2020 68

13 ADB Ngân hàng Phát triển Châu Á
14 BHYT Bảo hiểm y tế
15 CPI Chỉ số giá tiêu dùng

ii

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ
Bảng biểu
Tên Nội dung Trang
Bảng 2.1
Kết quả thực hiện các mục tiêu chủ yếu về trồng cây ăn
quả
45
Bảng 2.2 Kết quả thực hiện các mục tiêu chăn nuôi 46
Bảng 2.3
Kết quả thực hiện các mục tiêu phát triển văn hóa-thông
tin
49
Bảng 2.4 Bảng hộ nghèo, cận nghèo huyện Lục Ngạn năm 2010 52
Bảng 2.5 Tình hình thực hiện các mục tiêu XĐGN 62



Ngày nay theo Liên hợp quốc toàn thế giới vẫn còn 2,8 tỉ người (43%) là
người nghèo và 1,2 tỉ người (18%) rất nghèo, không đủ khả năng đáp ứng được
những nhu cầu cơ bản. Một nửa số dân trên thế giới đang bị phân biệt đối xử, khước
từ các cơ hội chỉ vì khác màu da trong đó thiệt thòi lớn nhất là trẻ em và phụ nữ.
Có thể nói, nghèo đói đã diễn ra trên khắp các châu lục với những mức độ
khác nhau. Đặc biệt là ở các nước lạc hậu, chậm phát triển, nghèo đói đang là một
vấn đề nhức nhối, một thách thức đối với sự phát triển, hay tụt hậu của một quốc
gia.
Ở nước ta, sau hơn 20 năm đổi mới, nền kinh tế đang từng bước khởi sắc và
đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân đã được cải thiện và
nâng cao một bước (kể cả thành thị, nông thôn và miền núi vùng sâu, vùng xa).Tuy
nhiên cùng với xu thế phát triển đi lên của xã hội, đã hình thành một bộ phận dân cư
giàu lên và một bộ phận không nhỏ rơi vào cảnh đói nghèo với khoảng cách ngày
càng xa.
Đối với Việt Nam, mức độ nghèo khổ là khá cao, đặc biệt là các vùng nông
thôn, miền núi, hải đảo. Hiện nay, theo chuẩn tỷ lệ số hộ nghèo toàn quốc đã giảm
từ 58% năm 1993 xuống còn 14,8% năm 2007; theo chuẩn quốc tế thì từ 58% năm
1993 xuống còn 9,34% năm 2010. Việt Nam đã sớm đạt mục tiêu phát triển thiên
niên kỷ về xóa đói giảm nghèo.
Bắc Giang là một tỉnh miền núi, phía Bắc giáp Lạng Sơn và Thái Nguyên,
phía Nam giáp Bắc Ninh và Hải Dương, phía Đông giáp Quảng Ninh, phía Tây giáp
Hà Nội, có tổng diện tích tự nhiên 3.882,6 km
2
, bao gồm có 09 huyện, 1 thành phố,
trong đó có 6 huyện miền núi và 1 vùng cao, với 230 xã, phường, thị trấn, 182 xã
miền núi (trong đó có 47 xã vùng cao). Đồng bào các dân tộc thiểu số cư trú tập
trung ở 105 xã, thị trấn thuộc 6 huyện miền núi, vùng cao: Sơn Động, Lục Ngạn,
Lục Nam, Yên Thế, Lạng Giang, Tân Yên. Toàn tỉnh có 30 xã đặc biệt khó khăn (xã
2

