ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯNG TÂM NGHIÊN c ứ u VỂ PHỤ NỮ
ĐỀ TÀI NGHIÊN c ú u KHOA HỌC ĐẶC BIỆT
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Tóm tắt đề tài:
NGHIÊN CỨU Sự THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN
NÃM THỨ NHẤT - ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
VỚI MÔI TRƯỜNG ĐẠI HỌC
Chủ nhiệm đề tài:
P G S .T S . T rần T h ị M in h Đ ứ c
Những người tham gia chính:
CN . Đ ổ H o à n g - TTNCVPN - ĐHQGHN - Thư ký
CN . L ê T h ị L a n P h ư ơ n g - TTNCVPN - ĐHQGHN
Những người tham gia:
CN . N g u y ễ n T h ê H iế u - TTNCVPN - ĐHQGHN
CN . T rư ơ n g P h ú c H ư n g - TTNCVPN - ĐHQGHN
CN. N g u y ễ n L in h T r a n g - TTNCVPN * ĐHQGHN
P h ạ m X u â n X u y ê n - SVTC K45 Khoa Tâm Lý - ĐHKHXH&NV
HÀ NỘI, 2004
ĐAI h :_ “ ^'UÒC GlA PÍÂ NC'1
TRUNG TÃ^ 'HỒKG tin Thư VIẺN
DT / 3/1J
MỤC LỤC
Trang
Phần mở đầu: Những vấn đề chung 1
1. Đặt vấn đề 1
2. Mục đích nghiên cứu 1
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu 2
4. Phương pháp nghiên cứu 2
Phần thứ hai: Nội dung nghiên cứu 3
Chương I: Cơ sở lý luận về sự thích ứng của sinh viên với môi trường đại học v 3
Những chỉ báo về sự thích ứng liên quan đến nhận thức và cách thức tổ
chức học tập của người sinh viên.
21
2. Sự thích ứng của sinh viên trong quan hệ giao tiếp ứng xử 28
2.1.
Sự thích ứng của sinh viên nám thứ nhất trong việc thiết lập các mối
quan hệ ở trường đại học
28
2.1.1
Quan hệ với bạn bè " 28
2.1.2. Quan hệ với giảng viên 30
2.1.3.
Quan hệ với cán bộ các phònợ ban
31
2.2.
Sự thích ứng của sinh viên với hoạt động phong trào 32
2.3.
Chỉ sỏ thích ứng (không thích ứng) của sinh viên nhìn từ năng lực giao
tiếp ứng xử
34
3 Sự thích ứng của sinh viên năm thứ nhất trong cuộc sông thường nhật
42
3.1.
Sự thích ứng với điều kiện sinh hoạt hiện nay của sinh viên
42
3.2.
Sự thích ứns của sinh viên với việc tự quản lý đổ đạc và chi tiêu
44
3.3.
Sự thích ứng cúa sinh viên năm thứ nhất với việc làm thêm hiện nay
đó lý giải các yêu tố tác động nhằm đưa ra giải pháp (đối với bán thân sinh
viên và với nhà trường đại học) giúp cho sinh viên thích ứns có hiệu quả hơn
với môi trường đại học, đặc biệt là hoạt độns học tập ứ đại học.
1
3. Đối tượng và khách thế nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự thích ứng (không thích ứng) của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động
học tập, giao tiếp- ứng xử và sinh hoạt ở đại học.
3.2. Khách thê nghiên cứu
1240 sinh viên (720 sinh viên năm thứ nhất, K47; 520 sinh viên năm thứ
nhất K48) thuộc 3 trường và các khoa trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội:
+) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
+) Trường Đại học Khoa học Tự nhiên
+) Trường Đại học Ngoại ngữ
+) Các khoa: Luật, Sư phạm, Công nghệ, Kinh tế
4. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập và phân tích các tài liệu lý
luận cơ bản, tài liệu có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp điêu tra bảng hỏi: Tìm hiểu thực trạng sự thích ứng với mỏi
trường đại học của sinh viên năm thứ I ĐHQGHN HN.
5.3. Phương pháp trắc nghiệm: Sử dụng 2 bộ trắc nghiệm, trắc nghiệm về
thích ứng học tập ở đại học và trắc nghiệm thích ứnơ trong giao tiếp ứng xử.
