Nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh NHNO&PTNT Hoàng Quốc Việt - Pdf 27

MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài
Ngày nay, nền kinh tế thế giới đã đạt được những bước phát triển vượt
bậc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội. Khoa học kỹ thuật
được ứng dụng rộng rãi, đã và đang thay thế dần sức người, tạo ra năng suất
cao đáp ứng đủ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh của con người.
Cùng với sự phát triển kinh tế, xã hội ngành ngân hàng cũng có những bước
phát triển cho riêng mình. Hệ thống ngân hàng ngày càng được trang bị hiện
đại với đội ngũ nhân viên trình độ cao, các sản phẩm dịch vụ đa dạng và
phong phú, rủi ro thấp, đảm bảo tốt nhất lợi ích cho khách hàng đến giao dịch.
Niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng được nâng cao, các sản phẩm
dịch vụ của ngân hàng luôn được khách hàng đón nhận và sử dụng. Sự phát
triển của ngân hàng còn được thể hiện trong các giao dịch khu vực và quốc tế
ngày càng lớn và diễn ra thường xuyên góp phần vào sự phát triển chung nền
kinh tế các nước trong xu thế hội nhập hiện nay.
Ở nước ta, ngành ngân hàng ra đời tương đối muộn so với các nước trên
thế giới nhưng trong những năm gần đây đã thể hiện được vai trò quan trọng
của mình đối với sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước, đặc biệt là giai
đoạn hiện nay khi chúng ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Hệ thống ngân hàng ngày càng đa dạng về loại hình, bao gồm các ngân hàng
quốc doanh, ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh
liên kết đặc biệt đã có sự tham gia của các ngân hàng nước ngoài. Hiện tại
trên thị trường Việt Nam có 27 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 04 ngân
hàng liên doanh, 03 công ty cho thuê tài chính 100% vốn nước ngoài và 44
văn phòng đại diện. Số lượng này còn tăng nhanh trong thời gian tới khi nền
kinh tế nước ta hội nhập sâu rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Bên cạnh đó,
ngày càng có nhiều sự tham gia của các ngân hàng tư nhân, ngân hàng cổ
1
phần mới. Từ đó, chúng ta có thể thấy được sự cạnh tranh quyết liệt giữa các
ngân hàng để có thể tồn tại và phát triển. Trong những năm gần đây các ngân
hàng đã mạnh mẽ cải cách, nâng cấp và mở rộng hợp tác về dịch vụ như thu

2.2 Nghiên cứu, đánh giá quá trình cấp tín dụng đối với khách hàng
doanh nghiệp tại chi nhánh NHN
O
&PTNT Hoàng Quốc Việt.
2.3 Đưa ra một số biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh NHN
O
&PTNT Hoàng Quốc Việt.
3. Đối tượng nghiên cứu
Chuyên đề tập trung phân tích, đánh giá về hoạt động tín dụng đối với
khách hàng doanh nghiệp hiện nay tại chi nhánh, đồng thời đưa ra một số biện
pháp nâng cao hiệu quả các khoản tín dụng hiện tại và trong thời gian tiếp
theo.
4. Phạm vi nghiên cứu
Do còn hạn chế nhiều về nhiều mặt như thời gian, kiến thức, thông tin…
nên đề tài tập trung nghiên cứu tín dụng khách hàng doanh nghiệp tại chi
nhánh NHN
O
&PTNT Hoàng Quốc Việt.
Về lý thuyết, đề tài dựa trên các vấn đề lý luận của chuyên ngành tài
chính – ngân hàng.
5. Phương pháp nghiên cứu
Chuyên đề chủ yếu sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích tài liệu và
đánh giá.
6. Kết cấu chuyên đề:
Bao gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng tín dụng của Ngân hàng
Thương mại.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh
nghiệp tại chi nhánh NHN

