VIỆN TÀI NGUYÊN MÔI TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIẺN BÈN VỮNG
CHƯƠNG TRÌNH KC.09.27/06-10
Đề tài “ Nghiên cứu cơ sở khoa học, pháp lý và phân vùng quản
lý tổng hợp vùng ven bờ biển Việt nam và ”
B Á O CÁ O TÓ M T Ấ T Đ Ê TÀ I N H Á NH
N G H I Ê N C Ứ U , Đ Á N H G IÁ Đ IỀ U K IỆ N T H Ủ Y V Ă N
(H Ệ T H Ố N G S Ô N G N G Ò I, C Á C L ư ủ v ự c S Ô N G ),
C H É Đ ộ T H Ủ Y V Ă N Đ Ớ I B Ờ V I Ệ T N A M
Chủ nhiệm Đề tài nhánh: Trần Hồng Thái
■i
H à Nội, năm 2010
5 Jvftjc LỤC
MỜ ĐẦU 1
1. ĐÁC ĐIÊM MẠNG LƯỚI SÔNG SUỐI DẢI VEN BIÊN VIỆT NAM
2
1.1. Những sông ngắn Quảng Ninh
6
1.2. Lưu vực sông Hồng - Thái Bình 7
1.3. Lưu vực sông M ã 7
1.4. Lưu vực sông C à 8
1.5. Lưu vực sông Gianh - Kiến Giang 8
1.6. Lưu vực sông Hương 8
1.7. Lưu vực sông Thu Bồn
9
1.8. Lưu vực sông Ba 9
2. TÀI NGUYÊN NƯỚC DẢI VEN BIÊN VIỆT NA M 10
2.1. Phân bố tài nguyên nước dải ven biển Việt Nam theo không gian
10
2.1.1. Nguồn nước mưa (P ) 11
2.1.2. Lượng dòng chảy năm (R)
.7.
.
.
.
23
3.2.3. Đánh giả chất lượng nước sông suối Việt Nam phục vụ các mục đích sử dụng 29
3.3. Tải lượng các ion hoà tan đổ ra biển
32
3.3.1. Vấn đề ô nhiễm môi trường nước mặt dải ven biến 32
3.3.2. Tải lượng các chất theo sông đỏ ra biển 35
4.1. Các ngành lợi dụng nước
37
4.1.1. Khai thác năng lượng (thủy điện) 37
4. ì. 2. Nuôi trồng thủy sản 38
4.1.3. Giao thông vận tả i thủy nội đ ịa 38
4.2. Các ngành sử dụng nguồn nước 38
4.2.1. Nông nghiệp 38
4.2.2. Cấp nước công nghiệp
39
5. PHÂN VÙNG TÀI NGUYÊN NƯỚC MẶT DẢI VEN BIÊN VIỆT NAM
40
5 2. Nguyên tắc phân vùng 41
(1) Nguyên tắc khách quan 41
phát triển và sử dụng thiếu hợp lý kể cả khâu quản lý dẫn đến tài nguyên nước Việt
Nam có xu thế ngày càng suy thoái, cạn kiệt, nghèo nước. Dải ven biển Việt Nam là
nơi tập trung phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, là nơi tập trung đô thị, dân cư
đông đúc đòi hỏi cao tài nguyên nước cả về trữ lượng lẫn chất lượng nước mặt. Trong
thời gian vừa qua, việc khai thác nguồn nước ở đây chưa có một quy hoạch hoàn
chinh, chưa chú trọng đến việc quản lý và bảo vệ tài nguyên nước đã dẫn đến tài
nguyên nước ở đây có biểu hiện suy thỏai cả về trữ lượng lẫn chất lượng nguồn nước.
Để ngăn chặn và phục hồi có hiệu quả nguồn tài nguyên nước, cần có những giải pháp
phát triển và sử dụng hợp lý (hay phát triển bền vững) cần được quan tâm thực hiện
tích cực, thống nhất, đồng bộ kịp thời. Cho đến nay, trong công cuộc phát triển kinh tế
xã hội của nước ta, phát triển kinh tế biển được đặt lên hàng đầu vì vậy việc đánh giá
tài nguyên nước dải ven biển nhằm phục vụ phân vùng tổng hợp đới bờ là rất cần thiết
có ý nghĩa thực tiễn to lớn.
