Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus Clarkii) ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu - Pdf 25

Viện NC Nuôi trồng thủy sản I Báo cáo tổng kết đề tài

Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật nuôi thơng phẩm
tôm hùm nớc ngọt (Procambarus Clarkii)
ở các tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển
vùng nguyên liệu xuất khẩu CNĐT: Nguyễn Dơng Dũng
8808 Hà nội - 2010

Điều kiện tự nhiên, địa hình và thời tiết của các tỉnh này rất thích hợp cho việ
c
nuôi loài tôm hùm nước ngọt. Tháng 9/2006, tôm hùm nước ngọt được nhập vào
Việt Nam từ Trung Quốc với mục đích nuôi thử nghiệm ở diện hẹp. Kết quả thử
nghiệm bước đầu cho thấy tôm hùm nước ngọt có khả năng tái tạo được quần đàn.
Nhằm đa dạng hóa đối tượng nuôi và hướng tới phát triển đối tượng có tiềm
năng này trở thành đối tượng nuôi nướ
c ngọt của trung du và đồng bằng Bắc Bộ.
Năm 2008, Bộ Thủy sản (nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) đã cho
phép Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản I thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng

2
dụng kỹ thuật nuôi thương phẩm tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) ở các
tỉnh miền Bắc phục vụ phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu” và dự án: “Dự án
nhập công nghệ sản xuất giống tôm hùm nước ngọt Procambarus clarkii, phục vụ
phát triển vùng nguyên liệu xuất khẩu ở các tỉnh miềm Bắc” [7].
Địa điểm triển khai đề tài: Đề tài được triển khai tại Đình B
ảng, Từ Sơn,
Bắc Ninh. Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh. Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ và Vũ Di,
Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
Thời gian thực hiện: Đề tài thực hiện từ 1/2008 đến hết tháng 12/ 2010.
Tổng kinh phí thực hiện đề tài: 2.032, 0 triệu đồng (Hai tỷ không trăm ba
mươi hai triệu đồng chẵn).


- Xây dựng quy trình nuôi thương phẩm tôm kết hợp với trồng lúa đạt năng
suất 0,5- 0,7 tấn /ha/năm
- Xây dựng quy trình trồng một vụ lúa và nuôi một vụ tôm đạt năng su
ất 1-
2 tấn/ha/năm
- Xây dựng quy trình nuôi thương phẩm tôm trong ao đạt năng suất 3-5
tấm/ha/năm

III. TỒNG QUAN TÀI LIỆU
3.1. Tình hình nghiên cứu tôm hùm nước ngọt trên thế giới
3.1.1.Tình hình nghiên cứu tôm hùm nước ngọt ở nước ngoài
3.1.1.1. Nguồn gốc và một số đặc điểm sinh học
+ Nguồn gốc và phân bố
Tôm hùm nước ngọt (Procambarus clarkii) có nguồn gốc ở Bắc Mỹ, đến
nay chúng
được phân bố rộng rãi trên 20 quốc gia và khu vực thuộc 5 châu lục.
Tôm hùm nước ngọt là đối tượng nuôi của các nước như: Mỹ, Úc, Anh, Thuỵ
Điển, Phần Lan, Na Uy, Pháp, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Trung Quốc và một
số quốc gia khác [4,19,24].
+ Một số đặc điểm sinh học
Tôm hùm nước ngọt P.clarkii thuộc giống Procambarus, họ Cambaridae,
bộ Decapoda, lớp Crustacea, ngành Arthrôpda. Chúng là một loài tôm nước ngọ
t
cỡ vừa và nhỏ.
Tôm hùm nước ngọt là động vật sống bò ở đáy, hoạt động chủ yếu ban đêm.
Chúng sống trong đầm, sông ngòi, hồ chứa, bãi lầy, ao, kênh, mương nông giàu