5.4. Thảo luận nhóm: Thảo luận nhóm sinh viên theo những chủ đề tập trunơ
liên quan đến sự thích ứng của sinh viên với hoạt độns học tập, siao tiếp- ứng
xử và trong cuộc sống sinh hoạt thường nhật,
5.5. Phương pháp thông kê toán học: x ử Iv kết quả nshiên cứu băng phần
mềm SPSS 11.5
2
PHẦN THỨ HAI
NỘI DUNG NGHIÊN c ứ u
học cụ thể.
Năm 1993, công trình nghiên cứu do Leclercq chỉ đạo và một số nghiên
cứu khác ở Mỹ đã đưa ra những biện pháp cải thiện vấn để kém thích ứng
của sinh viên như: 1) xuất bản và phân phát những tài liệu thông tin một
cách cụ thể và phong phú về đời sống trí tuệ và xã hội của nhà trường; 2)
tổ chức các ban giúp đỡ, chỉ dẫn, định hướng cho sinh viên; 3) nhà trường
hoặc các sinh viên đang học tổ chức các chương trình định hướng và đón
tiếp sình viên mới (đỡ đầu, tiếp xúc trước khi bắt đẩu vào học.v.v). Như
vậy, các biện pháp cải thiện vấn đề kém thích ứng của sinh viên trong
nghiên cứu này tập trung vào các thay đổi từ phía trườns đại học, hơn là từ
phía sinh viên.
ơ Việt Nam, nghiên cứu về sự thích ứns học đườns của sinh viên tập
trung chủ yếu trons các luận án của thầy trò trườns Đại học Sư phạm và khoa
Tâm lý học- trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhàn văn.
Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước và nước ngoài tập trung vào
nghiên cứu thích ứng của sinh viên nhìn nhận ở hai khía cạnh: thích ứng với
hoạt động học tập ở đại học (có tính đến thích ứng với các quan hệ) và thích
ứng nghề nghiệp. Nshien cứu này tìm hiểu thích ứng của sinh viên với môi
trường đại học nói chunơ, bao gồm thích ứng học tập, VỚI các quan hệ giao tiếp
ứng xử và với cuộc sống sinh hoạt thường nhật. Quan điểm nghiên cứu xuyên
suốt để tài này là xem hoạt động học tập là hoạt độn2 chù đạo của sinh viên và
chịu ảnh hưởng bởi cuộc sống sinh hoạt thườns nhât và quan hệ giao tiếp ứna
xử. Chính vì thê. nghiên cứu hoạt độns học tập cua sinh viên không thể tách
rời khỏi nghiên cứu những mối quan hệ và điều kiện sons mà sinh viên đans
tham dự vào.
4
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM c ơ SỞ
2.1. Khái niệm thích ứng
Thuật ngữ “Thích ứng” hay “Thích nghi”, tiếng Pháp adapter, tiếng La
tinh ađaptare được dùng với nghĩa gốc là “làm cho phủ hợp” (to fit to). Ban
nhân.
2.2. Không thích ứng và những ứng xử khác thường
Đối nghĩa với khái niệm thích ứng là không thích ứng. Tuy nhiên, việc
đánh giá một ứng xử là “thích ứng” hay “không thích ứng” là việc không đơn
giản. Cùng một ứng xử trong bối cảnh này là thích ứng nhưng trong bối cảnh
khác lại là không thích ứng. Khái niệm “ứng xử khác thường” vì thế có thể
được sử dụng như là một khái niệm chỉ những ứng xử có thể là “thích ứns” có
thể là “không thích ứng” trong từng bối cảnh cụ thể.
2.3. Môi trường đại học
Môi trường đại học một hệ thống giáo dục ở bậc cao, nơi diễn ra sự tương
tác eiữa người dạy và người học, giữa nsười học và người học, nsười học và tri
thức .v.v. nhằm đào tạo ra những con người có năng lực hoạt động và sáng tạo
trong những lĩnh vực chuyên môn khác nhau.