3

về đói nghèo, tiêu chí đánh giá đói nghèo, thực trạng nghèo đói và nguyên nhân trực
tiếp gây nên nghèo đói trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
- Nguyễn Thị Hoa: Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu
của Việt Nam đến năm 2015, luận án tiến sỹ, 2009. Luận án này đã xây dựng một
khung lý thuyết hoàn thiện chính sách, trong đó có khung đánh giá chính sách
XĐGN dựa trên lý thuyết quản lý theo kết quả. Từ việc tổng kết vai trò của Chính
phủ trong tấn công nghèo đói và đi đến kết luận, Chính phủ giữ vai trò quan trọng
trong giải quyết tính đa chiều của nghèo đói cũng như đã rút ra được một số bài học
từ nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia về giải quyết vấn đề đa chiều của
nghèo đói. Nghiên cứu này đã chỉ ra các mặt được mà mỗi chính sách mang lại và
đồng thời cũng chỉ ra những vấn đề bất cập trong triển khai chính sách cũng như
nguyên nhân của những tồn tại đó. Thêm vào đó, luận án còn đánh giá các tác động
của các chính sách XĐGN chủ yếu qua các tiêu chí tính hiệu quả, tính phù hợp và
bền vững của mỗi chính sách.
- Nguyễn Thị Nhung: Vai trò của xóa đói giảm nghèo đối với phát triển kinh
tế- xã hội ở các tỉnh Tây Bắc Việt Nam, luận án tiến sỹ kinh tế, năm 2011. Trong
công trình trên, tác giả đã đi sâu nghiên cứu những lý luận, thực tiễn về vai trò của
XĐGN đối với phát triển kinh tế- xã hội, cùng với đó là đưa ra kinh nghiệm của một
số nước trong khu vực và trên thế giới về XĐGN và phát triển kinh tế xã hội. Trên
cơ sở đánh giá thực trạng nghèo đói ở vùng Tây Bắc cũng như thực trạng của công
tác XĐGN trong mối quan hệ với phát triển kinh tế- xã hội, tác giả đã chỉ ra những
cơ hội cũng như thách thức đối với công tác XĐGN ở Tây Bắc trong bối cảnh hiện
nay, từ đó đã đưa ra những gợi ý về giải pháp cơ bản để XĐGN nhằm phát triển
kinh tế xã hội ở Tây Bắc.
- Richard Jones và nhóm nghiên cứu Việt Nam trong: Rà soát tổng quan các
chương trình dự án giảm nghèo ở Việt Nam tháng 11 năm 2009 đã có báo cáo
nghiên cứu tổng quan về các chính sách và dự án giảm nghèo của Việt Nam để báo
cáo Quốc hội Việt Nam và chương trình phát triển Liên Hợp Quốc. Báo cáo này đã

thiểu số khác bằng cách phân tích chênh lệch thu nhập; một là khác biệt về các đặc
điểm và nguồn lực giữa các nhóm dân tộc, hai là sự khác biệt về thu nhập từ các đặc
5

điểm và nguồn lực. Khía cạnh quan trọng thứ ba là đã tìm hiểu đồng bào các dân tộc
thiểu số nghèo được hỗ trợ từ những chương trình và chính sách hiện tại như thế
nào. Sau những phân tích đó tác giả đã có những kiến nghị cho các chính sách và
chương trình tương lai nhằm đưa ra những hỗ trợ hiệu quả hơn cho việc nâng cao
mức sống cho các dân tộc thiểu số. Đặc biệt nghiên cứu này đã chỉ ra rằng chỉ có
62% hộ gia đình thuộc nhóm "nghèo" là thực sự nghèo. Có nghĩa là tỷ lệ rò rỉ tương
đương 38% hộ nghèo được nhận hỗ trợ từ các chương trình giảm nghèo không
thuộc đối tượng thụ hưởng những hỗ trợ này và có 38% hộ trong nhóm "không
nghèo" thực sự là hộ nghèo. Tỷ lệ rò rỉ lớn này đặt ra một câu hỏi nghiêm trọng về
hiệu quả xác định đối tượng mà các chính sách và chương trình giảm nghèo cho các
xã nghèo nhất hướng tới.
- www.tapchicongsan.org.vn: Để công tác xóa đói, giảm nghèo tiến triển
vững chắc (02/2008): Đề cập vấn đề trong những năm qua, Việt Nam được thế giới
chú ý bởi những thành tựu trong công tác xóa đói, giảm nghèo và nâng cao mức
sống của người dân. Dân chủ được nâng cao cũng là một điều kiện tăng cường sự
tham gia của người dân vào các công tác xã hội. Những hạn chế của công tác xóa
đói, giảm nghèo là do nguồn lực còn hạn chế, số lượng cán bộ còn thiếu và yếu về
năng lực. Cơ chế xác định hộ nghèo chưa được thống nhất ở các địa phương, chất
lượng giám sát theo dõi số liệu báo cáo chưa cao; có lúc có nơi còn mang tính hình
thức, nặng về báo cáo thành tích và chưa thật vững chắc.
Nhìn chung, các công trình trên tiếp cận dưới những góc độ khác nhau cả lý
luận và thực tiễn về xóa đói giảm nghèo, thấy được sự cần thiết phải đẩy mạnh xóa
đói giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay và đều gợi ý những hướng đi
và giải pháp để xóa đói và giảm nghèo ở nước ta. Tuy nhiên, việc đề cập vấn đề
XĐGN dưới góc độ kinh tế chính trị, chỉ ra được những đặc trưng nghèo đói của
huyện Lục Ngạn - Bắc Giang, và từ đó nêu lên những giải pháp kinh tế -xã hội có

