Chuyên đề tốt nghiệp
MỤC LỤC
2
2
2
DANH M C B NG BI U- BI U - S Ụ Ả Ể Ể ĐỒ ƠĐỒ 3
2.1.3.3. Ho t ng thanh toán qu c tạ độ ố ế 40
2.1.3.4. Phát tri n s n ph m, d ch v m iể ả ẩ ị ụ ớ 40
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC VIẾT TẮT
DAĐT : Dự án đầu tư
NHNN : Ngân hàng nhà nước
KH : Kỳ hạn
NHNo & PTNT : Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn
PAKD : Phương án kinh doanh
TCKT : Tổ chức kinh tế
TCTD : Tổ chức tín dụng
TG : Tiền gửi
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TSCĐ : Tài sản cố định
TSĐB : Tài sản đảm bảo
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
Chuyên đề tốt nghiệp
DANH MỤC BẢNG BIỂU- BIỂU ĐỒ- SƠ ĐỒ
2
2
2
được chất lượng tín dụng của Chi nhánh chưa thực sự ổn định và tầm quan trọng
của công tác thẩm định tín dụng với khách hàng doanh nghiệp, việc tìm ra giải pháp
đúng đắn cho vấn đề tháo gỡ khó khăn trong việc giải quyết nợ quá hạn, nợ xấu vẫn
là một bài toán khó, em đã quyết định chọn đề tài “ Nâng cao chất lượng thẩm
định tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại NHNo & PTNT Yên Phong”
làm đề tài nghiên cứu cho chuyên đề tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu về hệ thống lý thuyết thẩm định tín dụng đối với khách hàng
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
4
Chuyên đề tốt nghiệp
doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại.
Phân tích thực trạng của hoạt động thẩm định tín dụng đối với khách hàng
doanh nghiệp tại NHNo & PTNT Yên Phong.
Đề xuất một số giải pháp về hoạt động thẩm định tín dụng đối với khách
hàng doanh nghiệp tại NHNo & PTNT Yên Phong.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động thẩm định tín dụng đối với khách hàng
doanh nghiệp tại NHNo & PTNT Yên Phong.
Phạm vi nghiên cứu: Thực trạng hoạt động thẩm định tín dụng khách hàng
doanh nghiệp tại NHNo & PTNT Yên Phong giai đoạn 2010- 2012.
4. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập số liệu từ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của
Chi nhánh.
Phương pháp phân tích thống kê số liệu từ báo cáo kết quả kinh doanh, báo
cáo tài chính của ngân hàng, so sánh số liệu và sự biến động của dãy số qua các
năm.
5. Kết cấu của chuyên đề tốt nghiệp
Kết cấu của chuyên đề tốt nghiệp ngoài phần mở đầu, kết luận được chia
thành 3 nội dung chính sau:
Từ những nhận định trên, có thể thấy ngân hàng thương mại là một trong
những định chế tài chính mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với
nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay và cung ứng các dịch vụ thanh toán.
Ngoài ra, nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu về sản phẩm dịch vụ xã hội Ngân hàng
thương mại còn cung cấp nhiều dịch vụ khác.
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
6
Chuyên đề tốt nghiệp
1.1.2. Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1. Trung gian tài chính
Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ
yếu là chuyển tiết kiệm thành đầu tư. Chức năng trung gian tài chính được xem là
chức năng quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng
trung gian tài chính, ngân hàng thương mại đóng vai trò là cầu nối giữa người thừa
vốn và người có nhu cầu về vốn. Với chức năng này, ngân hàng thương mại vừa
đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho vay và hưởng lợi nhuận
là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận tiền gửi và lãi suất cho vay và góp phần tạo
lợi ích cho tất cả các bên tham gia: người gửi tiền và người đi vay.
1.1.2.2. Tạo phương tiện thanh toán
Trong điều kiện phát triển thanh toán qua ngân hàng, khách hàng có số dư tài
khoản tiền gửi thanh toán thì họ có thể chi trả cho các hàng hóa, dịch vụ theo yêu
cầu. Khi ngân hàng cho vay, số dư trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách
hàng tăng lên, khách hàng có thể dùng để mua hàng hóa, dịch vụ. Do đó, bằng việc
cho vay, các ngân hàng đã tạo ra phương tiện thanh toán.