Như vậy, môi trường đại học được tạo nên trong sự tương tác của nhiều
yếu tố như: quan điểm eiáo dục, mục tiêu đào tạo, cách thức tổ chức giảng
dạy, cơ sở vật chất, đời sống văn hoá, giao tiếp ứng xử.v.v. Quan sát sự vận
hành của các trường đại học khác nhau, ta có thể thấy tính chất của các trường
đại học thay đổi theo phong cách của từng trường. Quan sát các lớp học đans
hoạt động chúng ta cũng dễ dàng nhận thấy sự khác nhau siữa các giáo viên,
phons cách dạy học. hành vi của sinh viên và khôns khí tiêu biểu của mỗi 2ĨỜ
học. Tất cả các điểm khác biệt này đan kết với nhau, tạo nên đặc trưna riẽnơ-
cái gọi là môi trườns đại học.
6
CHƯƠNG n
KẾT QƯẢ NGHIÊN c ứ u THỰC TIEN
1. S ự THÍCH ỨNG CỦA SINH VIÊN NĂM THỨ NHẤT ĐHQG HN VỚI
HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP Ở NHÀ TRƯỜNG
1.1. Những chỉ báo tâm lý về sự thích ứng (không thích ứng) của sinh viên
năm thứ nhất với hoạt động học tập ở đại học
1.1.1. Trạng thái nhập cuộc của người sinh viên
thái nhập cuộc tốt khi vào học đại học. Những sinh viên này không thấv môi
trường đại học khác lạ lắm so với sự tườns tượns của minh. Những sinh viên
7
còn lại (45%) thì thấv rằng những điều mình tưởng tượng về môi trường đại
học khi còn là học sinh phổ thông khác xa những gì đang diễn. Sự không tương
đồng giữa tưởng tượng và thực tế đã gây ra cảm giác thất vọng và chán nản cho
45% sinh viên (trong đó có 10.2% ở mức cao, 34.8% ở mức thấp hơn). Những
trạng thái tâm lý này hoàn toàn không có lợi cho sinh viên, nó chỉ ra sự chưa
thích ứng của những sinh viên này với môi trường mới ở đại học.
Kết quả này được khẳng định thêm ở đánh giá của sinh viên đối với câu
hỏi tình huống chúng tôi đưa ra: “Nhìn chưng bạn hài lỏng với những gì mình
đã làm”. Có 44% sinh viên tỏ ra hài lòns với những gì minh đã làm (10.8%
sinh viên đồng ý ở mức cao, 33.2% đồns V ở mức thấp hơn); số còn lại, có
56% sinh viên năm thứ nhất tỏ ra không hài lòng với những gì mmh đã làm
(21.6% sinh viên hoàn toàn không đồng ý với tình huốns đưa ra, 34.4% thiên
về không đồng ý). Ở một số sinh viên, sự không hài lòng với bản thân là động
lực thúc đẩy họ cố gắng hơn. Trong trường hợp khác, sự không hài lòng gây ra
sự căng thẳng, làm giảm ý chí vươn lên của mỗi cá nhân.
Ngoài việc không được chuẩn bị tốt tâm thế về nhữn2 thông tin liên quan
đến nhà trườns đại học nói chuns, số liệu ở báns 2 dưới đâv cho thấy một sô
sinh viên bày tỏ thất vọng với nsành học hiện tại.
Bảng 2: Cảm giác thất vọng hay ý thức theo đuổi chuyên ngành đang học
Hoàn toàn
đúng
Đúng nhiều
hơn sai
Sai nhiểu
hơn đúng
Hoàn toàn
sai
69
0 Sự phù hợp với ngành
học hiện tại
ẼẼ Mong muốn chuyên
ngành học khác
Chú thích
ì . "Có phù hợp với m>ìwh học hiện lụi ” và "khóu'ị muốn chuyến /I.ụành học khác ”
2. "Không phù hợp với /ỉiỊÙnli học hiện tại ” vù "có muốn chitxến ngành hoe klìúc ”
3. "Khòiiq biết có phù hợp với ngành học hiện lại hax kh ó n°” vù "khán% biết có
muôn chuyển ngành học khác không”
9
Theo kết quả biểu đổ trên: (1) có 69% sinh viên thấy rằns mình phù hợp
với ngành học hiện tại, tương ứng có 60.9% không muốn chuyển ngành học
khác. Điều này cho thấy không phải tất cả sinh viên cảm thấy phù hợp với