4
thức ăn, nơi có nền đáy là đất thịt hoặc đất thịt pha cát, có nhiều rong cỏ, rễ cây
Ban ngày tôm nằm yên ở nơi có ánh sáng yếu, cạnh các tảng đá, trong bụi rong, cỏ

con đực qua cơ quan giao cấu vào túi chứa tinh của con cái. Sau khi giao phối,
sớm là 1 tuần, muộn nhất một hoặ
c vài tháng, tôm cái sẽ đẻ trứng. Tôm cái phun
trứng qua lỗ sinh dục ở gốc đôi chân bò thứ ba. Trứng được bọc lại bởi chất keo
dạng lòng trắng trứng. Khi trứng đi qua túi chứa tinh, chất keo này kích thích túi
chứa tinh phóng tinh trùng thụ tinh cho trứng. Trứng được giữ ở các chân

5
bụng.Trứng sẽ nở sau 60 ngày khi nhiệt độ nước 15
0
C; 19 ngày ở nhiệt độ 22
0
C và
14-15 ngày khi nhiệt độ 24-26
0
C. Từ ấu thể tới khi thành thục, tôm lột xác ít nhất
13 lần, trong đó giai đoạn ấu thể 2 lần, giai đoạn tôm con 11 lần. Số lượng trứng
của mỗi tôm cái phụ thuộc kích thước của chúng. Tôm có kích cỡ 6,4 cm (kích
thước nhỏ nhất có khả năng sinh sản) có thể đẻ và ôm được 32 hạt trứng. Tôm cái
cỡ 10,0 – 11,9 cm có thể đẻ và ôm được 237 hạt . Tôm có chiều dài 14,26 cm
(kích cỡ lớn nhất) có thể
đẻ và ôm tới 397 hạt trứng [4,15,16,19,20,26,27].
3.1.1.2. Tổng quan về sản lượng tôm hùm nước ngọt trên thế giới .
Năm 2000, tổng sản lượng tôm hùm nước ngọt thương mại khoảng trên
110.000 tấn. Trong đó Mỹ chiếm 55%, Trung Quốc khoảng 35% , các nước châu
Âu chiếm 18% và châu Úc là 2% [12,13,15]. Trên thế giới tôm hùm nước ngọt đã
trở thành một mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu có giá trị cao, giá dao động từ một vài
đô la
đến trên mười đô la Mỹ/ kilôgam.
Australia năm 2001-2002 sản lượng tôm hùm nước ngọt là 58 tấn, năm

15-20% (theo nguồn tin từ Công ty Qingdao Wentai, Trung Quốc)
3.1.1.3. Kỹ thuật nuôi tôm hùm nướ
c ngọt
Ngành công nghiệp nuôi tôm hùm nước ngọt tại Lousiana của Mỹ rất phát
triển trong suốt thập kỷ cuối của thế kỷ 20. Sản lượng tôm này dao động trong
khoảng 10.000 tấn tới 27.000 tấn. Nuôi tôm hùm nước ngọt chủ yếu cung cấp sản
phẩm làm thực phẩm ở nhà hàng, mặc dù có một số ít được bán làm mồi câu cá.
Năm 2005, 1.100 nông hộ của Louisiana đang nuôi tôm hùm nước ngọt với diện
tích 43.000 ha (LCES 2002). Ngoài bang Louisiana, tôm hùm n
ước ngọt còn được
nuôi ở một số bang khác của nước Mỹ với diện tích khoảng 3.000 ha [26].
Ở Trung Quốc tôm hùm nước ngọt đã, đang được nuôi rất phổ biến ở một
số tỉnh như Hồ Bắc, Hồ Nam, An Huy, Sơn Đông, Triết Giang, Vân Nam, Đài
Loan (trên 20 tỉnh, thành phố và đặc khu) [4]. Trong một vài năm gần đây Thị
trấn Tích Ngọc Khẩu, thuộc thành phố Xuân Giang tỉnh H
ồ Bắc là một trong
những điểm điển hình về nuôi tôm hùm nước ngọt. Tôm hùm nước ngọt không chỉ
được nuôi trong ao mà còn được nuôi ở ruộng trũng. Năm 2001, loài tôm này
được nuôi thử nghiệm tại 1000 mẫu ruộng trũng (01 mẫu Trung Quốc bằng 667
m
2
), năm 2002 là 2000 mẫu, năm 2003 là 5.000 mẫu, năm 2004 là 6.000 mẫu và