5 2 0
1
1. ĐẬC ĐIẾM MẠNG LƯỚI SÔNG SUÓI DẢI VEN BIẺN VIỆT NAM
• • •
Vùng ven biển (phần đất liền) có đường bờ biển hình chữ s với tổng chiều dài
trên 3.260km và diện tích nghiên cứu là 53.885km2. Toạ độ vùng nghiên cứu được giới
hạn từ 8°22’đến 21010’ vĩ độ Bắc và 104°02’- 109°28’ kinh độ đông. Ven bờ biển là nơi
tập trung dân cư đông đúc, có rất nhiều thành phố lớn, các trung tâm kinh tế - chính trị của
các tỉnh, huyện với số dân tập trung rất đông (tính đến năm 2005, tổng dân số các huyện ven
biển là 18.475.630 người tương ứng mật độ dân số là 343người/km2). Đây cũng là nơi tập
trung mạng lưới sông suối dày đặc và là nơi nhận nước của cả lưu vực sông ra biển. So
với toàn bộ Biển Đông, dải ven bờ Việt Nam có nhiều hệ thống sông đổ trực tiếp vào
biển nhất, tính trung bình cứ 20km có 1 cửa sông ra biển, trong đó có 2 sông lớn nhất
khu vực Đông Nam Á là sông Mê Kông và sông Hồng.
Nằm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với 3/4 diện tích là đồi núi thấp kề cận
với biển Đông nên dòng chảy sông ngòi ờ Việt Nam hình thành rất thuận lợi tạo nên
một mạng lưới sông suối phát triển dày đặc. Toàn lãnh thổ có 2360 sông suối có chiều
l,5)km/km2. Còn lại trên lãnh thổ dải ven biển nước ta phổ biến có mật độ sông suối từ
(0,5 - l)km/km2. Những vùng này thường có lượng mưa trung bình từ (1600 -
2000)mm như phần lớn lun vực sông Mã, sông Cả, duyên hải Trung Bộ. Dòng chảy ở
những vùng này có tổn thất thấm và bốc hơi khá lớn. Những vùng có lượng mưa thấp,
bốc hơi lớn như Ninh Thuận, Bình Thuận có mật độ sông suối rất thấp từ (0,3 -
0,5)km/km2.
Đặc điểm địa hình của nước ta rất đa dạng và phức tạp, nhiều khúc sông già, trẻ
tồn tại xen kẽ có nhiều đoạn có sự chuyển hướng đột ngột dẫn đến hệ sổ uốn khúc của
của dòng chính khá lớn. Hệ sổ uốn khúc thường đạt từ (1,5 - 2,5) có sông đạt tới trên 4
như KrôngNang (Sông Ba) đạt 4,4.
Với địa hình bị chia cát mạnh mẽ, mạng lưới sông suối phát triển, Việt Nam có
nguồn tài nguyên nước tương đối phong phú tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông
nghiệp, nuôi ứồng thủy sản và giao lưu hàng hoá. Tuy nhiên hình thái các lưu vực sông
Việt Nam khá thuận lợi cho việc hình thành dòng chảy sông ngòi nhưng lại có nhiều khỏ
khăn trong việc phòng chống thiên tai như lũ, lụt, ngập úng và hạn kiệt.
Dựa trên đặc điểm địa hình lưu vực, hình thái đường bờ biển đã hình hành các
kiểu mạng lưới sông suối khác nhau thuộc dải ven biển Việt Nam, bao gồm:
(1) Dải ven biển Quảng Ninh (diện tích 4.540km2): Vùng ven biển Quảng Ninh
thuộc cực Đông Bắc Bộ được giới hạn bời phía Bắc và Tây Bắc là cánh cung Đông
Triều với địa hình chủ yếu là đồi núi thấp với độ dốc sườn lớn. Nền thổ nhưỡng trong
vùng bao gồm Riolit ở vùng núi, sa điệp thạch ở vùng đồi thấp, cát kết xen cuội ở
đồng bằng. Địa hình có hướng cao về phía Đông Bắc (với độ cao từ 500-1000m) và
thấp dần về phía Tây Nam (với độ cao từ 200-500m). Đây chính là nguyên nhân chủ
yếu quyết định hướng chảy của sông ngòi trong vùng.
Được sự án ngữ của cung Đông Triều với lượng mưa năm khá lớn mạng lưới
sông ngòi trong vùng phát triển mạnh. Toàn vùng có 15 sông chính có chiều dài lớn
hom 10km đổ thẳng ra vịnh bắc bộ. Sông suối trong vùng mang những nét đặc trưng
cùa sông suối miền núi là nhỏ, hẹp, độ dốc lòng sông khá lớn. Chi có 2 lưu vực có diện
tích lưu vực lớn hom 500 km2 là Tiên Yên và Ba chẽ còn lại các lưu vực khác như: Hà
Cối, Đầm Hà, Diễn Vọng, Hà Thanh đều có diện tích nhỏ hom 300km2.