với hệ thống các lý luận về xóa đói giảm nghèo bền vững.
- Trong quá trình phân tích, luận văn sử dụng phương pháp trừu tượng hóa
khoa học, phân tích tổng hợp, thống kê - so sánh và lôgíc lịch sử để làm sáng tỏ vấn đề
về lý luận và thực tiễn.
7

- Phương pháp trừu tượng hóa khoa học
Trong luận văn, người viết sẽ sử dụng phương pháp trừu tượng hóa khoa học
để gạt bỏ khỏi quá trình nghiên cứu các hiện tượng đơn nhất, ngẫu nhiên, tạm thời
hoặc tạm gác lại một số nhân tố nào đó nhằm tách ra những cái điển hình, ổn định,
vững chắc, từ đó tìm ra bản chất của vấn đề đói nghèo.
- Phương pháp phân tích tổng hợp
Phương pháp phân tích tổng hợp được tiến hành thông qua các công đoạn:
thu thập dữ liệu, kiểm tra dữ liệu, phân tích dữ liệu, và kiểm tra kết quả phân tích.
Đề tài tập trung phân tích, đánh giá những hậu quả do đói nghèo gây ra cho con
người cũng như những thành công hay hạn chế trong công tác xóa đói giảm nghèo
của một huyện miền núi, chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến sự
thành công và hạn chế đó, trên cơ sở đó đề xuất những phương hướng và giải pháp
nhằm đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2011-2020.
- Phương pháp thống kê so sánh
Các tư liệu thu thập được từ nhiều nguồn khác nhau như: UBND huyện, Sở
Lao động thương binh và xã hội tỉnh, phòng Lao động thương binh và xã hội huyện,
Sở kế hoạch và đầu tư, các trang web, bài báo,… sẽ được thống kê đầy đủ dựa trên
sự phân tích, từ đó quy vào từng tiểu loại theo từng tiêu chí cụ thể. Đề tài sử dụng
các số liệu để so sánh kết quả thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo của huyện qua
các mốc thời gian khác nhau, xử lý các số liệu để rút ra các kết luận.
- Phương pháp lôgic – lịch sử
Trong luận văn, người viết dùng phương pháp lôgic - lịch sử để bài viết vừa
mang tính liên tục kế thừa của các công trình nghiên cứu của các tác giả về xóa đói
giảm nghèo theo một chiều dọc của thời gian vừa có tính quan hệ mật thiết giữa cái