Toàn bộ hệ thống ngân hàng cũng tạo phương tiện thanh toán khi các khoản
tiền gửi được mở rộng từ ngân hàng này đến ngân hàng khác trên cơ sở cho vay.
1.1.2.3. Trung gian thanh toán
Ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân,
thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền
gửi của họ để thanh toán tiềng hàng hóa, dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản tiền gửi của
với mục đích tích lũy tiền an toàn và được hưởng một khoản lãi trên khoản tiền đó.
* Huy động từ chủ sở hữu
Các ngân hàng thương mại thường huy động nguồn này thông qua nghiệp vụ
phát hành cổ phiếu, trái phiếu chuyển đổi thành cổ phiếu, nhận vốn cấp phát của
Ngân sách nhà nước,… Nhìn chung, việc huy động dưới hình thức nào là do tính
chất sở hữu của Ngân hàng thương mại quyết định.
1.1.3.2. Hoạt động sử dụng vốn
* Ngân quỹ
Đây là khoản tiền dự trữ để đảm bảo cho quá trình hoạt động kinh doanh của
mỗi ngân hàng. Tiền mặt tại quỹ của ngân hàng như tiền giấy, tiền kim loại và
những khoản được coi là tiền mặt hiện có tại kho của ngân hàng, được giữ chủ yếu
nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả cho khách hàng gửi tiền và dự trữ theo luật định. Nhu cầu
dự trữ tiền mặt cao hay thấp là tùy thuộc vào quy mô hoạt động của ngân hàng, nhu cầu
rút tiền mặt của khách hàng. Đây là nghiệp vụ không sinh lời nhưng đóng vai trò rất
quan trọng, đảm bảo uy tín trong thanh toán cho khách hàng với ngân hàng khác và đặc
biệt là sự tuân thủ trong quy định về dự trữ bắt buộc và dự trữ đảm bảo khả năng thanh
toán của Ngân hàng Trung Ương áp dụng đối với mỗi ngân hàng thương mại.
* Đầu tư
Đầu tư là một trong những hoạt động quan trọng của ngân hàng thương mại,
nó mang lại lợi nhuận rất lớn cho ngân hàng. Danh mục đầu tư của ngân hàng rất đa
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
8
Chuyên đề tốt nghiệp
dạng, bao gồm một số hoạt động sau:
- Đầu tư chứng khoán
Chứng khoán là loại tài sản có tính thanh khoản rất cao, ngân hàng đầu tư
vào loại tài sản này nhằm mục đích đảm bảo tính thanh khoản cho toàn hệ thống và
sinh lời do sở hữu các chứng khoán đó. Thông thường thì ngân hàng thường đầu tư
vào chứng khoán của các công ty hoạt động tốt, có thương hiệu trên thị trường, bởi
đó là các loại chứng khoán có tính thanh khoản cao, tỷ lệ sinh lời ổn định.
- Cung cấp dịch vụ ủy thác tư vấn: Ngày nay, dịch vụ ủy thác phát triển, nhiều
cá nhân và doanh nghiệp nhờ ngân hàng quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài
chính hộ. Dịch vụ ủy thác phát triển sang cả ủy thác vay hộ, ủy thác cho vay, ủy
thác phát hành, ủy thác đầu tư… Nhiều khách hàng coi ngân hàng như một chuyên
gia tư vấn tài chính để tư vấn về đầu tư, quản lý tài chính, thành lập, mua bán, sáp
nhập doanh nghiệp.
- Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán: Đây là một dịch vụ mà
các ngân hàng thương mại cung cấp để thỏa mãn các dịch vụ tài chính của khách
hàng. Ngân hàng bán các dịch vụ môi giới chứng khoán, cung cấp cho khách hàng
cơ hội mua cổ phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác. Ngày nay, các ngân hàng
thương mại thành lập ra các công ty con là công ty chứng khoán hoặc công ty môi
giới chứng khoán nhằm cung cấp dịch vụ môi giới.