ngành học hiện tại tất yếu sẽ dẫn đến việc họ không muốn chuyển ngành học
khác. Kết luận này có thể thấy rõ ở (2): 11% sinh viên thấy khống phù hợp với
ngành học hiện tại, trong khi đó có tới 28.2% sinh viên muốn chuyển ngành
học khác. Điều này nghĩa là: có những sinh viên muốn chuyển ngành học khác
không phải vì lý do phù. họp hay không phù hợp với ngành học hiện tại. Tất
nhiên, nhận xét này không hàm nghĩa bác bỏ kết quả và kết luận nghiên cứu
chúng tôi đã phân tích. Trên thực tế, đa số sinh viên bày tỏ quan điểm không
muốn chuyển ngành học là những sinh viên đã thích ứng được với ngành học
hiện tại, hay ít ra, những sinh viên này đang tự tạo ra hứng thú, động cơ và
những nỗ lực cần thiết để học tập. Còn đối với những sinh viên cảm thấy
không phù hợp với ngành học hiện tại và muốn chuyển ngành học khác, dù
muốn hay không họ vẫn đang phải theo học ngành học đó và đày có thể là rào
cản khiến họ chậm thích ứng hơn trong hoạt động học tập ở đại học,
Xem xét chỉ báo về sự khôns thích ứng của sinh viên với nsành học, có
những sinh viên không biết minh phù hợp hay khôn2 phù hợp với ngành học
hiện tại (20%), không biết mìrth có muốn chuyển nsành học hay không
đánh giá năm mục tiêu trên ở mức độ quan trọng trên trung bình (ĐTB thấp
nhất là 7.94, trên thang điểm có mức độ “trung bình” là 5.0).
Theo kết quả ở bảng 3, chúng ta thấy mục tiêu “có dược kỹ năng chuyền
môn ’ đạt ĐTB cao nhất (9.78), độ phân tán lằ thấp nhất (1.09). Nghĩa là, trong
các mục tiêu nêu trên, mục tiêu quan trọng nhất (dựa theo ĐTB cao nhất) mà
các bạn sinh viên đã đặt ra cho bản thân là “có kỹ năng chuyên môn”; đồng
thời, do độ phân tán của ĐTB là nhỏ nhất nên có thể kết luận: các sinh viên
đánh giá mục tiêu này là quan trọns với độ tập trung cao của các ý kiến. Trái
lại, mục tiêu “rèn luyện tư tưởng đạo đức con người .xã hội chã nghĩa” lại đạt
ĐTB thấp nhất (7.94) và có độ phân tán của điểm số cao nhất (2.85). Mục tiêu
“cớ được phương pháp nghiên cứu khoa học” là mục tiêu quan trọng thứ hai,
sau mục tiêu về kỹ năng chuyên môn (ĐTB - 8.46, độ lệch chuẩn - 2.50). Đây
là mục tiêu mà các sinh viên đã đặt lên trước mục tiêu “cớ được tấm bằng đại
học” (ĐTB = 8.45, độ lệch chuẩn = 2.51) và “cớ được hệ thống /v thuyết”
(ĐTB = 8.44, độ lệch chuẩn = 2.51). Tuy nhiên, các con số này cho thấy sự
khác biệt là không đáns kể.
Như vậy, về phía các sinh viên, việc xác định tốt mục tiêu của cá nhân và
kết hợp hài hoà VỚI mục tiêu của nhà trườns sẽ góp phần siúp sinh viên có
định hướng tốt và độníỉ cơ rõ ràng trong học tập và rèn luvện. Về phía nhà
tnrờng, việc định hướng đào tạo theo các mục tiêu đặt ra sẽ đạt hiệu qua cao
nếu nhà trường có thể hiếu được suy nsihĩ, cam nhận cua sinh viên, mục tiêu
học tập và rèn luyện cùa họ. về nhữns 21 ho đang hướns tới.
1.1.4. Một sô bất ổn tâm lý trong môi trường mới
Sau đây là số liệu chúng tôi thu được qua câu hỏi: “Nhữns vân đề kể ra
dưới đây, mức độ thích nghi trong năm đầu tiên ở môi trường đại học của bạn
như thế nào?”. Có 6 vấn đề cần phải thích nghi được đưa ra, mỗi vấn đề được
đánh giá bởi 3 mức độ: thích nghi ngay, thích nghi sau một thời gian, chưa
thích nghi và theo thang điểm tuần tự là 10 điểm, 5 điểm, 0 điểm để tính theo
điểm trung bình cộng (ĐTB).