bơm vào nơi khan hiếm. Hoạt động của ngân hàng thương mại nhằm mục
đích kinh doanh một loại hàng hoá đặc biệt đó là “vốn - tiền”, ngân hàng trả
lãi suất huy động thấp hơn lãi suất cho vay và phần chênh lệch lãi suất đó đem
lại lợi nhuận cho ngân hàng. Trong ngân hàng thương mại, tiền ngân hàng có
4
ban đầu, tiền huy động được từ các tổ chức, cá nhân trong xã hội được gọi là
tài sản nợ hay nguồn vốn của ngân hàng. Còn tiền cho các công ty, các cá
nhân hay các tổ chức khác trong xã hội vay cũng như tiền gửi tại các ngân
hàng, tổ chức tài chính khác gọi là tài sản có hay tài sản của ngân hàng.
1.1.2 Chức năng của ngân hàng thương mại
1.1.2.1 Trung gian tài chính
Trước kia, quan hệ giữa người thặng dư vốn với người cần vốn là mối
quan hệ trực tiếp (quan hệ tài chính trực tiếp) tức là họ phải phù hợp với nhau
về thời gian, không gian, quy mô…rất khó có thể thành công trong khi rủi ro
là rất lớn, nguồn vốn không được tận dụng triệt để vừa gây lãng phí vốn vừa
làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh. Mối quan hệ tín dụng trực
tiếp ngày càng thể hiện những hạn chế của nó không còn phù hợp trong nền
kinh tế và là điều kiện nảy sinh trung gian tài chính. Với chức năng trung gian
tài chính ngân hàng tiến hành huy động vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh
tế, tập trung lại thành một khoản lớn. Phương thức huy động có thể theo thể
thức tự nguyện thông qua cơ chế lãi suất hoặc theo thể thức bắt buộc qua cơ
chế điều hành của chính phủ. Sau khi đã có một nguồn vốn tập trung ngân
hàng cung ứng cho những người cần nó bao gồm các doanh nghiệp, chính
phủ, các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Với mối quan hệ tín dụng gián
tiếp này ngân hàng đã khắc phục được hạn chế của quan hệ tín dụng trực tiếp,
đáp ứng một cách chính xác và đầy đủ, kịp thời nhu cầu tài trợ vốn cho các cá
nhân và doanh nghiệp. Trong quá trình huy động và cung ứng vốn ngân hàng
luôn kiểm soát nhằm giảm tới mức tối thiểu vấn đề lựa chọn đối nghịch và rủi
ro đạo đức thông tin không cân xứng gây ra. Mỗi khoản huy động và cho vay
ngân hàng đều đem lại lợi ích cho người gửi tiết kiệm, người đi vay và cho

quá trình thanh toán qua ngân hàng càng được mở rộng, nó không chỉ gói gọn
trong các ngân hàng trong hệ thống hay trong một quốc gia mà còn cả các
6
ngân hàng khác trên thế giới. Việc hình thành các trung tâm thanh toán quốc
tế đã làm tăng hiệu quả thanh toán qua ngân hàng và nhu cầu thanh toán qua
ngân hàng trở nên quan trong đối với mỗi quốc gia trong xu hướng hội nhập
kinh tế quốc tế hiện nay.
1.1.3 Các dịch vụ của ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Cho vay
Cho vay là hoạt động quan trọng nhất của NHTM, nó mang lại nguồn
thu chủ yếu cho NHTM. Cho vay bao gồm cho vay thương mại, cho vay tiêu
dùng và tài trợ cho dự án.
Cho vay tiêu dùng là NHTM cung cấp vốn cho đối tượng khách hàng là
các cá nhân và các hộ gia đình nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm sinh hoạt
hàng ngày. Trong giai đoạn đầu, các ngân hàng rất hạn chế cho vay đối với
các cá nhân và hộ gia đình họ cho rằng các khoản cho vay này có độ rủi ro vỡ
nợ tương đối cao. Tuy nhiên, với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế - xã
hội thu nhập của người tiêu dùng đã ngày càng gia tăng đồng thời do sự cạnh
tranh mạnh mẽ trong hệ thống ngân hàng buộc các NHTM phải hướng tới
người tiêu dùng như là một khách hàng tiềm năng. Hiện nay, cho vay tiêu
dùng đã và đang đóng vai trò quan trọng, không thể thiếu trong hoạt động cho
vay của các ngân hàng.
Cho vay thương mại: Các NHTM cung cấp vốn cho khách hàng doanh
nghiệp, đáp ứng nhu cầu về vốn phục vụ sản xuất kinh doanh của các doanh
nghiệp. Cho vay thương mại là hoạt động ra đời tương đối sớm. Ngay thời kỳ
đầu các ngân hàng đã tiến hành chiết khấu thương phiếu mà thực chất ở đây là
cho vay đối với những người bán (người bán chuyển các khoản phải thu cho
ngân hàng để lấy tiền trước). Sau đó là chuyển từ chiết khấu thương phiếu
sang cho vay trực tiếp để khách hàng có vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh
doanh cũng như mở rộng quy mô sản xuất.