- Bảo quản tài sản hộ: Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các giấy
tờ có giá khác và các tài sản khác cho khách hàng trong két (vì vậy còn gọi là dịch
vụ cho thuê két sắt). Ngân hàng thường giữ hộ những tài sản chính, giấy tờ cầm cố,
hoặc những giấy tờ quan trọng khác của khách hàng với nguyên tắc an toàn, bảo
mật, thuận tiện.
- Cung cấp các dịch vụ bảo hiểm: Nhiều năm nay, các ngân hàng đã bán bảo
hiểm cho khách hàng, điều đó đảm bảo việc hoàn trả trong trường hợp khách hàng
bị chết, bị tàn phế hay gặp rủi ro trong hoạt động, mất khả năng thanh toán. Ngân
hàng thường liên kết với các công ty bảo hiểm nhằm cung cấp dịch vụ tiết kiệm gắn
với bảo hiểm.
- Cung cấp các dịch vụ đại lý: Các ngân hàng thường cung cấp các dịch vụ
ngân hàng đại lý cho các ngân hàng khác như thanh toán toàn bộ, phát hành hộ các
chứng chỉ tiền gửi, làm ngân hàng đầu mối trong đồng tài trợ.
1.2. Tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là quan hệ chuyển giao quyền sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi
vay và người cho vay trên nguyên tắc có hoàn trả. Quan hệ tín dụng dựa trên nền
tảng của sự tin tưởng nhau giữa các chủ thể.
- Tín dụng ngân hàng làm tăng hiệu quả kinh tế: Các doanh nghiệp hoạt động
sản xuất kinh doanh dựa trên vốn chủ sở hữu và vốn vay. Một trong những nguồn
để vay là từ ngân hàng, đó là nguồn tài trợ hiệu quả bởi vì nó thỏa mãn nhu cầu vốn
về số lượng và thời hạn. Hơn nữa, để vay vốn được từ ngân hàng thì các doanh
nghiệp cần phải nâng cao uy tín của mình đối với ngân hàng, đảm bảo được các
nguyên tắc tín dụng. Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tìm hiểu thị trường, khai
thác thông tin để định lượng hoạt động kinh doanh của mình hiệu quả, sinh lãi cao
nhất. Mặt khác, một trong những quy định của ngân hàng là khâu giám sát sử dụng
vốn vay, buộc các doanh nghiệp sử dụng vốn vay đúng mục đích, từ đó góp phần
nâng cao hiệu quả kinh tế.
- Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn,
làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế, tạo cơ chế phân phối vốn một
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
11
Chuyên đề tốt nghiệp
cách có hiệu quả. Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh
doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng
giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hóa cho quá trình sản xuất kinh
doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp có lúc thừa, có lúc
thiếu vốn. Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát, ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho
vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên một
cơ chế phân phối vốn hiệu quả.
- Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách
tiền tệ. Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả
năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà muốn tăng khối
lượng tiền cung ứng thì ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các
ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại. Do vậy, thông qua hoạt
động tín dụng ngân hàng Nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng
trong lưu thông.
- Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu
lẫn lãi cho ngân hàng.
- Bảo lãnh: Ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài chính hộ khách hàng
của mình. Ngân hàng sử dụng uy tín của mình để bảo lãnh cho khách hàng và thu
lợi nhuận.
c. Tín dụng theo hình thức đảm bảo
- Tín dụng có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng mà ngân hàng cung ứng với
điều kiện khách hàng vay phải có tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên
thứ ba.
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo: Là loại tín dụng không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay chỉ dựa trên uy tín của bản
thân khách hàng. Đây là hình thức tín dụng mang nhiều rủi ro cho ngân hàng, ngân
hàng cần thẩm định kỹ khách hàng trước khi cấp tín dụng.