biển đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình là 2277,7km2 thuộc 4 tỉnh: Hải Phòng,
Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình. So với dải ven biển Quảng Ninh, thì diện tích ở đây
chưa bằng Vi nhưng do chảy trong vùng đồng bằng bằng phẳng nên địa hình chủ yếu là
cát bột và sét nên mạng lưới sông ngòi phát triển mạnh mẽ. Mật độ sông thuộc loại lớn
nhất lãnh thổ Việt Nam đạt từ 2- 4km/km2. Ngoài hạ lưu của 2 hệ thống sông lớn là
sông Hồng và sông Thái Bình, ở đây còn có một loạt các sông nội đồng như sông Hóa,
Diệm Hộ, Kinh Môn, Phong Lãm phân bố chằng chịt như bàn cờ. Các phân lưu
chính của hệ thống sông Hồng - Thái Bình là Kinh Thầy, Văn úc, Luộc, Trà Lý, Ninh
Cơ, Đáy. Phía hạ lưu sông Thái Bình mật độ sông suối dày hơn phía hạ lưu sông Hồng
so sự chìm xuống của hạ lưu sông Thái Bình. Địa hình phần hạ du sông Thái Bình
thấp, độ dốc lưu vực nhỏ nên có sự phân chia phức tạp, nhiều cửa sông và các cửa
sông cũng sâu và rộng hom phần hạ du sông Hồng, có cửa sông rộng tới 3km. Độ dốc
lòng sông ở khu vực này rất nhỏ, dao động từ 0,02 - 0,05°/(Xb dòng chảy quanh co uốn
khúc nên khó có khả năng tiêu thoát lũ. Đó cũng là điều kiện thuận lợi để mặn xâm
nhập sâu vào trong sông đặc biệt là vào mùa cạn. Hệ số uốn khúc của dòng chính ở hạ
du trung bình đạt khoảng 1,4. Cá biệt có những sông như Trà Lý độ uốn khúc của
5 2 3
4
dòng chính xấp xỉ 2. Do ảnh hưởng của điều kiện địa hình nên trong khu vực này
thường xảy ra hiện tượng cướp dòng. Ờ giữa các sông lớn như sông Hồng, sông Thái
Bình, Trà Lý, Đáy xuất hiện các bãi bồi.
(3) Dải ven biển Thanh Nghệ: Đồng bằng Thanh Hóa, Nghệ An hẹp ngang, có
nhiều đồi độc lập nổi lên giữa lòng đồng bàng kém bàng phẳng và dốc ra biển với độ
nghiêng khá lớn. Sông suối trong khu vực có nhiều sông ngang và các kênh đào nối
liền tạo nên mạng lưới sông dày với mật độ sông suối trên lkm/km2. Địa hình bàng
phảng, chịu ảnh hường của sóng triều nên vùng này thường bị ngập úng mỗi khi xuất
hiện lũ trên sông.
(4) Dải ven biển Trung bộ (từ Quảng Bình đến Bình Thuận): Địa hình dài và hẹp,
phía Tây là dãy Trường Sơn cao từ 1000m đến 2000m chạy dài từ Bắc vào Nam, miền
Trung bị chia cắt bởi các dãy núi chạy ra biển, phía Đông là biển Đông. Nhiều nơi núi
(5) Dải ven biển Nam Bộ (Từ Vũng Tầu đến Kiên Giang): Đồng bàng sông Cửu
Long (ĐBSCL) là một bộ phận nhỏ của lưu vực sông Mê công, một trong những con
sông lớn của thế giới với chiều dài 4000km, chảy qua địa phận 6 nước: Trung Quốc,
Miến Điện, Lào, Thái Lan, Campuchia và cuối cùng là Việt Nam. Tổng diện tích lun
vực là 795000 km2, trong đó phần thuộc Việt Nam chiếm 1/10. Vùng châu thổ nàm tại
miền Nam Việt Nam có diện tích 39000 km2. Được hình thành từ việc bồi tích vịnh
biển nông, dưới sự lắng đọng bồi đắp của phù sa sông, phù sa biển đã tạo cho dải ven
biển Nam Bộ có địa thế cao ở ven sông Tiền, sông Hậu và ven biển, nhưng những
vùng xa sông chính, xa biển nàm sâu trong nội địa ít được bồi đắp thì thấp trũng. Nhìn
chung dải ven biển Nam Bộ có xu thế nghiêng thoải Đông Nam, địa hình khá bằng
phăng và hơi thấp, trừ một số núi còn sót lại ở phía Tây (Kiên Giang và An Giang) có
cao độ từ 200 - 700m, phần còn lại cỏ cao độ dưới 5m, chủ yếu là Các gò cao tự nhiên
dọc sông Tiền, sông Hậu cao độ 1 - 3m; Các giồng cát ven biển cao độ 1 - 3m và Các
đồng bằng ngập lụt sông và ngập triều ven biển cao độ 0 - l,5m. Đây là vùng đất ngập
nước (còn gọi là đất ướt - Wetlands) có chế độ ngập nước theo mùa.