9

CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
VÀ XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG
1.1. Đói nghèo và xóa đói giảm nghèo.
1.1.1. Nghèo đói và các tiêu chí đánh giá nghèo đói
1.1.1.1. Quan niệm về đói nghèo
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi con người chúng ta để tồn tại được thì cần
phải giải quyết được những nhu cầu cơ bản nhất. Những nhu cầu đó của con người
có thể được chia ra làm hai dạng, đó là những nhu cầu về vật chất như: ăn, mặc, ở,
đi lại và những nhu cầu về tinh thần như giáo dục, y tế, giao tiếp hay còn gọi là
những giá trị của cuộc sống. Những nhu cầu này cần được đáp ứng ở một mức độ
nhất định nào đó, mà người ta gọi là mức sống tối thiểu của cộng đồng, nghĩa là nếu
không đạt được đến mức này, con người không thể đảm bảo cuộc sống để phát triển
một cách bình thường được.
Do vậy, khi nghiên cứu đói nghèo chúng ta cần phải nghiên cứu tới nhu cầu,
hay còn gọi là mức sống tối thiểu của người dân.
Nghèo đói là một khái niệm mang tính chất động, nó biến đổi tuỳ thuộc vào
không gian, thời gian và xuất phát điểm của mỗi địa phương, mỗi quốc gia. Tuỳ
thuộc vào từng quốc gia, từng thời điểm khác nhau, cũng như quan điểm nghiên cứu
khác nhau mà nghèo đói được phát biểu khác nhau.
Theo Bách khoa toàn thư mở của WiKipedia thì Nghèo diễn tả sự thiếu cơ
hội để có thể sống một cuộc sống tương ứng với các tiêu chuẩn tối thiểu nhất định

nghèo Khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc – Thái
Lan năm 1993 đã đưa ra một định nghĩa chung về nghèo đói: Nghèo là tình trạng một
bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người
mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế
xã hội và phong tục tập quán từng địa phương [16, 33]. Khái niệm nghèo có thể
thống nhất về mặt định tính song không thể thống nhất về mặt định lượng. Bởi vì mỗi
quốc gia khác nhau thì có mức sống của người dân khác nhau hoặc ngay trong một
quốc gia mức sống giữa các vùng, miền cũng có sự khác nhau. Hơn nữa mặt định
11

lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về
sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia đó. Vì vậy, mỗi quốc gia tự khảo sát và xây
dựng một thước đo mức độ nghèo đói riêng thông qua những tiêu chí cụ thể được xác
định và gọi đó là chuẩn nghèo. Trên cơ sở xem xét đến các khía cạnh: mức sống; thu
nhập bình quân trên đầu người trong tháng hoặc trong năm đối với các khu vực điển
hình; giá trị vật phẩm, hiện vật tiêu dùng; sự thỏa mãn nhu cầu tối thiểu về ăn uống
hoặc tỷ trọng chi cho ăn uống trên cơ cấu tiêu dùng để xây dựng chuẩn nghèo và
lấy đó làm cơ sở xác định tỷ lệ nghèo đói của quốc gia.
Tỷ lệ nghèo: "Tỷ lệ nghèo là số phần trăm số người hoặc số hộ có mức sống
thấp hơn chuẩn nghèo trong tổng số người hoặc số hộ được nghiên cứu [16, 33].
Trong đó mức sống được đo bằng các thước đo sau:
Thước đo đơn chiều: "Thước đo này đo khía cạnh về kinh tế của mức sống" và
được tính theo thu nhập hoặc chi tiêu bình quân đầu người của hộ gia đình từ các
cuộc điều tra thu nhập, chi tiêu hoặc điều tra mức sống hộ gia đình.
Các nước lựa chọn thu nhập làm thước đo đơn chiều mức sống cho rằng: thu
nhập phản ánh thực chất mức sống của các hộ gia đình hơn là chi tiêu. Vì thông tin về
thu nhập chỉ sai lệch ở một số hộ khi họ chủ định giấu diếm thu nhập hoặc do có
nhiều nguồn thu khác nhau mà họ không thể nhớ hết được. Còn ở một số hộ khi gặp
phải ốm đau, tai nạn, rủi ro, sẽ bị tăng đột biến làm cho mức độ chi tiêu cho cuộc
sống trở nên eo hẹp trong khi theo thu nhập thì họ thuộc diện không nghèo hoặc theo