1.3. Thẩm định tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng
thương mại
1.3.1. Khái niệm thẩm định tín dụng
Thẩm định tín dụng là sử dụng các phương pháp phân tích kỹ thuật nhằm kiểm
tra, đánh giá độ tin cậy và mức độ rủi ro của một phương án hoặc dự án của khách
hàng đã đề xuất với ngân hàng nhằm phục vụ cho việc ra quyết định cấp tín dụng.
Thẩm định tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp là sử dụng các công cụ
và kỹ thuật phân tích nhằm kiểm tra, đánh giá mức độ tin cậy và rủi ro của khách
hàng doanh nghiệp bao gồm các mặt: tư cách khách hàng, tình hình tài chính của
khách hàng, tính khả thi của phương án kinh doanh hoặc dự án đầu tư, tài sản đảm
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
13
Chuyên đề tốt nghiệp
bảo nợ vay, khả năng kiểm soát và quản lý rủi ro.
1.3.2. Vai trò của thẩm định tín dụng trong cho vay doanh nghiệp của ngân
hàng thương mại
* Thẩm định là cơ sở để lựa chọn khách hàng
Một trong những nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng là sự bất cân xứng
* Việc thẩm định tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp còn cho thấy những
lợi ích mà ngân hàng và doanh nghiệp có thể có được sau khi thiết lập mối quan hệ
giữa hai bên
Chủ yếu lợi ích của hai bên đạt được là những lợi ích về tài chính và uy tín.
Về phía ngân hàng, lợi ích có thể có là: gia tăng thu nhập từ đó gia tăng lợi nhuận,
mở rộng thị phần, nâng cao vị thế, uy tín của ngân hàng, thu hút khách hàng. Phía
doanh nghiệp, những lợi ích mà doanh nghiệp có được khi vay vốn ngân hàng đó là
doanh nghiệp không bị lỡ mất cơ hội kinh doanh, hoạt động hiệu quả hơn, gia tăng
lợi nhuận.
1.3.3. Quy trình thẩm định tín dụng
Thẩm định tín dụng là một khâu quan trọng trong toàn bộ quy trình tín dụng.
Thẩm định tín dụng giúp đánh giá chính xác và trung thực được khả năng thu hồi nợ
trước khi quyết định cho vay. Do vậy, các ngân hàng tách riêng khâu này thành một
quy trình riêng và gọi là quy trình thẩm định tín dụng.
Quy trình thẩm định tín dụng là bản chỉ dẫn các bước tiến hành từ xem xét,
thu thập thông tin cần thiết cho đến khi rút ra được kết luận sau cùng về khả năng
thu hổi nợ khi cho vay. Các bước trong quy trình thẩm định tín dụng như sau:
Bước 1: Xem xét hồ sơ vay của khách hàng
Bước 2: Thu thập thông tin cần thiết bổ sung
Bước 3: + Thẩm định tư cách, năng lực pháp lý của khách hàng
+ Thẩm định phương án sản xuất kinh doanh, dự án đầu tư
+ Thẩm định khả năng tài chính của khách hàng
+ Thẩm định tài sản đảm bảo nợ vay
Bước 4: Ước lượng và kiểm soát rủi ro
Bước 5: Kết luận về khả năng thu hồi nợ
Tuy nhiên, để đánh giá một cách chính xác và trung thực khả năng trả nợ của
khách hàng, công tác thẩm định tín dụng cần tập trung vào thẩm định các nội dung
chính như sau:
1.3.3.1. Thẩm định tư cách, năng lực pháp lý của khách hàng
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
phương án cho vay.
Tình hình tài chính phải được xem xét một cách tỉ mỉ và có hệ thống ít nhất
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
16
Chuyên đề tốt nghiệp
trong hai năm liên tiếp (trừ những trường hợp khách hàng mới thành lập).
Thẩm định tình hình tài chính doanh nghiệp cần tập trung vào các nội dung
sau đây:
* Thẩm định mức độ tin cậy của các báo cáo tài chính
Các báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm: Báo cáo kết quả hoạt động
kinh doanh, bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thuyết minh báo cáo
tài chính. Tuy nhiên, trên thực tế không phải doanh nghiệp nào cũng có đủ khả năng
lập đủ các báo cáo này, nhưng khi vay vốn ngân hàng thì doanh nghiệp ít nhất phải
cung cấp được hai loại báo cáo: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và bảng cân
đối kế toán ít nhất là hai năm gần nhất so với thời điểm vay vốn.