7

đến 2005 là 15.000 mẫu (tương đương1.000 ha). Ruộng nuôi Tôm hùm nước
ngọt thường có mương chạy xung quanh . Diện tích mương chiếm khoảng 5-
10%. Tôm có thể được nuôi luân canh với trồng lúa ( một vụ trồng lúa, một vụ
nuôi tôm) hoặc nuôi kết hợp với lúa [4]. Sau đây xin được dẫn ra một một số mô
hình nuôi tôm hùm nước ngọt.

là nuôi hỗn hợp tôm – lúa. Phương thức này tôm sinh sống chủ yếu dựa vào các
loại thức ăn tự nhiên sẵn có trong ruộng. Tuy nhiên cần bổ xung thêm thức ăn cám
gạo hoặc bột ngô. Phương thức canh tác này không ảnh hưởng tới năng suất lúa,
mà còn thu thêm được khoảng 500- 700 kg tôm/ha [ 4,19].
+ Nuôi tôm trong ao

Cỏ thủy sinh được trồng thành nhiều đám trong ao nuôi tôm hùm nước
ngọt. Diện tích trồng cỏ thủy sinh chiếm khoảng 5% diện tích ao. Mực nước trong
ao thường được duy trì ở mức 60-80 cm nhằm giúp quản lý nước và cây cỏ, đồng
thời kỹ thuật thu hoạch cũng đòi hỏi mực nước nông. Trà được thả rải rác trong ao
để làm chỗ trú cho tôm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng: Các vật chất thực vật
nguyên thu
ỷ (chưa phân huỷ) nuôi dưỡng tôm rất ít, hoặc cung cấp lượng dinh
dưỡng rất hạn chế. Các chất hữu cơ từ thực vật đã phân huỷ (mùn bã hữu cơ) và
một số loại hạt được tôm dùng làm thức ăn. Tuy nhiên nguồn thức ăn tối ưu cho
tôm là một tập hợp động vật không xương sống. Như vậy, chức năng chính của
rong cỏ trong ao nuôi tôm hùm nước ngọ
t không cung cấp thức ăn trực tiếp, mà nó
cung cấp năng lượng nuôi dưỡng chuỗi thức ăn trong đó tôm là ở đỉnh của chuỗi
[4,26,27].
Cách thức thả giống cho ao nuôi có thể thực hiện bằng thả tôm bố mẹ hoặc
tôm giống vừa rời khỏi mẹ.
+ Thả giống bằng tôm bố mẹ: Tôm bố, mẹ có khối lượng từ 25 - 30 gam/
con được sử dụng để s
ản sinh ra quần đàn tôm con trong ao nuôi. Mật độ từ
13.000-20.000 con/ha.
Tỷ lệ đực/ cái trong quần đàn là 1♂/ 3♀.
Thời gian thả tôm: Tôm bố mẹ được thả tháng 6 -7.
Sử dụng lờ đáy để thu tôm bố mẹ khi thấy có tôm con trong ao.


lên cá hương của các loài cá nuôi với tôm hùm nước ngọt, tôm không ảnh hưởng
đến tỷ lệ sống của cá. Điều này chứng tỏ tôm không ăn cá bột hoặc cá hương. Tuy