8
khách hàng giấy biên nhận (giấy chứng nhận do ngân hàng phát hành). Do
khả năng chi trả bất cứ lúc nào cho giấy chứng nhận nên các giấy chứng nhận
đã được sử dụng như tiền – dùng làm phương tiện thanh toán cho các giao
dịch của khách hàng. Với tiện ích nhanh chóng, thuận tiện, độ an toàn cao nên
đã khuyến khích khách hàng giao dịch với ngân hàng để sử dụng giấy chứng
nhận của ngân hàng trong thanh toán. Với dịch vụ bảo quản vật có giá ngân
hàng có thể thu được một khoản phí từ khách hàng.
1.1.3.5 Cung cấp các tài khoản giao dịch và thực hiện thanh toán
Thanh toán qua ngân hàng đã mở đầu cho thanh toán không dùng tiền
mặt, đây là hình thức thanh toán không thể thiếu trong nền kinh tế hiện nay.
Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ các nghiệp vụ chi trả tiền hàng hoá, dịch
vụ và các khoản thanh toán khác trong nền kinh tế được thực hiện bằng cách
trích chuyển tài khoản trong hệ thống ngân hàng hoặc bù trừ công nợ mà
không dùng tiền mặt. Các doanh nghiệp có các giao dịch với nhau không nhất
thiết phải trực tiếp gặp nhau và thanh toán cho nhau, mà ở đây họ đã thông
qua một người trung gian đứng ra thanh toán. Việc sử dụng dịch vụ này tiết
kiệm rất nhiều về thời gian, chi phí và nâng cao thu nhập cho các doanh
nghiệp. Mặt khác, các ngân hàng mở thêm chi nhánh, thanh toán qua ngân
hàng được mở rộng phạm vi càng tạo nhiều tiện ích cho khách hàng. Điều này
càng khuyến khích các cá nhân, doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng nhờ
ngân hàng thanh toán hộ. Việc đưa ra loại tài khoản tiền gửi mới này được
xem như là một trong những bước đi quan trọng nhất trong công nghiệp ngân
hàng. Hiện nay, với việc ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại vào lĩnh vực
ngân hàng nhiều phương thức thanh toán được phát triển như uỷ nhiệm thu,
uỷ nhiệm chi, thanh toán qua L/C, thanh toán bằng điện tử, thẻ thanh toán…
1.1.3.6 Dịch vụ quản lý ngân quỹ
Các NHTM mở tài khoản và giữ tiền của các doanh nghiệp và cá nhân
nên có điều kiện tìm hiểu và tạo mối quan hệ với các khách hàng đó. Với kinh
9