Cần đánh giá một cách chính xác mức độ tin cậy của báo cáo tài chính mà
các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng. Đứng trên góc độ doanh nghiệp, các báo
cáo tài chính mà doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng được xem là các báo cáo do
bộ phận kế toán tài chính của doanh nghiệp soạn thảo nhằm cung cấp thông tin cho
bên ngoài. Do đó, các báo cáo này có thể khác với báo cáo tài chính mà doanh
nghiệp soạn thảo nhằm mục đích phục vụ nội bộ doanh nghiệp. Vì vậy, mức độ tin
cậy của số liệu trong báo cáo tài chính là chưa đảm bảo. Do đó, thẩm định mức độ
tin cậy của báo cáo tài chính là cần thiết, là công việc thường xuyên của cán bộ tín
dụng. Để thẩm định mức độ tin cậy của báo cáo tài chính, nhân viên tín dụng thực
hiện các bước sau:
- Nghiên cứu kỹ số liệu của các báo cáo tài chính.
- Sử dụng kỹ thuật, chuyên môn nghiệp vụ để phát hiện những điểm đáng ngờ
và những bất hợp lý trong các báo cáo tài chính.
- Phỏng vấn trực tiếp khách hàng, yêu cầu giải thích về những điểm đáng ngờ
phát hiện được.
khả năng thanh toán nhanh và ngược lại.
+ Tỷ số hàng tồn kho trên vốn lưu động
Tỷ số hàng tồn kho trên vốn lưu động =
Hàng tồn kho
Vốn lưu động
Tỷ số này cho biết hàng tồn kho chiếm bao nhiêu phần trăm vốn lưu động
ròng, liên quan đến cơ cầu vốn, cơ cấu tài trợ và thể hiện chính sách của doanh
nghiệp có hiệu quả hay không.
- Các chỉ tiêu về quản lý nợ vay: Nhằm phản ánh mức độ ổn định và tự chủ về
mặt tài chính, khả năng sử dụng vốn vay của doanh nghiệp.
+ Tỷ số nợ trên tổng tài sản
Tỷ số nợ trên tổng tài sản =
Tổng nợ phải trả
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
Hệ số thanh toán nhanh =
Tài sắn ngắn hạn - Hàng tồn kho
Tổng nợ ngắn hạn
18
Chuyên đề tốt nghiệp
Tổng tài sản
Tỷ số này được sử dụng để xác định nghĩa vụ của chủ doanh nghiệp đối với
các chủ nợ trong việc góp vốn.
Thông thường, các chủ nợ muốn tỷ số nợ trên tổng tài sản thấp vì tỷ số này
càng thấp thì khoản nợ càng được đảm bảo trong trường hợp doanh nghiệp này bị
phá sản. Trong khi đó, các chủ sở hữu doanh nghiệp lại muốn tỷ số này cao vì họ
muốn lợi nhuận gia tăng nhanh và muốn toàn quyền kiểm soát doanh nghiệp. Tỷ số
này cao thể hiện sự bất lợi đối với chủ nợ nhưng lại có lợi cho chủ sở hữu nếu đồng
vốn được sử dụng có khả năng sinh lợi cao. Tuy nhiên, nếu tỷ số này quá cao thì
doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán.
+ Tỷ số nợ trên vốn chủ sở hữu
Hàng tồn kho bình quân
Hệ số vòng quay hàng tồn kho thể hiện khả năng quản trị hàng tồn kho. Hệ
số này lớn cho thấy tốc độ quay vòng của hàng hóa trong kho là nhanh và ngược lại,
nếu hệ số này nhỏ thì tốc độ quay vòng hàng tồn kho thấp.