đói do Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á-Thái Bình Dương do ESCAP tổ
chức tại Băng Cốc-Thái Lan tháng 9/1993 đưa ra: Nghèo là tình trạng một bộ phận
dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những
nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và
phong tục tập quán từng địa phương. Nghèo của Việt Nam được nghiên cứu là nghèo
tuyệt đối, thước đo đói nghèo của Việt Nam đã áp dụng là cách tiếp cận đơn chiều và
gần đây là một số nghiên cứu áp dụng thước đo nghèo đa chiều ( chẳng hạn là thước
đo HDI). Song chủ yếu chúng ta vẫn đang thiên về cách tiếp cận đơn chiều. Nhưng
trong tương lai cần hoàn thiện cách tính HDI để xếp hạng cho các tỉnh đồng thời
nghiên cứu, áp dụng các độ đo đa chiều khác khi tính đến mức độ nghèo.
13

1.1.1.2. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo đói của quốc tế và Việt Nam
a. Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói quốc tế
Nghèo đói là khái niệm mang ý nghĩa tương đối, bởi vì người nghèo ở quốc
gia này có thể sẽ không nghèo hoặc khổ cùng cực hơn so với quốc gia khác. Chỉ
tiêu đánh giá nghèo đói trong một quốc gia xuất phát từ việc xác định để đưa ra một
giới hạn cho sự nghèo đói của quốc gia mình. Các quốc gia khác nhau sử dụng các
tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Tình trạng nghèo đói ở mỗi
quốc gia khác nhau về cả mức độ và số lượng, thay đổi theo thời gian và không
gian. Trên thế giới người ta đang đưa ra những chỉ tiêu để đánh giá nước giàu, nước
nghèo là thu nhập bình quân trên đầu người, tỷ lệ hộ giàu và hộ nghèo. Khi đánh giá
hộ giàu và hộ nghèo để thực hiện XĐGN thì giới hạn nghèo đói được hiểu là giới
hạn thu nhập bình quân tính theo đầu người. Quy mô sự nghèo đói của một vùng
hoặc quốc gia được xác định bằng tỷ lệ số hộ nghèo/tổng số dân cư thuộc vùng hoặc
quốc gia đó [16, 36]. Để đánh giá mức nghèo của một nước hay một địa phương, có
nhiều tiêu chuẩn được áp dụng như chỉ số nghèo của con người (human poverty
index-HPI),GDP Trong đó, chỉ số HPI bao gồm: tỷ lệ số người sống dưới 40 tuổi; tỷ
lệ mù chữ; tỷ lệ người không được tiếp cận nguồn nước sạch, dịch vụ y tế và tỷ lệ trẻ
em dưới 4 tuổi bị suy dinh dưỡng; mức chênh lệch về thu nhập hoặc về chi tiêu giữa

sống dưới mức nghèo khổ ở Mỹ là 36,5 triệu người, chiếm 13,7% tổng dân số nước
này và đến năm 1999, nước này lại có 55 triệu sống dưới mức nghèo khổ. Theo Cục
điều tra dân số Mỹ, trong năm 2008 ở Mỹ có khoảng 39,8 triệu (tương đương
13,2%) người Mỹ sống trong nghèo đói tuyệt đối thì đến năm 2009 tăng lên 43,6
triệu người (tương đương 14,3%) và năm 2010 tỷ lệ nghèo đói tại Mỹ tăng lên là
15,1% tương đương 46,2 triệu người.
Trung Quốc năm 1986, trên cơ sở điều tra của các khoản tiêu dùng của
67.000 hộ gia đình nông thôn, các cơ quan Chính phủ có liên quan đã tính toán và
đưa ra chuẩn nghèo là 206 nhân dân tệ (NDT)/ngày/người tại các vùng nông thôn.
Tiếp đó vào năm 1990 là 300NDT. Năm 2000 chuẩn nghèo của Trung Quốc điều
chỉnh lên 625NDT, đến năm 2007 nâng lên là 786NDT/người/năm và năm 2008 là
1.196NDT/người/năm, tương đương 175 USD/năm.
Một số chuẩn nghèo tính theo lượng Calo tiêu thụ của một số nước như sau:
15