Do tính chuyên môn hoá cao, đội ngũ cán bộ có trình độ cao và có
nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực tài chính nên các NHTM được các doanh
nghiệp nhờ quản lý tài sản và quản lý hoạt động tài chính của mình. Dịch vụ
uỷ thác phát triển sang cả uỷ thác vay hộ, uỷ thác cho vay hộ, uỷ thác đầu
tư… thậm chí được uỷ thác ngay cả trong di chúc. Nhiều khách hàng còn coi
ngân hàng như một chuyên gia tư vấn tài chính cho họ
1.1.3.11 Dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán
NHTM đứng ra cung cấp cho khách hàng cơ hội mua cổ phiếu, trái
phiếu và các chứng khoán khác mà không phải nhờ tới những người kinh
doanh chứng khoán.
1.1.3.12 Dịch vụ bảo hiểm
NHTM bán bảo hiểm cho khách hàng, đảm bảo hoàn trả cho khách hàng
trong trường hợp khách hàng đó bị rủi ro như bị chết, tai nạn, tàn phế …
1.1.3.13 Dịch vụ đại lý
NHTM lớn với chi nhánh rộng khắp cung cấp dịch vụ đại lý cho các
ngân hàng nhỏ chưa có điều kiện thiết lập chi nhánh. Khi đó, các NHTM lớn
hơn sẽ tiến hành các hoạt động thay các ngân hàng nhỏ như thanh toán hộ,
phát hành hộ chứng chỉ tiền gửi, …
1.2 Hoạt động tín dụng của Ngân Hàng Thương Mại
1.2.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù kinh tế của nền kinh tế hàng hoá, nó phản
ánh mối quan hệ kinh tế giữa người sở hữu vốn với người sử dụng các nguồn
vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế theo nguyên tắc hoàn trả cả vốn và lãi
khi đến hạn.
Có thể hiểu một cách đơn giản tín dụng là quan hệ giao dịch giữa các
chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia bằng
nhiều hình thức như cho vay, bán chịu hàng hoá, chiết khấu, bảo lãnh,… được
11
sử dụng trong một thời gian và theo một số điều kiện nhất định đã thoả thuận.
Tín dụng ngân hàng là mối quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên

hồi vốn nhanh.
Có thể có những quy định khác nhau về thời gian của tín dụng trung và
dài hạn, có ngân hàng quy định trung hạn là từ 1 – 7 năm và dài hạn là trên 7
năm.
1.2.2.2 Căn cứ vào đối tượng tín dụng
- Tín dụng vốn lưu động: là loại tín dụng được dùng để hình thành vốn
lưu động của các tổ chức kinh tế như dự trữ hàng hoá như mua nguyên vật
liệu, công cụ, dụng cụ phục vụ sản xuất. Tín dụng lưu động thường được sử
dụng để cho vay bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời.
- Tín dụng vốn cố định: Loại tín dụng được dùng để hình thành vốn để
mua tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất,
xây dựng các công trình mới phục vụ sản xuất. Thời hạn cho vay đối với loại
tín dụng này là trung và dài hạn.
1.2.2.3 Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá: loại tín dụng dành cho các
doanh nghiệp và các chủ thể kinh doanh khác để tiến hành sản xuất và lưu
thông hàng hoá.
Tín dụng tiêu dùng: Hình thức tín dụng dành cho cá nhân, hộ gia đình
đáp ứng nhu cầu tiêu dùng: mua sắm nhà cửa, xe cộ, vật dụng… phục vụ quá
trình sinh hoạt. Tín dụng tiêu dùng được thể hiện bằng hình thức tiền hoặc
bán chịu hàng hoá.
1.2.2.4 Phân loại căn cứ theo tài sản đảm bảo
- Tín dụng có đảm bảo: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp, cầm
cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, hoạt động cấp tín dụng chỉ dựa trên uy
tín của khách hàng. Đối với khách hàng tốt, trung thực, khả năng tài chính
13
mạnh, khách hàng truyền thống ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không cần
đòi hỏi nguồn thu nợ bổ sung hay tài sản khác đảm bảo.
- Cho vay có đảm bảo: là loại cho vay được ngân hàng cung cấp cho
đối tượng khách hàng cần phải có tài sản đảm bảo hoặc có sự đứng ra bảo

