Nghiên cứu sử dụng bã thải trồng nấm làm phân vi sinh góp phần làm sạch môi trường - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
• ■ •
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
■ ■ a •
ĩ*:****************
TÊN ĐỂ TÀI
NGHIỀN CỨU SỬ DỤNG BẲ THẦl TRồNG NẤM LẰM
PHÂN VI SINH GÓP PHẤN LÀM SẠCH MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: QT-04-31
Chủ trì đề tài: THS. TRẦN THỊ PHƯƠNG
Khoa môi trường, Trường Đại học Khoa học Tự Nhiên
Đại học Quốc gia Hà Nội
Ị ÙAI HỌC QUOC GIA HÀ Nỏi
ị ĨRUNG TÂM THÕNG TIN THƯ VIỆrv
O T / 6 ~ e l o
HÀ NỘI - 2005
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
• • *
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC Tự NHIÊN
■ ■ ■ •
********************
TÊN ĐỂ TÀI
NGHIỀN CỨU SỬ DỤNG BÃ THẢI TRồNG NẮM LẰM
PHÂN VI SINH GÓP PHẦN LÀM SẠCH MÔI TRƯỜNG
MÃ SỐ: QT-04-31
-Chủ trì đ ề tàr. ThS. Trần Thị Phương
Các cán bộ tham gía. 1. TS. Nguyễn Thị Hoài Hà,
2. KS. Kim Văn Chinh
3. KS. Nguyễn Xuân Lan
HÀ NỘI - 2005
BÁO CÁO TÓM TẮT

ứng dụng trồng rau sạ c h .”
/. Tình hỉnh kỉnh phí của đề tài
Tổng kinh phí được ĐHQG cấp là: 12.000.000 đ. Trong quá trình thực hiện đề
tài đã sử dụng hết số tiền được cấp.
4
Khoa quản lý Chủ trì đề tài
T rần Thị Phương
Cơ auan chủ trì đê tài
S U M M A R Y R E P O R T
a. Prọịect title:
Research on the use of vvastes from mushroom production for composting
contributing to the environmental cleanliness.
Code: QT- 04 - 31
b. Prọịect leader:
MSc. Tran Thi Phuong
c. Key implementator:
Dr. Nguyen Thi Hoai Ha
BSc. Kim Van Chinh
BSc. Nguyen Xuan Lan
d. Objectives and research contents o f the prọịect
* Objectives:
The project provides the method of vvastes treatment to create compost after
harvesting mushroom, contributing to the sustainable agricultural development.
* Research contents:
Define necessary conditions to complete an effective process of composting.
Subdivide and select types of microoganisms having the high ability of
disintegrating Cenluloza to shorten composting time.
Dertemine nutritious compositions including N, p, K in mushroom
production lots.
e. Obtained results

2.ỉ.2. Vi sinh vật sử dụng 13
2.1.3. Hoá chất sử dụng 13
2.1.4."Máy móc và dụng cụ thí nghiệm 13
2.2. Phương pháp nghiên cứu 14
2.2.1. Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm 14
2.2.2. Xây dựng mô hình ủ phân hiếu khí ] 6
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 17
3.1. Kết quả phân tích một sô chỉ tiêu hoá lí của bã thải sau trồng nám 17
3.2. Đánh giá sô lượng vi sinh có trong mẫu bã thải sau trồng nấm 17
3.3. Quy trình sản xuất phản hữu cơ vi sinh từ bã thải sau trồng nấm 19
3.4. Đánh giá chất lượng sản phẩm - chẽ phẩm phản vỉ sinh từ bã thải sau trồng nấm 21
3.4.1. Phân lập và xác định số lượng vi sinh vật có trong phân vi sinh 21
3.4.2. Các thông sô k ĩ thuật của phân vi sinh từ bã thải sau trồng nấm 23
3.5. Tính toán chi phí khi sản xuất 1 kg phàn vi sinh 25
CHƯƠNG 4. K ẾT LUẬN VÀ KIẼN N GHỊ 26
4.1. Kết luận 26
4.2. Kiên nghị 27
MỞ ĐÂU
Vấn đề môi sinh ngày càng trở nên trầm trọng trên phạm vi toàn cầu. Việc
sử dụng quá mức phân hoá học đã gây suy thoái môi trường đất và ảnh hưởng đến
sức khoẻ cộng đổng, mặt khác còn gây lãng phí vì cây trồng thường chỉ sử dụng
được 25-30% sô' phân đã bón. Việc sử dụng phân hữu cơ vi sinh sẽ khắc phục được
tình trạng này nhằm tạo ra một nền nông nghiệp sạch, an toàn và bền vững.
Các nước trên thế giới đều quan tâm đến việc bảo vệ môi trường đất. Các kết
quả nghiên cứu từ Mỹ, Canada, Nga, Nhật, Ân Độ, Trung Quốc, Thái Lan .cho thấy
sử dụng chế phẩm vi sinh vật có thể cung cấp cho đất và cây trồng từ 30- 60 kg Nitơ/
ha đất/nãm, có thể thay thế từ 1/3 - 1/2 lượng lân hoá học. Phân hữu cơ có chứa vi
sinh vật hữu hiệu tiếp tục phát huy tác dụng trên đồng ruộng sau khi bón nhiều ngày.
Gần đây, ở một số nước phát triển, đi đầu là Nhật Bản đã sản xuất phân bón
vi sinh ở dạng lỏng dùng để kích thích cây trồng, đồng thời dùng để xử lí phế thải