Đặc trưng hình thái các sông suối chính trong dải ven biển Việt Nam được trình
bày trong bảng 1 và dưới đây chúng tôi trình bày đặc trưng hình thái của một số lưu
vực sông chính dải ven biển.
1.1. Những sông ngắn Quảng Ninh
1.1.1. Sông Tiên Yên:
Sông Tiên Yên là con sông lớn nhất vùng 1, có tổng chiều dài dòng chính là
82 km. tổng diện tích lưu vực là 1070 km2. Đây cũng là lưu vực có độ cao bình quân
lưu vực lớn nhất trong vùng. Độ cao bình quân lưu vực đạt 371 m, ở phía Đông Bắc là
52 lm. Lưu vực Tiên Yên có dạng nan quạt dốc dần theo hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Độ dốc lưu vực đã quyết định hướng chảy của sông ngòi.
Mật độ sông suối trên toàn bộ lưu vực sông Tiên Yên là l,34km/km2 ứng với
tổng chiều dài toàn bộ sông suối là 1434km bao gồm 13 phụ lưu có chiều dài lớn hơn
10km. Diện tích bờ phải lưu vực lớn hom hẳn bờ trái do có sự đỏng góp của phụ lưu
Phố Cũ. Diện tích lưu vực Phố Cũ là 418km2 chiếm tới 40% tổng diện tích toàn lưu
vực. Mật độ lưới sông trong toàn lưu vực khá đồng đều, mật độ sông suối giữa hai bờ
dãy núi Ngụy Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc ở độ cao 1.776m. Hướng chủ yếu của
sông chảy theo tây bắc - đông nam, qua huyện tự trị Nguyên Giang của người Thái, Di,
Cáp Nê, ở Việt Nam gọi là người Hà Nhì. Đến biên giới Việt - Trung, sông Hồng chạy
dọc theo biên giới khoảng 80km; đoạn thì sang lãnh thổ Việt Nam, đoạn thì sang lãnh
thổ Trung Quốc. Điểm tiếp xúc đầu tiên của sông Hồng với lãnh thổ Việt Nam tại xã A
Mú Sung, huyện Bát Sát, chính giữa sông là điểm phân chia lãnh thổ hai nước. Đến
thành phố Lào Cai, sông Hồng chảy hẳn vào lãnh thổ Việt Nam qua phía đông thủ đô
Hà Nội trước khi đổ ra biển Đông ở cửa Ba Lạt, ranh giới giữa hai tỉnh Thái Bình và
Nam Định.
1.3. Lưu vực sông Mã
Lưu vực sông Mã nằm ở cực bắc của vùng nghiên cứu với diện tích lưu vực là
24.800km2. Dòng chính sông Mã bắt nguồn từ vùng núi cao Phouei Long cao 2179m
chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam khá thuần nhất do hướng nghiêng của địa hình,
qua lãnh thổ Lào và đổ ra Vịnh Bắc Bộ tại Cửa Hới. Lưu vực sông có dạng dài, hẹp
với chiều dài lưu vực đạt tới 412km, nhưng chiều rộng tiling bình lưu vực đạt 68,lkm
do các dãy núi chạy song song hạn chế sự phát triển các sông suối phụ lưu. Trong tổng
số 40 phụ lưu cấp I đổ vào sông Mã thuộc vùng nghiên cứu chỉ có hai phụ lưu có diện
5 2 6
7
tích lưu vực lớn hơn 1000km2 còn lại có tới 21 phụ lưu có diện tích nhỏ hơn lOOkm2.
Đặc điểm nổi bật của địa hình lưu vực sông Mã là địa hình cao nguyên, thể hiện rõ ờ
thượng và trung lưu, phần thượng lưu dòng sông Mã nằm giừa hai dãy núi cao trung
bình chảy, đoạn trung lưu sông Mã chảy qua vùng đá vôi và diệp thạch là chủ yếu. Độ
cao trung bình theo hướng Tây Bắc - Đông Nam giảm từ 1000m xuống 700m, vùng
đồi nằm sát với đồng bằng chỉ còn cao (200 - 300)m và đổ ra biển với đồng bằng có độ
cao tới 25m. Các điều kiện mặt đệm không thuận lợi cho việc phát triển mạng lưới
sông suối trong lưu vực (mật độ lưới sông trung bình 0,66km/km2)
1.4. Lưu vực sông Cả
Lưu vực sông Cả có diện tích (17.730km2) lớn nhất so với các lưu vực sông
nằm trong dải duyên hải Trung Bộ. Thung lũng sông Cả được coi là ranh giới phân
là điều kiện thuận lợi để tập trung nước trên lưu vực xuống mạng lưới sông suối nhanh.