10
tôm không thể đuổi bắt và ăn thịt được cá khoẻ bơi lội nhanh, nhưng nó vẫn có thể
bắt và ăn cá đã chết [4].
Vào năm 1997, Mỹ đưa ra thuế nhập khẩu từ 92 tới 201%, trung bình 123%
lên thịt thân tôm nhập khẩu từ Trung Quốc để ngăn cản việc chống bán phá giá
bởi hiệp hội thương mại quốc tế Hoa Kỳ (ITC) nhằm áp đặt thuế lên sản phẩm
được cho là bán dưới mức giá thị trường. Điều tra của ITC thấy rằng từ năm 1994
tới 1996, sản phẩm nhập khẩu thịt thân tôm hùm nước ngọt đã tăng lên ba lần đạt
tới 4600 tấn. Như vậy Trung Quốc đã xuất khẩu vào Mỹ khoảng 30-46.000 tấn
tôm (nếu tính ngược lại từ thịt thân tôm thành tôm nguyên liệu với tỷ lệ khoảng
6,25:1 tới 10:1). Tuy với thuế cao như
vậy sản lượng tôm hùm nước ngọt từ Trung
Quốc nhập vào Mỹ ngày một tăng. Năm 1999, Trung Quốc đã xuất khẩu vào Mỹ
khoảng 70.000 tấn tôm nguyên con [12].
Loài tôm hùm nước ngọt được nuôi chính tại Trung Quốc được nhập từ Bắc
Mỹ. Tôm này chủ yếu được nuôi ở ao đất trong hệ thống nuôi đa canh với cá, hoặc
trong hệ thống nuôi tôm -lúa. Tôm thương phẩm của loài tôm này có thể bán buôn
với giá 0,75 đ
ô la/kg và được bán lại khoảng 0,83-1,25 đô la/kg. Tôm được chế
biến thành nhiều sản phẩm bao gồm thịt thân tôm hoặc các sản phẩm khác. Số
lượng tôm này được cung cấp và xuất khẩu làm tăng thêm giá trị và có ý nghĩa về
kinh tế xã hội ở các tỉnh nội địa của Trung Quốc. Loài tôm này cũng được bán tại
thị trường địa phương với giá 0,7-1 đô la/kg, hoặc bán trong siêu thị với giá
khoảng 2,5 đô la/kg Trung Quố
c đã xuất khẩu tôm tươi sống tới thị trường các
nước Đông Á, đặc biệt là Hông Kông và Đài Loan, với giá khoảng 10 đô la/kg
[12,26].

bán thâm canh và thâm canh, hệ thống nuôi đơn, hệ thống nuôi đa canh hoặ
c nuôi
kết hợp. Hệ thống nuôi lúa – tôm là đặc biệt thành công ở Mỹ và Trung Quốc.
Hơn nữa, tôm hùm nước ngọt có thể nuôi ở nhiều thuỷ vực, kể cả những nơi bị
nhiễm mặn hoặc nơi chất lượng nước giảm xút đây là vấn đề đặc biệt quan trọng ở
hệ thống nuôi ở nông thôn. Một điều quan trọng nữa là con tôm này có thể nuôi
bở
i người có ít kinh nghiệm nuôi thuỷ sản vì chúng dễ sống sót và sinh sôi nếu
gặp điều kiện thích hợp. Tuy nhiên, những nhà quản lý có kinh nghiệm thường
nuôi với sản lượng cao hơn tương ứng với mức độ đầu tư công nghệ và dinh
dưỡng. Năng suất trung bình của tôm hùm nước ngọt ở Mỹ thường đạt 1-2
tấn/ha/năm trong hệ thống nuôi có quản lý. Tại Úc, năng suất trung bình đạt 4
tấ
n/ha/năm trong hệ thống bán thâm canh chăm sóc tốt [12,13,26].

12
+ Điểm yếu của việc nuôi tôm hùm nước ngọt
Tôm hùm nước ngọt được nhập vào Ecuador năm 1994 với hy vọng về hiệu
quả kinh tế năng suất từ 7-10 tấn/ha và kích cỡ tôm từ 80-100g/con. Với kích cỡ
này giá của tôm thương phẩm có thể đạt tới 20 đô la/kg. Hy vọng này dẫn đến lợi
nhuận từ việc bán tôm bố mẹ và con giống cao gấp nhiều lần so với việ
c bán tôm
thực phẩm. Việc phát triển nhanh quá mức nuôi loài tôm này, trong vòng 3 năm
diện tích nuôi loài tôn mày đã đạt tới 250 ha. Tiếp theo đó phong trào nuôi loài
tôm này bắt đầu xuống dốc khi quá nhiều sản phẩm được đưa ra thị trường. Một
số doanh nghiệp vừa mới đầu tư thì sản phẩm tôm thương phẩm đã bão hoà, dư
thừa và bị ứ đọng sản phẩm. Một thực tế là tôm hùm nước ngọt đượ
c cung cấp từ
Trung Quốc cao hơn cả sản lượng của Ecudor. Đây là một thực tế khó lường trong
cạnh tranh thị trường. Trong khi các doanh nghiệp nuôi tôm hùm nước ngọt của