hưởng đến mĩ quan xung quanh đống ủ [2].
1.1.2. Phương pháp ủ rác thành đống không đảo trộn và có đảo khí
Rác được chất thành đống cao 2 - 2,5m. Phía dưới lắp đặt một hệ thống phân
phối khí. Nhờ có quá trình thổi khí cưỡng bức mà các quá trình chuyển hoá được
nhanh hơn, nhiệt độ ổn định hơn, ít ô nhiễm hơn [2].
1.1.3. Phương pháp lên men trong các thiết bị chứa
Rác được cho vào các thiết bị chứa có dung tích khác nhau đế lên men.
Lượng khi" và nước thải sinh ra trong quá trình lên men được kiểm soát chặt chẽ. Các
vi sinh vật đã được tuyển chọn đựoc đưa vào bổ sung cho hệ vi sinh vật tự nhiên
trong rác, nhờ đó mà quá trình xảy ra nhanh và dễ kiểm soát, ít ô nhiễm hơn [2].
1.1.4. Phương pháp lẻn men trong lò quay
Rác được thu gom, phân loại , đạp nhỏ bằng búa, đưa vào lò quay nghiêng
với độ ẩm khoảng 50%. Trong khi quay rác được đảo trộn do vậy không phải thổi
k h í. Rác sau khi lên men lại được ủ chín thành đống trong vòng 20 - 30 ngày [2].
1.1.5. Phương pháp xử lí rác công nghiệp
Hiện nay trên thế giới có hơn 50 kiểu ủ rác công nghiệp được triển khai. Đặc
điểm chung của kiểu ủ rác công nghiệp là tự động hoá cao do đó rác được phân huý
rất tốt nhưng lại đòi hỏi trình độ khoa học cõng nghệ cao, chi phí tốn kém chưa phù
hợp với trình độ và khả nãng tài chính của các nước đang phát triển [2].
-2-
1.1.6. Các yếu tô ảnh hưởng đến tiến độ của quá trình ủ phàn hiếu khí
1- Phân loại và nghiền rác
Trong rác thải sinh hoạt thành phần hữu cơ chiếm một lượng khá lớn ( 50 -
60%), thành phần phi hữu cơ bao gồm kim loại, nilon, thuỷ tinh, vỏ ốc, đất đá, linh
kiện điện tử, là những hợp chất khó phân huỷ đối với vi sinh vật, làm ảnh hưởng
đên quá trình ủ. Do vậy phải loại bỏ những thành phần không sử dụng được trong
quá trình ủ là cần thiết.
Nghiền rác có tác dụng làm kích thước của rác nhỏ đi, do đó táng diện tích
tiếp xúc với không khí, tạo điểu kiện cho vi sinh vật xâm nhập và phânhững huỷ dễ
dàng. Nghiền rác là quá trình xử lí sơ bộ Xenluloza làm giảm kích thước tiểu phần