Ngược lại với vùng núi cao thì trong dải địa hình thấp ven biển của lưu vực xuất hiện
nhiều đầm phá ven biển do doi cát ven bờ có địa hình cao hom vùng đồng bàng ở phía
trong gây cản trở rất lớn cho việc tiêu thoát nước của lưu vực sông Hương. Tuy phần
thượng nguồn sông có mạng lưới sông suối rất phát triển, mật độ lưới sông (1-1.3)
km/km2 nhưng phần hạ du sông thấp, trũng khá bàng phăng nên mạng lưới sông suối
rẩt kém phát triển, mật độ lưới sông (0.5 - 0.6) km/km2 vì vậy mật độ sông suối trên
toàn lưu vực là 0.6 km/km2. Hệ số uốn khúc của dòng chính sông Hương đạt tới 1.65
và các phụ lưu lớn đều xuất hiện ở bờ trái lưu vực với hệ số không cân bằng lưới sông
đat rất cao, 6.68.
1.7. Lưu vực sông Thu Bồn
Có diện tích hứng nước 10350km2, sông Thu Bồn là lưu vực sông lớn thứ 2 so
với các lưu vực sông khác cùng nàm phía sườn Đông dãy Trường Sơn. Bắt nguồn vùng
núi cao nhất dãy Trường Sơn - vùng núi Ngọc Lĩnh ở độ cao 1600m, dòng chính Thu
Bồn với chiều dài sông 205km đổ ra biển tại vịnh Đà Năng qua 3 phân lưu: sông Hà
(Đà Năng), cửa Đại (Hội An) và TRường Giang (Bình Sơn).
Mạng lưới sông suối trong lưu vực sông Thu Bồn kém phát triền với mật độ
lưới sông 0,47km/km2. Phần thượng du lưu vực độ dốc địa hình lớn trên 30%, cấu tạo
địa chất vùng núi là các đá Granit sườn dốc, đỉnh núi nhọn với lớp vỏ phong hoá chủ
yếu là sa thạch, diệp thạch xen lẫn cuội kết nên mạng lưới sông suối trong vùng chỉ
phát triển ở những vùng thấp còn ở phần sườn núi hầu như không xuất hiện dòng chảy
thường xuyên, mật độ lưới sông 0,38km/km2. Phần hạ du sông chảy trong vùng đồng
bàng ven biển thấp, độ dốc bề mặt giảm và lớp vỏ thổ nhưỡng trong vùng này chủ yếu
là đất cát, đất đỏ nên mạng lưới sông suối ở đây cũng không phát triển mạnh, mật độ
sông suối 0,57 km/km2.
1.8. Lưu vực sông Ba
Diện tích hứng nước 13.900km2, lưu vực sông Ba là lưu vực lớn nhất so với các
sông ngắn sườn Đông Trường Sơn và là lưu vực duy nhất thuộc về cả 2 sườn dãy
Trường Sơn.
Bắt nguồn từ vùng núi Ngọc Rô tại độ cao 1200m, đoạn thượng lưu sông Ba
Công với chiều dài khoảng 2.700km. Đến Phnôm Pênh Campuchia sông rẽ làm 2
nhánh chính, nhánh bên phải gọi là sông Mê Công, nhánh bên trái gọi là sông Bassac,
trước khi đổ ra biển Đông sông được rẽ làm nhiều nhánh được gọi chung là hệ thống
sông Cửu Long. Sông Mê Công được xẹp vào hàng thứ 9 trong các hệ thống sông lớn
nhất trên thế giới, với nguồn nước tương đối dồi dào với tổng lượng nước bình quân
hàng năm khoảng 475 tỷ m3. Mới được khai thác ở mức độ thấp, hiện trạng môi trường
còn tốt, chưa có ảnh hưởng đáng kể do phát triển kinh tế xã hội trên lưu vực đến môi
trường.