- Nợ quá hạn khó đòi: nợ quá hạn lâu, khả năng trả nợ kém, giá trị tài
sản thế chấp nhỏ hoặc bị giảm giá.
1.2.3 Vai trò của tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế thị trường
1.2.3.1 Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tích tụ tập trung vốn
nhàn rỗi trong xã hội và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Trong xã hội có nhiều nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi thường nằm trong
tay các cá nhân, hộ gia đình. Số lượng nguồn này tương đối lớn nhưng lại nhỏ
lẻ, phân tán. NHTM với chức năng là một trung gian tài chính sẽ đứng ra gom
tất cả các nguồn này lại thành một nguồn tập trung. Với một nguồn vốn lớn
huy động được NHTM sẽ cấp cho các chủ thể tạm thời thiếu vốn đáp ứng nhu
cầu bổ sung vốn trong quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, tín dụng ngân
hàng đã tạo ra thu nhập cho các chủ thể bao gồm ngân hàng, người gửi tiền,
khách hàng đi vay. Đối với những người dư vốn, họ vừa bảo toàn được số vốn
ban đầu vừa có một khoản thu nhập từ lãi của ngân hàng trả. Đối với người đi
vay, họ đã tìm được nguồn vốn bổ sung không làm hoạt động sản xuất kinh
doanh bị gián đoạn, mặt khác trong hợp đồng tín dụng của họ đối với ngân
hàng có những điều kiện ràng buộc làm họ phải thực sự tận dụng nguồn vốn
đi vay một cách hiệu quả nhất, tạo ra thu nhập lớn nhất có thể từ nguồn vốn đi
vay được. Đối với ngân hàng cũng tạo ra được thu nhập cho mình từ khoản
chênh lệch về lãi suất cho vay và đi vay, đây cũng là nguồn thu chính của
ngân hàng là động lực để ngân hàng luôn tìm kiếm và huy động nguồn vốn
tạm thời dư thừa trong xã hội.
1.2.3.2 Tín dụng ngân hàng góp phần đẩy nhanh quá trình tái sản
15
xuất mở rộng, đẩy mạnh đầu tư phát triển
Với việc đáp ứng đầy đủ nhu cầu về vốn, tín dụng ngân hàng giúp cho
quá trình sản xuất kinh doanh của xã hội diễn ra liên tục, nhưng đây cũng là
một sức ép buộc các doanh nghiệp sử dụng tín dụng ngân hàng phải luôn có
sự nỗ lực trong quá trình hoạt động của mình để tạo ra các sản phẩm có sức
cạnh tranh so với đối thủ và có được lợi nhuận lớn nhất có thể. Chính sự nỗ

định (thường là cuối tháng, cuối quý hoặc cuối năm).
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
Tỷ lệ nợ
quá hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết với 1 đồng dư nợ có bao nhiêu đồng nợ quá
hạn. Tỷ lệ này càng nhỏ thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng tốt.
Thứ hai, chỉ tiêu về tỷ lệ nợ xấu: là tỷ lệ phần trăm giữa nợ xấu với
tổng dư nợ của NHTM tại một thời điểm nhất định (thường là cuối tháng,
cuối quý, cuối năm).
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
Tỷ lệ nợ
xấu

T ỷ lệ nợ xấu cho biết cứ 1 đồng dư nợ của ngân hàng có bao nhiêu đồng
nợ xấu. Cũng như tỷ lệ nợ khó đòi, tỷ lệ nợ xấu càng nhỏ thì hoạt động tín
dụng của ngân hàng là rất tốt.
Theo quyết định số 493/2005/QĐ – NHNN ngày 22/04/2005 của thống
đốc NHNN Việt Nam về việc “ban hành quy định về phân loại nợ, trích lập và
sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín
17
=
Nợ xấu
Tổng dư nợ
x 100%
=
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
x 100%
dụng” có giải thích một số từ ngữ như sau:

Nợ nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn từ 181 đến 360 ngày
- Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn từ 90 đến 180
ngày theo thời hạn đã cơ cấu lại
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm 4 theo quy định.
Nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:
- Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày
- Các khoản nợ khoanh chờ Chính phủ xử lý.
- Các khoản nợ đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ quá hạn trên 180 ngày
theo thời hạn đã được cơ cấu lại
- Các khoản nợ khác được phân loại vào nhóm theo quy định.
Thứ ba, chỉ tiêu về hiệu suất sử dụng vốn: là tỷ lệ giữa tổng dư nợ so
với tổng vốn huy động.
Chỉ tiêu này được xác định theo công thức:
Hiệu suất sử dụng
vốn
=
Tổng dư nợ
Tổng vốn huy động
Chỉ tiêu này giúp chúng ta so sánh, phân tích khả năng cho vay của
ngân hàng so với khả năng huy động vốn đồng thời xác định hiệu quả của một
đồng vốn huy động được.
Thứ tư, chỉ tiêu về vòng quay vốn tín dụng trong năm là tỷ lệ giữa thu
nợ trong năm so với dư nợ bình quân năm
Vòng quay vốn tín
dụng trong năm
=
Doanh số thu nợ
Dư nợ bình quân năm
Chỉ tiêu này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn vay trong năm tức

những yếu tố có tác động ngược lại, làm giảm chất lượng tín dụng và ảnh
hưởng đến hoạt động của ngân hàng. Vì vậy, việc phân tích, tìm hiểu các yếu
tố đó là hết sức cần thiết đối với mỗi ngân hàng để từ đó phát huy những mặt
tích cực đồng thời có những biện pháp làm giảm những mặt tiêu cực ảnh
20
hưởng tới chất lượng của mỗi khoản tín dụng.
Nhìn chung, có các nhân tố chính sau ảnh hưởng tới chất lượng tín
dụng mà chúng ta cần quan tâm bao gồm:
1.3.2.1 Các nhân tố thuộc về phía Ngân hàng Thương mại
a. Chiến lược phát triển của ngân hàng
Đây là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng ngân
hàng, một chiến lược phát triển đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn phát
triển của xã hội và năng lực của bản thân ngân hàng sẽ bảo đảm cho việc chọn
lựa hướng đi đúng trong quá trình cấp tín dụng cũng như trong các hoạt động
khác của ngân hàng.
Điều này càng đặc biệt quan trọng đối với các ngân hàng có quy mô
nhỏ, vốn ít, lượng thông tin nắm bắt ở mức độ hạn chế… một chiến lược sai
lầm sẽ không còn cơ hội cho ngân hàng có thể khắc phục lại được ngay, nó
ảnh hưởng lâu dài tới các hoạt động của ngân hàng trong thời gian tiếp theo.
b. Chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại
Hoạt động tín dụng là hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động
của ngân hàng, nó mang tính chất sống còn đối với bất kỳ NHTM nào. Chính
sách tín dụng đóng vai trò then chốt điều tiết các mặt hoạt động như: huy
động vốn và cho vay, lãi suất, sản phẩm tín dụng, kỹ thuật quản lý rủi ro tín
dụng và thu hút khách hàng… nhằm thực hiện các mục tiêu chiến lược đề ra
trong kinh doanh. Vì vậy, chính sách tín dụng trong mỗi giai đoạn phải phù
hợp với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, có mục tiêu, định
hướng cụ thể. Một chính sách tín dụng phù hợp sẽ tạo điều kiện cho ngân
hàng sử dụng tối ưu hoá các nguồn lực của mình một cách an toàn, nâng cao
tối đa chất lượng của các khoản tín dụng.