Bảng 4: Tự đánh giá của sinh viên vể mức độ thích nghi trước một sô vấn đề
ỉ 2
Biểu 2
Những vấn đề sinh viên thường xuyên cảm thấy bất ổn
Xem xét trong sáu vấn đề sinh viên thường xuyên cám thấy bất ổn (% yếu
tố), chúng ta thấy “phương pháp học tập” là vấn đề sinh viên thường thấy bất
ổn nhất (chiếm 33.8% so với các vấn đề khác); là vấn đề có tới 48.8% sinh
viên (% sinh viên) cảm thấy bất ổn.
‘'Phương pháp sians dạy ớ đại học” và "tự hạch toán chi tiêu” là hai vấn
đề cũng có mức độ bất ổn khá cao (18.4CC và 19%) so với các vấn đề như
“điểu kiện ăn ở sinh hoạt” (11.3%) , “quan hệ bạn bè” (8.1%), ‘‘quan hệ giáo
viên- sinh viên” (9.3%). Có 27.4% sinh viên cảm thấy bất ổn trong việc phải tự
hạch toán chi tiêu của bản thân, 26.5% cảm thấy bất ổn với phươns pháp
giảng dạv ở đại học.
So sánh kết quá phân tích ở báng 4 với kết quả ở biểu 2, chúng ta thấy: tự
hạch toán chi tiêu là một vấn đề được nhiều sinh viên thích nshi ngay nhưng
cũng là một vấn đề khiến nhiều sinh viên thườns xuyên cảm thấy bất ổn; trái
lại, quan hệ với siáns viên là vấn để sinh viên chưa thấy thích ứng tốt nhưns
lại khỏns phái là vấn dể khiến ho thây bất ổn nhiều. Như vậy, đối với sinh
viên, khôns phái bất cứ sự kém thích nshi ban dầu nào cũng dan tới tâm lý bất
ổn; cũna không phái một sự thích nghi tươns đối tốt trước một vấn đề cụ thể
nào đó sẽ khiến sinh viên khôna còn thấy bất ổn về tám lý.
1.2. Những chỉ báo từ nhà trường về sự thích ứng (không thích
ứng) của sinh viên năm thứ nhất với hoạt động học tập
1.2.1. Thích ứng với nội dung chương trình và tổ chức đào tạo của nhà
trường
Bảng 5 trình bày kết quả chúns tôi thu được về sự thích ứng của sinh viên
năm thứ nhất với lượng kiến thức giảng dạy ở năm thứ nhất và cách thức tổ
chức đào tạo (về mặt thời gian) của nhà trường.
Bảng 5
Thích ứng với nội dung chương trình học tập ở đại học.
lượng kiến thức được giảng dạv ở năm thứ nhất (chiếm 659c). số sinh viên còn
ỉại (35%) thì cho rằng lượna kiến thức hiện nav là quá lớn và gây cho họ cảm
giác căns thẳng. Tuv nhiên, mons muốn “giảm thời sian học trên lớp để tăng
thời gian sinh viên tự nghiên cứu ờ nhà hay trên thư viện’" thì lại chiếm một sô'
lượng lớn sinh viên trong mẫu nshiên cứu: 6lcc (trona đó 28.1% sinh viên
khans định hoàn toàn chác chắn ĨT10nil muốn này)
Cũn2 có đến 31.3cf sinh viên cam thấy "thời gian cho một tiết học như
hiện nay là quá nhiều”; có 67% sinh viên nshĩ ràn2 "giờ giái lao của sinh viên
cần kéo dài hơn để sinh viên đỡ mệt mỏi”. Trên thực tế, thời sian cho một tiết
14
học (45 phút/tiết) và nghi giải lao (5 phút giữa các tiết, 15 phút giữa buổi học)
như hiện nay ả đại học là không khác so với học ở phổ thông. Những thực
nghiệm tâm lý học đã chứng minh: con người ta sẽ có cảm nhận về thời gian
(dài hay ngắn, nhanh hay chậm) khác nhau tuỳ thuộc vào tâm trạng của người
đó (hứng thú hay không hứng thú) đối với từng tình huống cụ thể. Bởi vậy, từ
góc độ khoa học, 1/3 số sinh viên cho rằng bố trí thời gian một tiết học như
hiện nay là quá nhiều dễ dàng đưa chúng ta đến kết luận vể sự kém thích ứng
của những sinh viên này. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần xem xét vấn đề làm
sinh viên thấy căng thẳng từ một hệ các yếu tố đan xen nhau (phương pháp
giảng dạy, tính hấp dẫn của nội dung môn học, tính ứng dụng của môn học,
tính kém hấp dẫn đặc thù của các môn học đại cương . Bảng 6 cho chúng ta
kết quả sự thích ứng của sinh viên với các môn học trong năm học đầu.