2. TÀI NGUYÊN NƯỚC DẢI VEN BIẺN VIỆT NAM
2.1. Phân bố tài nguyên nước dải ven biển Việt Nam theo không gian
Nước ta nàm trong vùng nhiệt đới ẩm gió mùa với lượng dòng chảy bình quân
năm toàn lãnh thổ cao. Song trong thực tiễn sử dụng nước gặp nhiều khỏ khăn liên
quan đến cách phân phổi nước theo thời gian và theo vùng rất không đều, đặc biệt hơn
nữa của tính biến động phân phối là sự xuất hiện các dạng phân phổi khắc nghiệt như
10
hạn hán, úng lụt xảy ra với tần suất xuất hiện cao. Sự biến động của cách phân phối
cực đoan tuân theo nhịp điệu nhiều năm, gây ra những xáo trộn nhiều mặt cho sản xuất
nông lâm nghiệp và chi phối toàn bộ hoạt động sống của con người.
Trong vành đai nhiệt đới chúng ta thấy tồn tại ba đới cảnh quan sinh thái, đó là
đới xích đạo với rừng kín thường xanh, đới cận xích đạo với rừng hỗn giao và nửa
rụng lá, đới nhiệt đới với rừng khô hoặc thưa, ứng với mồi loại cảnh quan sinh thái có
một cấu trúc giữa mưa, khả năng bốc hơi, bốc toát hơi thực tế và dòng chảy xác định -
đó là cấu trúc cán cân nước. Các thành phần cán cân nước được thể hiện như lượng
mưa (P), dòng chảy toàn phần (R) và các thành phần của nó là dòng chảy mặt (S),
dòng chảy ngầm (U), lượng bốc hơi lưu vực (E). Các thành phần cán cân nước được
liên hệ theo hệ thống phương trình:
P = s + Ư+ E (mm)
R = s + u (mm)
w= p - s = E +u (mm)
trong đó (W) là lượng trữ ẩm lưu vực - thể hiện lượng nước trữ trong các lớp đất đá từ
nhiễu động gây mưa trên biển (dải hội tụ nhiệt đới, áp thấp nhiệt đới và bão) mưa lớn
xảy ra trên sườn Đông - Bắc. Trong điều kiện đó đã xuất hiện nhiều tâm mưa như
Móng Cái, Kỳ Anh, Bạch Mã, Trà My với lượng mưa lên đến 3000mm/năm hay hơn
nữa.
- Các vùng núi cao đón gió nhiều chiều (khu vực đinh dãy Đông Triều, Trường Sơn)
cũng là những nơi nhiều mưa thường trên 2500mm/năm.
2.1.2. Lưome dòne chảy năm (R)
Hàng năm trên toàn lãnh thổ nước ta tiếp nhận 653km3 nước do mưa mang tới
và có tới 49,8% lượng nước đó đi vào mạng lưới sông suối nước ta, còn lại 50,2%
lượng nước mưa trở lại khí quyển qua quá trình bốc thoát hơi bề mặt. Nếu tính trung
bình hàng năm trên lãnh thổ nước ta đã sinh ra 325km3 (ứng với 974mm) đổ vào các
sông suối, như vậy so với lượng dòng chảy toàn lục địa (252mm) lượng dòng chảy
sông suối nước ta gấp tới 4 lần.
2.1.3. Lươnu bốc hơi thưc tế lưu vưc (E)
Sự phân bố lượng bốc hơi năm trên lãnh thổ nước ta ít phức tạp hom so với sự
phân bổ của lượng mưa năm và dòng chảy năm. Trên lãnh thổ lượng bốc hơi năm (E)
biến đổi từ (400 - 500)mm đến hơn 1300mm. Sự khác biệt của lượng bốc hơi biến đổi
theo địa hình và giữa các sườn núi. Vùng ven biển Ninh Thuận, Bình Thuận tuy khả
năng bốc hơi vào loại lớn ở lãnh thổ nước ta (1500mm/năm) nhưng lượng mưa vào
loại ít nhất. Do đó lượng bốc hơi thực tế lưu vực chỉ vào khoảng (800 - 1000mm).
Phần lãnh thổ Trung Bộ có lượng bốc hơi từ (900 - 1200mm). Lượng bốc hơi ở Nam
Bộ đạt giá trị lớn hom 1300mm/năm.
2.1.4. Lươtte dòm chảy neầm năm (U)
Tính chất tập trung theo mùa ngoài biểu hiện ở lượng tương quan giữa dòng
chảy mùa kiệt và mùa lũ còn được thể hiện qua dòng chảy mặt và dòng chảy ngầm, hai
thành phần của dòng chảy sông ngòi. Dòng chảy mùa kiệt cũng như là dòng chảy
ngầm có thể chiếm từ (10 - 40)% lượng dòng chảy trong năm và lượng dòng chảy
ngầm là thành phần quan trọng để xác định lượng trữ ẩm trong đất, nó phụ thuộc vào
các yếu tố hình thành dòng chảy (lượng mưa, các yếu tố khí hậu, địa hình, lớp phủ
thực vật ), rất phức tạp. Lượng dòng chảy ngầm trên lãnh thổ nước ta chênh lệch lớn
lớn, theo số liệu quan trác cho thấy những năm nước lớn thường chỉ gấp (2-4) lần
những năm nước nhỏ, vì vậy hệ số Cv của các sông suối trên lãnh thổ nước ta qua tính
toán chỉ dao động trong khoảng (0,11 - 0,44) đạt trung bình 0,22.