2
sau 2 tháng đạt kích cỡ
1,59- 1,81 gam/ con. Tốc độ tăng trọng trung bình 0,027- 0,031 gam/ con/ ngày.
Tỷ lệ sống đạt từ 57,48- 71,20%.
Tôm với kích cỡ 1,7- 22,32 gam/ cá thể nuôi với mật độ 3,0- 15,0 con/ m
2

trong 3 tháng nuôi tốc độ tăng trọng trung bình từ 0,10- 0,24 gam/con/ ngày. Tỷ
lệ sống giao động từ 14,69- 81,40%.
Tôm càng đỏ với kích cỡ trung bình 34,63 gam/con (cỡ tôm thí nghiệm)
không làm hại lúa và cá khi được nuôi, trồng cùng với tôm.
Trong quá trình phát triển quần đàn tại Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ
sản I (Viện I), tôm càng đỏ thường nhiễm Aeromonas sp; nấm Achlya sp và
Fusarium sp; ký sinh trùng Epistylis sp và Nematoda sp. Tuy tỷ lệ nhiễm ký sinh
trùng lên tới 60,0%, vi khuẩn 20,0% nhưng cường nhiễm nhẹ
nên không gây thành
dịch bệnh cho tôm trong quá trình nuôi.
Phần thịt ăn được của tôm càng đỏ chỉ chiếm 29,89%. Protein tổng số
chiếm 17,92% và Lipít chiếm 0,54%.
Từ những kết luận trên đây có thể đưa ra nhận định ban đầu sau:
Tôm càng đỏ có sự thích nghi nhất định với các điều kiện tự nhiên của miền
Bắc Việt Nam (tại Viện I). Tôm Càng đỏ đã khép kín vòng đời và phát triển
được quần đàn trong đi
ều kiện nuôi tại Viện I.
+ Tôm hùm nước ngọt - Procambarus clarkii
Tôm hùm nước ngọt được nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam tháng
9/2006. Tháng 11/2006 tôm đã sinh sản. Tháng 4 năm 2007 đã thu được 1.545
tôm con với kích cỡ từ 2- 6 cm.

14

15
IV. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
4.1.Vật liệu nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tôm hùm nước ngọt- Procambarus clarkii được
nhập từ Trung Quốc vào Việt Nam.
- Địa điểm nghiên cứu
Đề tài được triển khai tại :
1. Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh.
2. Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh.
3. Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ.
4. V
ũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc.
- Thời gian nghiên cứu
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 1/2008- 12/ 2010.
4.2. Nội dung nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu đặt ra đề tài thực hiện các nội dung sau:
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái học của tôm hùm nước ngọt: Ngưỡng
nhiệt độ cao, O
2
.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với cá giai đoạn ương từ cá bột
lên cá hương.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với tôm càng của Việt Nam.
- Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với lúa.
- Nghiên cứu tác nhân gây bệnh đối với loài tôm hùm nước ngọt và biện pháp
phòng, trị bệnh.
- Phân tích một số chỉ tiêu dinh dưỡng của tôm hùm nướ
c ngọt: Tỷ lệ thịt ăn
được, protein tổng số lipit và tro.

lắc
đều túi một lần. Ngưỡng ôxy là tại hàm lượng ôxy nào đó làm tôm ngạt thở
hôn mê và chết 50% số cá thể được sử dụng trong thí nghiệm. Thí nghiệm được
lặp lại 3 lần.
- Đối với tôm hậu bị
30 tôm hậu bị (kích cỡ 7- 10 cm/con) được giữ trong túi polyethylen với 1,0

17
lít nước. Thao tác thực hiện tương tự như thực hiện với tôm giống.
4.3.2. Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với cá (giai đoạn ương
từ cá bột lên cá hương)

Thí nghiệm được tiến hành tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, từ ngày 4/3
đến ngày 24/4 năm 2009.
03 bể nuôi tôm với cá bột.
Mật độ tôm thả 17 con/m
2
.
Khối lượng: 15,3 gam/con
Mật độ cá thả 150 con/m
2
.
01 bể đối chứng (chỉ nuôi cỏ bột). Mật độ cá thả: 150 con/m
2

Đỗ tương luộc được sử dụng cho tôm ăn. Ngày cho ăn một lần vào 17h.
Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn.
Đỗ tương rang chín nghiền thành bột mịn sử dụng làm thức ăn cho cá chép
bột. Ngày cho ăn hai lần vào 8 h và 14 h. Khẩu phần thức ăn hàng ngày cụ thể
như sau:

đàn.
4.3.4.Tìm hiểu ảnh hưởng của tôm hùm nước ngọt đối với lúa
Thí nghiệm được bố trí trong ao với diện tích 744 m
2
tại Đình Bảng, Từ Sơn,
Bắc Ninh, theo hình 4.3.1 (xem hình 4.3.1). Thí nghiệm được thực hiện từ ngày
15/7-25/10/2008.