Bảng 6: Sự thích ứng của sinh viên với một sô môn học ở nãm thứ nhất đại học
Hoàn toàn
đúng
Đúng
nhiéu hơn
sai
Sai nhiéu
hon đứng
giúp sinh viên thích ứnơ tót hơn không đồns nghĩa với sự bó qua nhữns yêu
cầu đào tạo một cừ nhãn (về những môn học nền tảns bắt buộc đối với mọi
sinh viên). Như vậy. có thế nói, nhữns sinh viên cho ràn2 một sổ mòn học ở
đại học là khôns cán thiết (57.2^), nhữns sinh viên nhận tháy có nhữnu môn
học rất khó và nshĩ rằng những môn học đó giá như không phải học thì hay
hơn (61.9%) là những sinh viên chưa thực sự thích ứng với nội dung chương
trình đào tạo ở đại học.
Trong kết quả ờ bảng 6, có 71.7% sinh viên cho rằng có những môn học
làm sinh viên cảm thấy căng thẳng và mệt mỏi, họ muốn môn này chỉ học mà
khổng thi. Thực tế thì Thi là một phần không thể thiếu (nếu không nói là duy
nhất) để đánh giá thành tích học tập của sinh viên trong hệ thống đại học nên
đương nhiên không thể có chuyên “học mà không thi”, nếu có thể thì chỉ là
thay đổi hình thức đánh giá kết quả học tập cho phù hợp. Trong vài môn học
sinh viên thường xuyên tự học ở nhà mà không đến lớp vì thấy học trên lớp
không hiệu quả. Có 41% sinh viên được hỏi đã khẳng định điều này (15.5%
khẳng định ở mức độ cao, 25.5% thiên về đồng ý). Lúc này, số lần nghỉ học
của từng sinh viên trong một lớp học cụ thể, với một môn học cụ thể nói lên sự
không hoà nhập của sinh viên, đồng thời, nó cũng là một trong những chỉ báo
về tính hấp dẩn hay không hấp dẫn của một môn học, cần được xem xét cả từ
phía nhà trườns. Điều này được thể hiện rõ trons kết quả ở bans 7.
Bảng 7: Quan niệm của sinh viên về việc đến lớp nghe giảng
Hoàn toàn
đúng
Đúng
nhiều hom
sai
Sai nhiéu
hơn đúng
Hoàn toàn
sai
Biểu 3: Phương pháp giảng dạy phù hợp với sinh viên
E2Ĩ2
í®!?
ĨEEỈ
232
222
222
ĨE2
23.5
73.7
36.5
59.2
49.8
41.1
9.1
10.1
38.3
51.7
20.6
48.6
30.8
29.7
64.5
m g -
1 2 3
4 5 ố
Khởng phù hợp
2.8
4.3 49.8 10.1 20.6 5.8
ít phù hợp
ghi (9.1%), cả năm phương pháp còn lại vẫn được nhiều sinh viên đánh giá là
phù hợp (tỷ lộ thấp nhất là 30.8% sinh viên và cao nhất là 73.7% sinh viên).
Cả (1) và (2) có nghĩa là: đối với sinh viên, ngoại trừ phương pháp truyền
đạt kiến thức theo kiểu “Giảng viên đọc cho sinh viên ghi” ít còn phù hợp
(nghĩa là đôi khi vẫn cần được sử dụng), các phương pháp truyền đạt khác vẫn
còn phù hợp (ở các mức độ phù hợp khác nhau, với sự khác biệt của cá nhân
mỗi sinh viên). Kết quả trình bày sau đây cho thấy sự phù hợp/không phù hợp
trong cách học của sinh viên so với phương pháp giảng dạy của giảng viên.