13
B ả n g 1 : C á n c â n n ư ớ c c á c h ệ t h ố n g s ô n g lớ n t r ê n d ả i v e n b i ể n V i ệ t N a m
STT HỆ THỐNG SÔNG
Diện tích
F(km2)
p
(ram)
R
(mm)
s
(mm)
Ư
E
(mm)
w
(mm)
a
(mm)
(%)
1 Hồng - Thái Bình
89.948
a. S.Hồng (tính đến Sơn Tây)
61.400 1840 1186 827 359
30,3
654 1013
0,64
b. S.Thái Bình (tính đến Phả Lại)
6 Ba
13.900 1690
700 512 188
26,8
990 1178
0,41
7
Các sông dải ven biển NTB
19.153
2178 1413
974 439
31,1
765
1204 0,65
8
Các sông dải ven biển cực NTB
9.312 1304
541 412 129
23,9 763
892
0,41
9 Đồng Nai
37.400 2022
771 609 162
21,0 1251
1413
0,38
10
Đồng bằng sông Cửu Long
40.900 1743
Tiểu vùng B
IX -X I
X -X II
X
XI
XI - VIII
I-IX
IV
V
IV
Đồng bằng sông Hồng
V I-X
VIII
X I-V
IV
V
Đồng bàng sông Cửu Long
VII - XII IX
I-V I IV
VI
Đới khô Thuận Hải V III-X I X
XII - VII
V
2.3. Tiềm năng nguồn nước mặt theo đơn vị hành chỉnh
Dải ven biển Việt Nam là nơi tập trung dân cư rất đông đúc (với mật độ dân số
là 342người/km2, gấp 1,4 lần trung bình toàn lãnh thổ) và đây cũng là nơi tập trung
phát triển mạnh các ngành kinh tế của đất nước, vì vậy việc đánh giá tài nguyên nước
mặt tại chỗ ở khu vực này là rất cần thiết, làm cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định
phát triển kinh tế xã hội trong vùng.
Trên cơ sở số liệu của bản đồ, chúng tôi xác định tài nguyên nước mặt ữong
712,8 671800 0,56
840
5.
Ninh Bình
207,5 163500 0,21 1300
6.
Thanh Hóa
1201,5
1031000
0,76 740 19
7.
Nghệ An
1383,2 1089200
0,96
880
20
8.
Hà Tĩnh
2748 857500 3,90 4550
9.
Quảng Bình
5492,4
714100
9,34 13080 14,21
10.
Quảng Trị
2022,7
447100
3,08
6900
17.
Khánh Hòa
2686,5
860600 0,85
990 1,99
18. Ninh Thuận
1558,6
422700 0,56
1330 2,16
19. Bình Thuận
6103 813800
3,30
4050
3,86
20.
Bà Rịa Vũng Tàu
1477,4
672300 0,81 1200
34,5
2 1.
Tp.Hồ Chí Minh 704,2
59000
0,22 3760
22. Tiền Giang
357,8
179800
0,11 630
500
23.