+ Vòng quay khoản phải thu
Vòng quay khoản phải thu =
Doanh thu thuần
Khoản phải thu bình quân
Tỷ số này phản ánh khả năng thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp. Tỷ số
này càng lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản nợ của doanh nghiệp càng nhanh,
khả năng chuyển đổi các khoản nợ phải thu sang tiền mặt cao. Qua đó, biết được
chính sách bán hàng trả chậm của doanh nghiệp hay tình hình thu hồi nợ của doanh
nghiệp.
+ Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Hiệu suất sử dụng TSCĐ =
Doanh thu thuần
TSCĐ
Tỷ số này cho biết một đồng tài sản cố định tạo ra được bao nhiêu đồng doanh
thu trong kỳ. TSCĐ ở đây xác định theo giá trị còn lại đến thời điểm lập báo cáo.
+ Hiệu suất sử dụng tổng tài sản
Hiệu suất sử dụng tổng tài sản =
Doanh thu thuần
Tổng tài sản
Chỉ tiêu này cho biết một đồng tài sản có thể tạo ra được bao nhiêu đồng
doanh thu trong kỳ.
- Chỉ tiêu về khả năng sinh lời: Phản ánh toàn bộ hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp
+ Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE =
Lợi nhuận sau thuế
- Doanh nghiệp có thực sự cần thiết đầu tư
- Quy mô vốn đầu tư
- Thời gian của phương án
* Thẩm định thị trường của PAKD
- Đánh giá nhu cầu hiện tại và dự báo nhu cầu tương lai của thị trường về sản
phẩm của doanh nghiệp.
- Đánh giá tình hình sản xuất sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
trong thời gian gần đây.
- Đánh giá khả năng tiếp thị, quảng bá sản phẩm của phương án, phương thức
tiêu thụ và mạng lưới phân phối sản phẩm.
- Đánh giá khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường của phương án.
* Thẩm định nguồn cung cấp đầu vào của phương án
- Nguồn cung cấp nguyên vật liệu đầu vào phục vụ sản xuất sản phẩm
- Các nhà cung cấp nguyên vật liệu của doanh nghiệp, mối quan hệ hợp tác
giữa hai bên, tình trạng nợ của doanh nghiệp với đối tác…
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
21
Chuyên đề tốt nghiệp
- Uy tín của nhà cung cấp.
* Thẩm định hiệu quả về mặt tài chính của PAKD
- Xác định vốn đầu tư, nhu cầu vay vốn, nhu cầu vốn lưu động, chi phí vốn lưu
động trong kỳ.
- Thẩm định vốn tự có, khả năng tự chủ của doanh nghiệp, nguồn vốn huy
động khác của doanh nghiệp trong phương án này.
- Thẩm định chi phí thực hiện phương án sản xuất, chi phí lao động, chi phí lãi
vay ngân hàng phải trả…
- Thẩm định nguồn trả nợ của doanh nghiệp.
- Để đánh giá hiệu quả tài chính của phương án sản xuất hay dự án đầu tư thì
cần phải tính toán một số chỉ tiêu sau:
+ Xác định giá trị hiện tại ròng (NPV): Đây là giá trị thể hiện chênh lệch giữa
21
1
121
)(
NPVNPV
NPV
rrrIRR
−
−+=
IRR là một chỉ tiêu mang tính chất tương đối, nó chỉ phản ánh tỷ lệ hoàn vốn
nội bộ của dự án là bao nhiêu chứ không cung cấp quy mô của số lãi, lỗ hay dự tính
bằng tiền.
- Thời gian thu hồi vốn (PP)
Là thời gian mà tổng các dòng tiền thu được từ phương án bằng tổng vốn đầu
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
22
Chuyên đề tốt nghiệp
tư ban đầu mà doanh nghiệp bỏ ra.
Thời gian thu hồi vốn càng ngắn thì càng tránh được những rủi ro có thể xảy ra.
Ưu điểm của chỉ tiêu thu hồi vốn là đơn giản, nó thể hiện khả năng thanh
khoản và rủi ro của dự án. Nếu thời gian hoàn vốn ngắn cho thấy tính thanh khoản
của dự án càng cao và rủi ro đối với dự án càng thấp. Nhưng nhược điểm của nó là
trong tính toán không quan tâm đến các luồng tiền sau thời gian thu hồi vốn, không
có tiêu chuẩn rõ ràng để lựa chọn.