trình kiểm tra, thẩm định chặt chẽ các khoản tín dụng sẽ hạn chế đến mức
thấp nhất rủi ro tín dụng có thể xảy ra, nâng cao chất lượng các khoản tín
22
dụng của ngân hàng và đảm bảo thu nhập cho ngân hàng.
1.3.2.2 Các nhân tố thuộc về phía khách hàng
a. Năng lực, trình độ quản lý của các doanh nghiệp
Chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp là yếu tố quan trọng
quyết định hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp có đội
ngũ cán bộ, công nhân viên với trình độ cao, nhiều kinh nghiệm trong quản lý
nguồn vốn đi vay là điều kiện cần thiết để đem lại hiệu quả cao trong hoạt
động sản xuất kinh doanh của mình, đảm bảo khả năng thanh toán các khoản
tín dụng cho ngân hàng.
b. Đạo đức của người đi vay
Khi đáp ứng mọi điều kiện đưa ra của ngân hàng về điều kiện đảm bảo,
cách thức sử dụng vốn vay, hoàn trả vốn… khách hàng mới được ngân hàng
cung ứng một khoản tín dụng. Tuy nhiên, sau khi đã được nhân vốn khách
hàng không thực hiện đúng các yêu cầu trong hợp đồng đối với ngân hàng mà
sử dụng vốn sai mục đích hoặc khách hàng chây ỳ trả nợ khi đã đến hạn. Rủi
ro đạo đức xảy ra làm giảm chất lượng các khoản tín dụng, ảnh hưởng tới
nguồn vốn và thu nhập của ngân hàng. Vì vậy, công tác thẩm định và quản lý
chặt chẽ các khoản tín dụng là hết sức cần thiết nó đảm bảo hạn chế được các
rủi ro có thể xảy ra trong đó có cả rủi ro về đạo đức.
c. Lĩnh vực hoạt động của các doanh nghiệp
Đây là đặc điểm đầu tiên mà các ngân hàng cần quan tâm trước khi tiến
hành cấp tín dụng cho doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp hoạt động hay
đầu tư vào các lĩnh vực nhạy cảm, thường xuyên có sự biến động như bất
động sản, chứng khoán… thì thu nhập đạt được thường cao nhưng mức độ rủi
ro lớn nên tác động mạnh tới chất lượng tín dụng của ngân hàng.
1.3.2.3 Các nhân tố khác
a. Môi trường kinh tế vĩ mô

24
c. Các yếu tố bất khả kháng
Đây là các yếu tố tác động tới ngân hàng mà ngân hàng không thể dự
đoán được trước khi nào có thể xảy ra như thiên tai, bão lũ, hoả hoạn, chiến
tranh… Khi xảy ra chúng làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các
doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn có thể dẫn tới phá sản, ảnh hưởng tới
khả năng hoàn trả các khoản nợ làm giảm sút chất lượng của các khoản tín
dụng. Đây là điều mà cả ngân hàng và khách hàng đều không muốn.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng đối với
khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh Ngân hàng Nông
nghiệp và Phát triển Nông thôn Hoàng Quốc Việt.
2.1 Khái quát về chi nhánh ngân hàng Nông nghiệp và Phát
triển Nông thôn Hoàng Quốc Việt.
2.1.1 Chức năng, nhiệm vụ của chi nhánh
Là một chi nhánh của NHN
O
&PTNT Việt Nam, chi nhánh Hoàng
Quốc Việt mang đầy đủ chức năng của một NHTM và có những đặc thù riêng
của một chi nhánh NHN
O
&PTNT Việt Nam. Chức năng của chi nhánh là kinh
doanh tiền tệ, tín dụng và dịch vụ Ngân hàng đối với các thành phần kinh tế
chủ yếu trong các lĩnh vực nông, lâm, ngư và diêm nghiệp.
25

Trích đoạn Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với khách hàng doanh nghiệp tại chi nhánh NHNO &PTNT Hoàng Quốc Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status