5% tổng lượng oxy đòi hỏi, do vậy thổi khí cưỡng bức là nguồn cung cấp khí chủ
yếu của phương pháp ủ hiếu khí [2].
5- TỷỉệC/N
Đây là tỷ lệ giữa tổng lượng cacbon và tổng lượng nitơ có trong thành phần
rác thải có thể được vi sinh vật sử dụng trong quá trình phân huỷ rác. Đối với quá
trình làm phân ủ thì tỷ lệ C/N tối ưu là 30/1. Tỷ lệ C/N lớn hơn 50% sẽ bị chậm quá
trình phân giải và chất lượng sản phẩm kém. Nếu tỷ lệ C/N nhỏ hơn 30% thì nitơ sẽ
bị mất đi dưới dạng N2 hoặc NH}. Golueke cho rằng tỷ lệ C/N quá thấp thì sau này
sản phẩm được bón vào đất có thể gây hại cho cây trổng và xuất hiện hiện tượng
“đói nitơ” của cây.
Gotaas trong nghiên cứu của mình về quy trình ủ hiếu khí có mặt của vi sinh
vật cho rằng có ba trường hợp xảy ra:
- Fvhi lượng cacbon trong rác có ít thì một lượng các khí NxOy và NH} sẽ
thoát ra không khí.
- Tý lệ C/N thích hợp cho vi sinh vật sử dụng thì nitơ mất đi không đáng kể.
- Khi lượng nitơ có ít hơn lượng cacbon thì một số vi sinh vật sẽ chết và nitơ
chứa trong tế bào của chúng sẽ được tái sử dụng [2].
6- Hoạt động của vi sinh vật
Waksman và các tác giả khác trong những công trình nghiên cứu của mình về
hoạt động của vi sinh vật trong quá trình ủ hiếu khí các hợp chất hữu cơ cho rằng
hàng loạt các vi sinh vật khác nhau với các chức năng khác nhau, không một vi sinh
vật đơn lẻ nào dù có khả năng phân huỷ chất hữu cơ mạnh đến đâu cũng khó có thê’
so sánh với một quần thể vi sinh vật đa dạng và phong phú để tiến hành phân huý
một cách nhanh chóng và triệt để. Trong đó vai trò của vi sinh vật phân huỷ hợp chất
ligno - Xenluloza là quan trọng bậc nhất.
-4-
Vi khuẩn luôn là một hệ thống năng động, chiếm ưu thế ở tầng đáy và bề mặt
đống ủ, hoạt động mạnh mẽ vào giai đoạn sau của quá trình ủ.
Xạ khuẩn và nấm đóng vai trò quan trọng trong việc phân huỷ hợp chất Ligno
- Xenluloza và các nguyên liệu khó phân huỷ khác khi chúng có đủ dinh dưỡng và

khuẩn và xạ khuẩn ưa nhiệt, vi khuẩn có bào tử phát triển ở nhiệt độ 60 - 70"c, sau
cùng nấm và vi khuẩn ưa nấm xuất hiện trở lại khi nhiệt độ hạ xuống [2].
8- Vi sinh vật gày bệnh
Nhiệt độ cao trong quá trình ủ phân có tác dụng diệt mầm cỏ dại và các vi
sinh vật gây bệnh có hại cho người, động vật. Gotaas cho ràng nhiệt độ 60°c là thích
hợp cho việc tiêu diệt vi sinh vật có hại [2].
Bảng ỉ. Nhiệt độ và thời gian chết của vi sinh vật gây bệnh trong đống ủ
Vi sinh vật gãy bộnh
Nhiệt độ và thời gian chết
Salmonella typhosa
Khỏng phát triển ở 46°c, chết ở 55 - 60°c
trong 30 phút và 60°c trong 20 phút
Salmonella sp
Chết trong 1 giờ ở 55°c và trong 1 5 -2 0
phút ở 60°c
Shigella sp
Chết trong 1 giờ ở 55°c
1.2. ĐẬC ĐIỂM PHÂN VI SINH
1.2.1. Khái niệm phân vi sinh
Phân bón vi sinh vật (gọi tất là phân vi sinh) là sản phẩm chứa một hay nhiều
chủng vi sinh vật sống, đã được tuyển chọn, có mật độ đạt tiêu chuẩn hiện hành.
Thông qua các quá trình hoạt động của chúng, sau quá trình bón vào đất tạo nên các
chất dinh dưỡng mà cây trổng sử dụng được (N, p, K ) hay các hoạt chất sinh học,
góp phần nâng cao năng suất hoặc chất lượng nông sản. Phân vi sinh đảm bảo không
gây ảnh hưởng xấu đến người, động vật, môi trường sinh thái và chất lượng nông sản.
Để có phân vi sinh trước hết cần phải có các chủng vi sinh vật hữu ích có hoạt
lực cao và khả năng cạnh tranh cao.
Ở trong đất thường sẵn có một tập đoàn vi sinh vật phong phú về mật độ và
số lượng thường từ 103 đến 107 tế bào /gam đất.
Phân vi sinh là chế phẩm sinh học của các vi sinh vật sống, thời hạn sống sót