Công thức tính PP
PP =
Tổng vốn đầu tư
Doanh thu bình quân hàng năm
- Chỉ tiêu sinh lợi (PI): Là tỷ lệ giữa giá trị hiện tại của các luồng tiền dự án
1.3.4. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng thẩm định tín dụng đối với khách hàng
doanh nghiệp
* Các chỉ tiêu định tính
- Tuân thủ theo cơ sở pháp lý, nguyên tắc và quá trình thẩm định tín dụng.
Hoạt động tín dụng có chất lượng phải tuân thủ các quy định pháp luật của Nhà
nước: Luật các TCTD, các văn bản của NHNN và các văn bản khác có liên quan.
- Khi tiến hành hoạt động thẩm định tín dụng phải luôn đảm bảo tuân thủ các
nguyên tắc thẩm định vì nó giúp phòng ngừa rủi ro, đánh giá được chất lượng tín
dụng hiệu quả. Hoạt động tín dụng của NHTM phải dựa trên một số nguyên tắc
nhất định nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời. Các nguyên tắc này
được cụ thể hóa trong các quy định của NHNN và các NHTM. Cụ thể:
+ Khách hàng phải cam kết hoàn trả vốn và lãi với thời gian xác định thỏa
thuận trong hợp đồng cho vay.
+ Khách hàng phải cam kết sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận
trong hợp đồng tín dụng
- Mức độ thỏa mãn nhu cầu của doanh nghiệp: Chất lượng thẩm định tín dụng
của ngân hàng cũng được cho là tốt khi ngân hàng có khả năng đáp ứng kịp thời và
đầy đủ nhu cầu vay vốn hợp lý của khách hàng. Để đảm bảo yêu cầu trên, ngân
hàng cần có hệ thống đánh giá, dự báo, phân tích thông tin của khách hàng một
cách chính xác, từ đó nâng cao được chất lượng thẩm định tín dụng.
* Các chỉ tiêu định lượng
- Doanh số cấp tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp: Là tổng số tiền mà
ngân hàng đã cấp cho doanh nghiệp vay, doanh số này phản ánh quy mô và xu
hướng hoạt động của ngân hàng. Doanh số này cũng thể hiện phần nào về chất
lượng tín dụng đối với mỗi ngân hàng, tuy nhiên không phải lúc nào doanh số tăng
cũng là tốt và giảm là xấu.
- Dư nợ tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp: Dư nợ tín dụng đối với
khách hàng doanh nghiệp là số tiền mà ngân hàng hiện cho doanh nghiệp vay tính
đến một thời điểm xác định. Chỉ tiêu này phản ánh quy mô và sự tăng trưởng hoạt
động tín dụng đối với doanh nghiệp. Tổng dư nợ cao và tăng trưởng qua từng thời
Nợ xấu bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất
vốn. Nợ xấu mang đặc trưng sau: Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với
ngân hàng khi cam kết này hết hạn. Tình hình tài chính khách hàng đang có chiều
hướng xấu dẫn đến ngân hàng có khả năng không thu hồi được cả gốc và lãi. Thông
thường, về thời gian là các khoản nợ quá hạn ít nhất là 90 ngày. Nếu tỷ lệ này thấp
thể hiện chất lượng thẩm định tín dụng của ngân hàng đạt kết quả tốt và ngược lại
nếu tỷ lệ này chưa cao thể hiện chất lượng thẩm định tín dụng của ngân hàng chưa
thực sự tốt.
- Chỉ tiêu khả năng sinh lợi từ hoạt động tín dụng doanh nghiệp
Mục tiêu quan trọng của ngân hàng là lợi nhuận trên cơ sở đảm bảo an toàn
tín dụng. Hoạt động tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tạo được khoản lợi
nhuận càng lớn thì càng chứng tỏ được chất lượng thẩm định tín dụng của ngân
hàng càng cao.
Sinh viên: Đặng Thị Hợp Lớp: NHB
25