Lúa được cấy với mật độ 35-40 khóm/m
2
. Phân chuồng được bón lót 1000
kg/sào. Phân lân 30 kg/sào. Phân đạm 10 kg/sào. Khi lúa đẻ nhánh bón 10 kg phân
đạm/sào. Lúa cấy được 15- 20 ngày thả tôm.
Mật độ tôm thả nuôi 15 con/m
2
. Kích cỡ trung bình 10,2 gam/con.
Thức ăn viên được sử dụng cho tôm ăn . Ngày cho ăn một lần vào lúc 17
giờ. Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 2-3 % khối lượng quần đàn. Mương Mương Lô 1:
Lúa cấy 35 - 40 khóm/m
2
.
Không thả tôm

Lô 2:


kết hợp với trồng lúa
4.3.5.1. Chuẩn bị ruộng nuôi tôm
Ruộng nuôi tôm được chuẩn bị như sau: Mương được đào xung quanh

19
ruộng rộng từ 0,5-1,0m, sâu 0,5m . Tổng diện tích mương chiếm 5- 10% diện tích
ruộng.
Phân chuồng hoai mục rải đều trong mương trước khi thả tôm 7-10 ngày.
Lượng phân bón là 80- 100kg/ 360m
2
ruộng. Các tháng tiếp theo bón bổ sung mỗi
tuần một lần với lượng 25-30kg/360 m
2
ruộng.
Rong đuôi chó, cỏ tóc tiên được trồng phân tán trong mương. Diện tích cỏ
tóc tiên và rong đuôi chó chiếm 25% diện tích mương.
Nước cấp cho ruộng nuôi tôm được lọc qua lưới cước dầy có kích cỡ mắt
lưới 1x 1 mm. Mực nước ruộng thường xuyên giữ ở mức 0,2-0,3m.
Bờ xung quanh ruộng được chắn bằng bạt hoặc nylon cao từ 0,4-0,5m.
Hàng ngày kiểm tra bờ và tấm chắn để tu bổ tránh tôm thất thoát.
Lúa
được cấy vào giữa tháng 6 dương lịch với mật độ 35-40 khóm/m
2
.
4.3.5.2. Thời gian, mật độ thả giống và cách thức chăm sóc
+ Năm 2008
Tại Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, tôm được thả từ 15/7/2008. Diện tích
nuôi 1 ha. Mật độ 1,5 con/m
2

Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh theo sơ đồ hình 4.3.2 (xem hình 4.3.2).

Mương Mương Lô 1:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m
2
.
Mật độ tôm: 12 con/m
2Lô 2: Lúa cấy 35-40 khóm/m
2
.
Mật độ tôm:10 con/m
2
Lô 4:

Lúa cấy 35 - 40 khóm/m
2
.

Ruộng nuôi tôm được chuẩn bị tương tự ruộng nuôi tôm kết hợp với trồng
lúa (xem phần 4.3.2). 21
4.3.6.2. Thời gian, mật độ thả giống và cách thức chăm sóc
+ Năm 2008
Tại Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, tôm được thả từ 15/7/2008. Diện tích
nuôi 1 ha. Mật độ 1,5 con/m
2
. Khối lượng tôm thả 187 kg.
Taị Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ, tôm được thả từ 01/8/2008. Diện tích
được nuôi 1 ha. Mật độ 1,5 con/m
2
. Khối lượng tôm thả 185 kg
Tại Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh, tôm được thả từ 15/8/2008. Diện tích
nuôi là 1 ha. Mật độ 1,6 con/m
2
. Khối lượng tôm thả 200 kg.
Tôm được cho ăn bằng cám gạo hoặc bột ngô mỗi ngày một lần vào lúc
17h. Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn.
+ Năm 2009
Tại Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh, tôm được thả từ 06/8/2009. Diện tích
nuôi là 2,3 ha. Mật độ 2,5 con/m
2
. Khối lượng tôm thả 710 kg.
Tôm được cho ăn bằng cám gạo hoặc bột ngô mỗi ngày một lần vào lúc
17h. Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn.
4.3.7. Nuôi tôm hùm nước ngọt trong ao đất