vật tăng lên rõ rệt, sau đó giảm đi dần và ổn định trong quá trình cây trổng phát
triển. Sau khi thu hoạch, mật độ các chủng vi sinh vật này tiến tới cân bằng trong
quần thể vi sinh vật đất. Để đảm bảo hiệu lực của các chủng vi sinh vật hữu ích, vẫn
phải bón tiếp phân vi sinh vào đất cho các vụ trồng tiếp theo [2].
1.2.2. Các dạng phân vi sinh
Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại vi sinh vật khác nhau, có thể chia
thành 2 loại chính sau:
• Phán vi sinh trên nền chất mang thanh trùng với các đặc điểm:
- Mật độ tế bào vi sinh vật tạp < 106 tế bào/gam.
- Thời hạn bảo quản > 6 tháng.
- Vi sinh vật hữu ích được chọn lọc phải giúp cho cây trổng phát triển tốt hơn,
không ánh hưởng xấu đến môi trường đất, con người và các sinh vật khác cũng như
chất lượng nông sản.
• Phán vi sinh mang trên nến chất mang không thanh trùng có các đậc
điểm sau:
- M ật độ tế bào vi sinh vật hữu ích đã được chọn lọc phủi đạt trên
106 tế bào /gam .
- Thời hạn bảo quản trên 3 tháng.
Phân vi sinh vật giúp cho cây trồng tốt hơn, chất lượng nông sản tốt hơn.
Không ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái, con người và sinh vật khác.
Ngoài ra phân vi sinh còn được chia thành 2 dạng: phân vi sinh dạng đặc và
phân vi sinh dạng lỏng.
Từ đầu thẽ kỷ 20, chẽ phẩm phân vi sinh bón cho cây họ đậu được sản xuất
dưới dạng lỏng nhưng thời hạn bảo quản ngắn, không tiện sử dụng trong sản xuất.
Từ những nãm 50, việc sử dụng than bùn làm chất mang đã giúp cho phân vi sinh
dạng rãn ra đời. Lúc này phân vi sinh có thể bảo quản tới 6 - 12 tháng, lại dễ vận
chuyén cho nẻn được phát triển mạnh vào những năm 80 của thế kỷ 20. Công nghệ
mới nhằm xử lí sự sống sót của vi sinh vật trong chất lỏng đã tạo điểu kiện đê sản
xuất phân vi sinh dạng lỏng. Dạng phân này có thể chứa nhiều chủng, mật độ cao,
có thời hạn bảo quản lâu, lại dễ vận chuyển và sử dụng [2].

nước rút đi lớp bề mặt không bị rắn chắc khiẽn cho quá trình trao đổi khí được dễ
dàng, cây không bị đổ.
3- Hệ vi sinh vật đất phát triển tốt làm cho đất ngày càng màu mỡ, có nhiều
chất dinh dưỡng cho cây trổng, nẽu hộ vi sinh vật cố định nitơ tốt thì hàng nãm cây
trồng sẽ được cung cấp từ 50 - 100 kg nitơ dưới dạng phân bón. Hệ động vật đất
(giun đ ất ) phát triển không những làm tơi xốp đất mà phân hoặc xác của chúng
làm cho đất màu mỡ hơn, nếu có 250 - 2000 con giun/m2đất trong điểu kiện nóng
ẩm, giun phát triển tốt sẽ thải ra 60 tấn phân và đào các lỗ có chiểu dài 4000-7000
km/ha/ năm.
4- Do tơi xốp nên việc làm đất (cày, bừa,làm cỏ ) dễ dàng hơn.
• Phản vi sinh góp phần tăng năng suất cây trồng
- Phân vi sinh cô' định nitơ đã được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau ở
nhiều nước trên thế giới. Hiện nay gần 100 triộu ha đất đã được bón phân vi sinh cố
định nitơ. Nước sử dụng nhiều nhất là Mỹ (20 triệu ha). Ở Việt Nam Nitragin đã
được thử nghiệm và sử dụng, hiệu quả đã được khẳng định.
Bảng 2. Hiệu lực của phân Nitragin đến năng suất lạc
STT
Công thức
Tổng số quả /cây
Tổng số quả
chắc/cây
Khối lượng
lOOquả khô(g)
1
Không bón phân
10,85 7,29 103,03
2 Nền
12,02
7,94
.—