Bến Tre 1167,8 450000
(Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế). Như vậy có thể thấy rằng, đây ỉà
khu vực có tài nguyên nước hạn chế tuy nhiên đây là khu vực ven biển là nơi nhận
nước cả lưu vực ra biển nhưng cũng rất khó khăn cho vấn đề sử dụng nguồn nước tại
đây
3. MÔI TRƯỜNG NƯỚC CÁC SÔNG SUÓI
3.1. Dòng chảy cát bùn trên sông suối lãnh thổ Việt Nam
Cát bùn là sản phẩm bào mòn phong hoá bề mặt lưu vực cuốn theo dòng chảy
trong quá trình tuần hoàn của nước qua môi trường không khí, đất. Hàng năm, trung
bình có tới (200 - 250)triệu tấn cát bùn được các sông suối thuộc lãnh thổ Việt Nam
đưa ra biển, trong tổng số này hệ thống sông Hồng chiếm tới 60% lượng cát bùn
(lượng cát bùn hệ thống sông Hồng đứng thứ 8 ưên thế giới), hệ thống sông Mekong
30% và 10% còn lại là các sông suối khác; như vậy có thể thấy độ đục nước sông có
sự khác biệt rất lớn giữa các khu vực. Theo số liệu thực tế quan trắc nhiều năm tại các
trạm thủy văn trên sông, độ đục nước sông trên lãnh thổ Việt Nam dao động từ (44 -
2930)g/m3, trạm có lượng độ đục trung bình lớn nhất có thể gấp tới 70 lần so với trạm
có lượng độ đục trung bình nhỏ nhất và các sông thuộc hệ thống sông Hồng có độ đục
lớn nhất so với toàn lãnh thổ, trong đó sông Đà có độ đục lớn nhất còn các lưu vực
khác độ đục nước sông nhỏ hom rất nhiều và vùng có lượng độ đục nhỏ nhất thuộc về
các sông suối ngắn dải ven biển Quảng Ninh, Trung Bộ. Có thể thấy rằng độ đục nước
sông của các trạm mà diện tích hứng nước phần lớn nằm ngoài lãnh thổ Việt Nam như
Lào Cai, Yên Bái, Lai Châu, Hoà Bình, Hà Giang, Tuyên Quang, Châu Đốc có độ đục
lớn hơn rất nhiều, vượt 1000g/m3 vì vậy các trị số độ đục này không phản ánh thực
chất sự xâm thực trên bề mặt lãnh thổ nước ta. Để xác định độ đục nước sông ở các
khu vực này dùng phương pháp đúc rút số liệu độ đục khu giữa và thấy độ đục bình
quân năm trên lãnh thổ nước ta rất nhỏ so với độ đục ngoài lãnh thổ đi vào. Có thể
thấy độ đục nước sông phân hoá theo các vùng khác nhau và chia thành các cấp độ
đục:
- Cấp độ đục nhỏ với p < 100g/m3 trong đó có cấp độ đục rất nhỏ p < 50g/m3
- Cấp độ đục tiling bình p = (100 - 300)g/m3
- Cấp độ đục lớn p = (300 - 500)g/m3
sông
F
(km2)
Độ đục
(g/m3)
Cv
R
(Kg/S)
Qtb
(m3/s)
Y
(mm) (106tấn)
F
(tan/km năm)
Thác Bưởi
Cầu
Thái Bình 2220
234 0.4
12.7 54.3
770
0.40 180.20
Chù
Lục Nam Thái Bình
2090 385 0.44
18.6
48.3 728
0.59
280.33
Chi Lăng Thương Thái Bình
247 497 1.83 3.68 470
Tạ Bú
Đà
Hồng 45900 879 0.34
2060 2344 1608
64.89
1413.73 CO
00
Hoà Bình
Đà
Hồng 51800 1200
0.3 2070
1725 1049
65.21
1258.78
Hà Giang
Lô
Hồng 8260 609
0.44 123
202 770
3.87
469.07
Tuyên Quang
Lô
Hồng 29800 338
0.44 132 391 413
4.16
139.53
Hàm Yên
Lô
Hồng
19
394
272
87.4
67
44
97.22
120
114
86.4
121
227
40.5
37.8
52.2
72.9
170
Cửa Rào Cả Cả
12800
Dừa
Cả Cả
20800
Đồng Tâm
Gianh
Cả
1150
Tám Lu Đại Giang
Cả
1130
Kiến Giang Kiến Giang Cả 321
20
0.63
104 264
650 3.28
255.94
0.48
150 551 835
4.73
227.16
0.49 5.7 65.2
1786
0.18
156.13
4.56 68.1
1897
0.14 127.12
0.88 20.0 1963
0.03
86.36
0.32
10.3
106
1804
0.32
175.38
29.9
249 2488
0.94 298.53
16.5 145
1869
0.05 7.51
103
1054 0.24
76.81
0.65 3070
18059
96.71
5 3 9
Trên cơ sở sổ liệu quan trắc, xác địnỉ^đfr0^ dòng chảy cát bùn đổ ra biển qua
dải ven biển Việt Nam theo các hệ thống sông lớn (bảng 7)
Bảng 5: Lượng cát bùn theo các sông ra biển
STT
HỆ THỐNG SÔNG Diện tích (km2)
Wcátbùn (triệu tấn)
1.
Hồng - Thái Bình 89.948
116
n
Mã
17.600
4,40
*
Cả
17.730
5,32
4.
Các sông ven biển BTB 17.581
3,34
5.
Thu Bồn
ra biển. Ngược lại, trong mùa cạn, dòng chảy sông ngòi giảm thấp thì dòng chảy tổng
hợp ờ khu vực cửa sông lại do dòng triều quyết định.
21