Bảng 8: Cách học của sinh viên so với phương pháp giảng dạy của giảng viên
Hoàn toàn
đúng
Đúng
nhiều hơn
sai
Sai nhiều
hom đúng
Hoàn toàn
sai
Bạn thường xuyên thay đổi cách học tập cùa
mình cho phù hợp với phươns pháp siảng dạy
của từng giảng viên
23.7
38.5 27.3 10.5
Bạn thường không shi được gì khi giáng viên
cứ thuvết trình mà không đọc cho bạn ghi
7.3 18 41.2
35.5
Phương pháp học tập của bạn là hoàn toàn phù
hợp với yêu cầu của ngành học
5.9 45 43.4 5.7
Hoàn
toàn sai
Mặc dù không thiếu tài liệu nhưng bạn vẫn
khòna biết phải làm sao đê vượt qua được kv thi
12.4
25.9
35.6
26.2
Học hết tất cả các môn rồi tổ chức thi đồns loạt
là cách thức làm bạn luôn luôn cảm thấv lo âu
và không biết phải học thế nào cho tốt
29.9 34.2 26.4 9.4
Để phục vụ thi cử, bạn thường chì cần học
thuộc bài qua vờ shi hoặc nắm bắt V chính qua
bạn bè
8.1
23.7
39.8
28.3
Bạn chi học bài khi kỳ thi đến gần 15.4
31.5
34.4
18.8
Nhiều môn học bạn khòna có đủ tài liệu để đọc I 10.7 ĩ 34.1 ! 43.1 ! 12.1
' /
nhưng đièu nàv khòn£ làm ban lo lãns
Bạn cảm thày khôns có đú thời Hian dế đành I 22.6 33 31.7 12.8
I
I cho việc học tâp
ỉ Có mòn thi bạn khôns đù tài liệu, bạn thấv trăn 24.6 49.5 22.5 3.4
hơn đúng
Hoàn toàn
sai
Điểm số là quan trọng nhất đẽ đánh giá
một sinh vièn giỏi hay không
9.1 47.9 28.8 14.1
Với những môn thi khôns quan trọng thì
quav cóp đôi khi có thể chấp nhận được
11 23 23.7
42.3
Đòi khi ban quav cóp vì hoàn cánh thuàn
lợi và nhiều nsười khác cũns quay cóp
11.7 22.9
24.8
40.6
Khí xem xét quan niệm về thi cử của sinh viên, theo kết quả thu dược, có
57.0% sinh viên cho rầna điếm số kì quan trọnc nhất đê đánh siú một sinh viên
siỏi hay khôns; số còn lại, 4 2 .9 C/C khônc đồng ý với quan niệm này. Hai quan
điếm trái ncược của hai nhóm sinh viên nàv thực chất là sư đồn2 tình hoặc
20
không mấy đồng tình với cách thức đánh giá học lực sinh viên của các khoa,
trường như hiện nay; cũng có thể xuất phát từ cách xem xét thực trạng vấn đề
gian lận trong thi cử (quay cóp bài). Từ kết quả nshiên cứu, chúng tôi thấy
gian lận thi cử (quav cóp bài) là thực tế đã và đang diễn ra. Có 34% sinh viên
cho rằng với những môn thi khồng quan trọng thì quay cóp đôi khi có thế chấp
nhận được; đáng chú ý là có 34.6% sinh viên đôi khi có quay cóp vì hoàn cảnh
thuận lợi và nhiều người khác cũng quay cóp. Nghĩa là có sự thống nhất cao
giữa thái độ và hành vi của những sinh viên này trons quav cóp bài.
Bên cạnh tình trạng thiếu tài liệu, tinh trạng gian lận trong thi cử, những
vấn đề về việc học một đằng thi một nẻo (học giả thi thật) và cách thức chấm
Lập dàn ý cho các nội dung học tập 21.70
26.0 5.133
4.7
(2)
Thiết lập mỏi liên hệ giữa nội đung học tập
với các tri thức đã có
23.96
26.0
5.102
3.9
(3)
Ôn bài
22.89
24.8
4.320
3.4
(4)
Điều khiển cách thức học tập theo đúng dự
kiến
34.56 39.0
5.908
4.4
(5)
Sự cố gắng trong học tập
25.26
28.2
4.39 8
3.4
(6)
Tự kiểm soát sự chú ý trong học tập
SD1 Độ lệch chuẩn trẽn 520 Sinh vièn năm thứ nhài của Truns tàm Nshiẽn cứu vê Phu nữ iCW’Sj
SD2 Độ lệch chuẩn trên 1100 Sinh vién
2°