10,0
4 Khoai tây
p.strata
25,0
Nguồn: [3]
1.2.4. Hiện trạng sản xuất phân bón sinh học và công nghệ sản xuất phân vi sinh
Khác với phân bón sinh học, phân bón hóa học được sản xuất bàng một dây
chuyền hiện đại, nhà máy đồ sộ và chất lượng ổn định theo tiêu chuẩn nhất định.
Phân bón hoá học ít bị làm hàng giả và được tiêu thụ tự do trên các cửa hàng, đại lý
lớn theo giá gần như ổn định và gần giống nhau. Phân bón sinh học, ngược lại có thể
sản xuất bằng dây chuyền đơn giản từ thủ công đến bán công nghiệp. Tiêu chuẩn
chất lượng không ổn định, phụ thuộc vào nhà sản xuất, đặc biệt rất dễ làm hàng giả.
Vì vậy giá bán ở các cửa hàng rất khác nhau, khó phân biệt được hàng thật hàng giả.
Nếu không có cách quản lý tốt sẽ gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
Ở Việt Nam, gần đây ở một số địa phương đã xuất hiện một số cơ sở sản xuất
chế phẩm phân bón hữu cơ sinh học, dựa trên nguyên tắc phối trộn giữa than bùn với
các phế thải của nông nghiệp và phân chuồng, thêm một tỉ lệ thấp phân bón hoá học
đạm lân và kali. Các quy trình ủ và phối trộn này về bản chất chủ yếu dựa vào hệ vi
sinh vật hoang dại có sẵn trong phân, rác và một phần do tác dụng của các axit mùn
{axit hưmic, fu lvic ) có sẵn trong than bùn cũng có một số cơ sở đã sử dụng các
chế phẩm vi sinh vật để ủ than bùn hoặc các chất phế thải nhưng chỉ dừng ờ mức
phân hữu cơ sinh học. Hầu như rất ít có chế phẩm theo đúng nghĩa là phân hữu cơ vi
sinh, vì không chứa một lượng lớn vi sinh vật hữu ích cho cây trổng.
Ớ nứớc ta trong nhũng nãm gần đây, qua nghiên cứu thử nghiệm thực tê, đã
đánh giá rất cao tác dụng của phân vi sinh đối với sản xuất nông nghiệp. Đã có một
- 10-
sô cơ sở sản xuất phân vi sinh như: Viện khoa học kỹ thuât nông nghiệp, Xí nghiệp
phân bón Quảng Ngãi, một số cơ sở sản xuất phân ờ miền Nam.
Hiện nay tổng cục tiêu chuẩn đã ban hành quy định về chất lượng phân vi
sinh và phương pháp kiểm tra phân vi sinh

chế phẩm đã vô trùng
• Chất mang: là nơi vi sinh vật hữu ích sống, tồn tại, phát triển, không có
hại cho sinh vật, con người và môi trường sinh thái. Chất mang cần đạt được một sô'
đặc điểm như sau:
- Độ xốp cao
- Vi sinh vật có thể tổn tại dài ngày
- Dễ sử dụng trong nông nghiệp
- Dễ tìm, giá rẻ
Chất mang thường được sử dụng là than bùn: sản phẩm từ cây, cỏ bị vùi lấp
trong điểu kiện hiếu khí, sau hàng nghìn, hàng vạn năm tạo thành. Tuỳ theo thời
gian vùi lấp và nguồn cây cỏ thành phần than bùn rất khác nhau.
Tuy vậy than bùn thường có một số đặc điểm sau:
- Hàm lượng nitơ: 2,2%
- Axit humic: 16 - 18%
- Mùn hữu cơ: 30 - 40%
- Chất hữu cơ: 60 - 80%
- Đạm tổng số: 1,4 - 1,7%
- 11 -
- Lân tổng số: 0,1 - 0,5%
- Axit humic: 16 - 24%
- Độ giữ nước: 1,7
Theo đánh giá than bùn của Việt Nam rất phong phú, có khoảng 300 triệu
tấn (chủ yếu ở Long An, Kiẽn Giang, Đổng Tháp, Long Xuyên).
• Xử lý chất mang
- Vật lý: làm tơi, xốp, khô (độ ẩm 15%), nghiền nhỏ làm sạch.
- Hoá học: phơi khô cho bay hết khí phenol, lưu huỳnh, trung hoà
cho pH = 6 - 7,0 bằng CaCOv
• Nghiền mịn: qua rây 100 mesh, độ khô 10%.
• Đóng bao, đóng thùng
Cho chiếu xạ, đóng bao trong túi PE. Thanh trùng 121°c trong 3 - 5 giờ