Thức ăn viên có độ đạm ≥ 25% được sử dụng cho tôm ăn. Ngày cho tôm ăn
một lần vào 17 giờ. Khẩu phần ăn hàng ngày bằng 3% khối lượng quần đàn.
+ Năm 2009
Tại Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh, tôm được thả từ ngày 06/9/2009. Diện
tích thả nuôi 2445 m
2
( 3 ao, mỗi ao có diện tích 815 m
2
). Mật độ thả bình quân
5,5 con/m
2
. Trong đó ao D1 nuôi với mật độ 7 con/m
2
, ao D3 thả nuôi với mật độ
5,5 con/m
2
và ao D5 nuôi với mật độ 4 con/m
2
. Khối lượng tôm thả nuôi 210 kg.
Tại Vũ Di, Vĩnh Tường, Vĩnh Phúc, tôm được thả từ 15/9/2009. Diện tích
nuôi 3000 m
2
(ao có bờ đất). Mật độ 5,5 con/m
2
. Khối lượng tôm thả 206 kg.
Taị Sơn Vi, Lâm Thao, Phú Thọ, tôm được thả từ 16/9/2009. Diện tích
nuôi 2,2 ha (ao có bờ đất). Mật độ 5,5 con/m
2
. Khối lượng tôm thả nuôi 1500 kg.
Tại Đào Viên, Quế Võ, Bắc Ninh tôm được thả từ 06/9/2009. Diện tích nuôi

2Lô 4:

Mật độ tôm: 2,5 con/m
2
Lô 3:

Mật độ tôm: 2,5 con/m
2

Hình 4.3.3. Sơ đồ thí nghiệm nuôi tôm bố mẹ trong ao
Thức ăn: Thức ăn viên có độ đạm 25% được sử dụng cho tôm ăn. Ngày
cho tôm ăn một lần vào lúc 17 giờ. Khẩu phần thức ăn hàng ngày bằng 3% khối
lượng quần đàn.
b. Đối với tôm thịt
Thí nghiệm được bố trí theo sơ đồ hình 4.3.4 (xem hình 4.3.4).
Kích cỡ và mật độ:
Tôm giống với kích cỡ 0,5-5,0 g/con, trung bình 2,4 g/con.
M
ật độ tôm được thả nuôi 20 con/m
2
và 22 con/m
2
.
Thức ăn: Thức ăn viên có độ đam 25% được sử dụng cho tôm ăn. Ngày cho

Mật độ tôm:20 con/m
2

Hình 4.3.4. Sơ đồ thí nghiệm nuôi tôm thịt trong ao
4.3.7.3. Thu mẫu sinh trưởng và môi trường
Mỗi tháng thu mẫu kiểm tra sinh trưởng một lần và thay đổi lượng thức ăn.
Các yếu tố nhiệt độ, pH và ôxy được đo hàng ngày.
4.3.8. Xác định một số tác nhân gây bệnh đối với loài tôm hùm nước ngọt
+ Xác định tác nhân gây bệnh là vi khuẩn
Sử dụng phương pháp nghiên cứu vi khuẩn trên động vật thuỷ sản của Dogiel [17]
để xác định tác nhân gây b
ệnh là vi khuẩn. Phương pháp này được tóm tắt tại hình
4.3.5 (xem hình 4.3.5).
+ Xác định tác nhân gây bệnh là nấm
Sử dụng phương pháp nghiên cứu nấm của Willoughby L.G [24 ] để xác định tác
nhân gây bệnh là nấm. Phương pháp này được tóm tắt tại hình 4.3.6 (xem hình
4.3.6).
+ Xác định tác nhân gây bệnh là ký sinh trùng
Sử dụng phương pháp của Bychowkaja [13] để xác định ký sinh trùng
gây bệnh cho tôm.

Trích đoạn Kết quả nuụi tụm thịt trong ao. Tiềm năng nuụi tụm hựm nước ngọt ở miền Bắc Việt Nam.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status