+ Malaixia sử dụng tiêu chuẩn 2.910Kcal/ngày tính cho một gia đình có 2
người lớn và 3 trẻ em để làm đường nghèo
+ Pakixtan lấy đường nghèo tiêu thụ 2.350Kcal/người lớn/ngày.
+ Philippin lại lấy chuẩn nghèo ở mức 2000Kcal/người/ngày.
+Lào, Capuchia, ngưỡng nghèo là 2100 Kcal/người/ngày.
Ngay trong một quốc gia người ta cũng sử dụng các tiêu chuẩn nghèo khác nhau
cho mỗi khu vực, mỗi vùng.
b. Phương pháp xác định chuẩn nghèo đói của Việt Nam
Chuẩn hộ nghèo được áp dụng chưa thống nhất trong các thời kỳ khác nhau.
Giai đoạn 1996-2000 chuẩn nghèo được quy định theo 3 khu vực ( tính theo mức
thu nhập bình quân đầu người trong hộ gia đình, quy ra gạo;
+ Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg gạo/người/tháng (tương
đương 55.000đ).
+ Vùng nông thôn đồng bằng, trung du: dưới 20kg gạo (tương đương
70.000đ).

ra những chuẩn nghèo mới phù hợp với điều kiện riêng của đất nước, tuy nhiên so
với chuẩn nghèo thế giới thì chuẩn nghèo của việt Nam còn thấp. Theo chuẩn nghèo
vừa được điều chỉnh, cả nước còn có khoảng 10%. Khu vực các tỉnh Tây Bắc có tỉ
lệ hộ nghèo lên đến xấp xỉ 23%, cao nhất cả nước. Tỉnh Điện Biên "vô địch” cả
nước về số hộ nghèo với tỉ lệ lên đến hơn 50%. Nâng chuẩn nghèo giai đoạn 2011 -
2015 cao hơn giai đoạn trước là phù hợp đời sống thực tế của người dân. Tuy vậy,
chuẩn nghèo hiện thời của Việt Nam vẫn thấp hơn nhiều so với chuẩn nghèo của
khu vực và chưa bằng 50% chuẩn nghèo của thế giới. Hộ nghèo Việt Nam đương
nhiên nằm trong "bản đồ hộ nghèo" của thế giới nhưng ở đây lại có mức chênh lệch
rất lớn. Nếu Việt Nam "áp" theo chuẩn nghèo thế giới thì số hộ nghèo cũng như tỉ lệ
hộ nghèo hiện có của Việt Nam sẽ cao hơn nhiều (tăng hơn gấp đôi hiện nay).
1.1.1.3 Nguyên nhân chủ yếu của nghèo đói
Nghèo đói là một hiện tượng kinh tế - xã hội, nó vừa là vấn đề lịch sử để lại,
vừa là vấn đề phát triển mà hầu hết các quốc gia đều vấp phải. Nó ảnh hưởng trực
tiếp đến cuộc sống của con người, từ cá nhân, gia đình đến cộng đồng xã hội. Mỗi
17

quốc gia, ở các mức độ phát triển khác nhau, đều phải quan tâm giải quyết vấn đề
đói nghèo để vượt qua những trở ngại của sự phát triển nhằm tới sự phồn thịnh về
kinh tế và từng bước đạt tới công bằng xã hội.
Có nhiều ý kiến khác nhau về nguyên nhân gây ra đói nghèo, song tựu trung lại,
nghèo đói ở các nước đang phát triển chủ yếu là do các nguyên nhân cơ bản sau
đây:
Thứ nhất, do người nghèo không có khả năng và cơ hội để tiếp cận và kiểm
soát các nguồn lực sản xuất.
Các nguồn lực sản xuất chủ yếu hiện nay có thể kể đến như vốn, đất đai,
khoa học công nghệ song tất cả những thứ đó người nghèo đều không có hoặc rất
hạn chế về khả năng tiếp cận. Một số người trong số họ có thể có sức lao động,
nhưng họ sẽ không thể biến sức lao động đó thành nguồn lực, nếu không tiếp cận
được với các nguồn lực khác như vốn, đất đai, khoa học công nghệ, tức là họ không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status