Box cấy
Kính hiển vi
2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứ u
2.2.1. Phương pháp phàn tích trong phòng thí nghiệm
1- Phân tích các chỉ tiêu hoá lí của bã thải sau trồng nấm
Chỉ tiêu hoá lí được phân tích tại phòng Hoá môi trường - Viện Sinh thái-
Viện Khoa học Việt Nam. Các chỉ tiêu phân tích là Nls, Pls, K, c ts.
2- Phân lập và tuyển chọn các chủng vi sinh vật hữu ích có hoạt lục cao
Sử dụng các môi trường Hans, môi trường Czapek-Dox, mồi trường Gauze để
phân lập các vi sinh vật phân giải xenluloza có trong bã thải sau trồng nấm: sử dụng
phương pháp pha loãng, đếm số lượng đơn vị tạo thành khuẩn lạc, vi khuẩn và tính
số lượng vi khuẩn có trong lg mẫu.
• Môi trường phân lập và giữ giống vi khuẩn:
Để phân lập và giữ giống vi khuẩn chúng tôi sử dụng môi trường chuán [, có
thành phần (g/1).
Pepton
: 5 g
Cao thit

: 3 g
Thạch : 15 g
Nước cất
: 1000 ml
pH=7
Môi trường sau khi đun được phân vào bình tam giác 500 ml, mỗi bình 150
ml, khử trùng 30 phút ở 1 atm. Dùng môi trường này để phản lập vi khuẩn.
Cách phân lập mẫu: Cản một gam mẫu sau khi đã nghiền nhỏ, pha loãng
theo sơ đổ sau:
- 14-
ỉ ml 1 mỉ ỉ ml 1 ml 1 ml

Phân lập giống thuần khiết: lấy các khuẩn lạc vi khuẩn, cấy vào ống nghiệm
cho đến khi thuần khiết, giữ ở tủ lạnh 4°c.
• Môi trường phân lập và giữ giống nấm mốc:
Môi trường sử dụng là CzapekDox, có thành phần .
NaNO,
k 2h p o 4
M gS0,.7H 20
KC1
3.5g
1.5g
0.5g
0.5g
FeS04.7H20
Glucoza
Thạch
Nước
O.Olg
30g
15g
1000 ml
Các, bước tiến hành phân lập và giữ giống nấm mốc làm giống
như đối với vi khuẩn.
- 15 -
• Môi trường phân lập và giữ giống xạ khuẩn
Để phân lập và giữ giống xạ khuẩn dùng môi trường Gause I, có thành phần
môi trường:
Phân lập và giữ giống xạ khuẩn được tiến hành giố ng như ở các
trường hợp trên
2.2.2. Xây dựng mô hình ủ phân hiếu khí
Bã thải sau trổng nấm được bổ sung thêm nước tiểu, một mặt đổ đảm báo độ

3 Phôtpho tổng số
0,22
4 Kali tổng số 0,28
5 Độ ẩm
35
6 pH
6,0 - 6,5
Như vậy để lấy bã thải sau trồng nấm làm nguyên liệu đầu vào của quá trình
sản xuất phân vi sinh thì cần phải bổ sung thêm khoáng (Nitơ) sao cho đảm bảo tỷ lệ
C/N=25 - 30. Khoáng chất được bổ sung vào bằng cách tưới nước tiểu, ngoài ra việc
tưới nước tiểu còn đảm bảo cho độ ẩm của đống ủ đạt khoảng 60%.
3.2. ĐÁNH GIÁ SỐ LƯỢNG VI SINH CÓ TRONG MẪU BÃ THẢI SAU
TRỐNG NẤM
Chúng tôi quan tâm phân lập vi khuẩn, nấm mốc, xạ khuẩn, vi sinh vật có
khả năng tổng hợp Nitơ, vi sinh vật phân giải Photphat. Vì chất lượng phàn tốt hay
xấu là phụ thuộc vào sự có mặt của các vi sinh vật này có trong mẫu. Để phân lập và
xác định số lượng vi khuẩn, xạ khuẩn, nấm mốc chúng tôi sứ dụng môi trường Hans,
môi trường Gauze, môi trường CzapekDox. Số lượng các vi sinh vật này ờ trong bã
thải sau trồng nấm được thể hiện ở bảng 5.
- 17-
Bảng 5. Thành phần và số lượng vi sinh vật có trong bã thải sau trồng nấm
STT
Tên vi sinh vật
Số lượng (tế bào/g)
1 Vi khuẩn
6,5.104
2 Xạ khuẩn
7,8.10’
3 Nấm mốc
3.104


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status