Đồ án tốt nghiệp
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
- VTHKCC: vận tải hành khách công cộng
- HK: Hành khách
- PTVT: Phương tiện vận tải
- GTCC: Giao thông công cộng
- VTHK: Vận tải hành khách
- TTQL&ĐHGTĐTHN: Tung tâm quản lý và điều hành giao thông đô thị Hà Nội
- BX: Bến xe
- QL5: Quốc lộ 5
- GTVT: Giao thông vận tải
Đoàn Hoài Nam_ K46
1
1
Đồ án tốt nghiệp
- CBCNV: Cán bộ công nhân viên
- HSSV: Học sinh, sinh viên
- TTTDTT: Trung tâm thể dục thể thao
- BV: Bệnh viện
Danh mục bảng biểu
- Bảng 2.10. Bảng khảo sát tuyến
- Bảng 2.11.Tần suất của tuyến 09
- Hình 2.13. Bảng thông tin tại điểm Bờ Hồ
- Hình 2.14. Các thông số kỹ thuật của xe BS090
- Bảng 3.1. Kế hoạnh vận chuyển HK bằng xe buýt cho phương án vận chuyển đén năm
2020.
- Bảng 3.2. kế hoạch sản xuất vận tải năm 2009 của xí nghiệp
- Bảng 3.3.Kế hoạch vận chuyển năm 2009 trên tuyến buýt 09.
Đoàn Hoài Nam_ K46
2
đi lại ở các trung tâm kinh tế lớn mà nguyên nhân chủ yếu là do người lao động tập trung về với
mong muốn kiếm được việc làm.
Hiện nay nhu cầu đi lại ở các đô thị là rất lớn mà chủ yếu là sử dụng các phương tiện cá
nhân( xe máy) gây nên sự ùn tắc giao thông vào giờ cao điểm, ô nhiễm môi trường và chi phí đi
lại cho chuyến đi là lớn. Đòi hỏi các nhà quản lý giao thông cần phải có chính về tổ chức quản
lý giao thông trong thành phố hợp lý để đảm bảo giao thông trong thành phố.Việc phát triển
Vận tải hành khách công cộng( VTHKCC) dùng các phương tiện có sức chứa lớn để thay thế
cho phương tiện cá nhân sẽ làm giảm phương tiện lưu thông trên đường, giảm ùn tắc giao
thông, tiết kiệm chi phí đi lại, giảm ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy việc nghiên cứu cải thiện
và nâng cao chát lượng dịch vu VTHKCC bằng xe buýt ở Hà Nội là rất cần thiết để có thể đáp
ứng được nhu cầu đi lại trong thành phố.
Đoàn Hoài Nam_ K46
4
4
Đồ án tốt nghiệp
2.Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về hoạt động của tuyến số 09 và dựa trên những chỉ tiêu
đánh giá chất lượng dịch vụ VTHKCC sẽ đưa ra những giải pháp cải thiện chất lượng dịch vụ
VTHKCC trên tuyến.
3.Phạm vi và phương pháp nghiên cứu đề tài.
Phạm vi đề tài nghiên cứu chất lượng dịch vụ của tuyến xe buýt số 09
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu của đề tài là phương pháp phân tích và so sánh. Đồng thời
sử dụng phương pháp thực nghiệm trong quá trình tìm hiểu về tuyến xe buýt.
4.Kết cấu của đề tài
Với mục tiêu của đề tài đã đặt ra thì nội dung nghiên cứu của đề tài được chia thành kết cấu
3 chương như sau:
Chương 1:
Tổng quan chung về vận tải hành khách công cộng.
Chương 2:
Phân tích hiện trạng và đánh giá chất lượng dịch vụ trên tuyến xe buýt số 09.
1.1.2. Đặc điểm và phân loại VTHKCC.
Phương tiện vận tải hành khách công cộng có đặc điểm là sức chứa lớn, chuyên chở
được nhiều hành khách, phục vụ đông đảo nhân dân thành phố, diện tích chiếm dụng
đường rất nhỏ so với các loại phương tiện khác (tính cho một hành khách). Vì vậy, các
phương tiện vận tải hành khách công cộng luôn giữ vững vai trò chủ yếu trong việc phục
vụ hành khách của thành phố.
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
Phương tiện vận tải hành khách công cộng có thể phân loại theo nhiều tiêu thức khác
nhau: Chức năng sử dụng, vị trí xe chạy đối với đường phố, đặc điểm xây dựng đường
xe chạy, động cơ sử dụng, sức chứa của phương tiện…
Hình 1.1. Phân loại vận tải hành khách công cộng.
PHƯƠNG TIỆN VTHKCC
Sức chứa lớn
Sức chứa nhỏ
Xe điện
bánh sắt
Tàu khách chạy điện
Tàu điện
ngầm
Tàu điện
trên cao
Ôtô buýt
Xe điện
bánh hơi
Ta
xi
Xe lam
Xích lô
Xe thô sơ
Vận tải đường ray
Nhược điểm của hình thức vận tải này là:
+ Năng lực vận chuyển không cao, năng suất vận chuyển thấp, tốc độ khai thác còn
thấp (12-15 km/h) so với xe điện bánh sắt, xe điện ngầm,…
+ Khả năng vượt tải thấp trong giờ cao điểm vì chủ yếu dùng bánh hơi.
+ Trong khai thác đôi khi không thuận lợi do thiếu thiết bị do dừng xe ở bến, thiếu
hệ thống thông tin… nên không đáp ứng được nhu cầu của người đi về tiện nghi, độ tin
cậy…
+ Sử dụng nhiên liệu không kinh tế (Xăng, dầu, diêzel).
+ Động cơ đốt trong có cường độ gây ô nhiễm cao do: khí xả, bụi hoặc nhiên liệu
và dầu nhờn chảy ra, gây ồn và chấn động…
Xe điện bánh hơi.
Các chỉ tiêu kinh tế- kỹ thuật của loại phương tiện nàykhông khác nhiều so với xe
buýt. Tuy nhiên, yêu cầu về trang thiết bị phức tạp hơn xe buýt (trạm chỉnh lưu, dây
điện, cột điện…). Sức chứa của xe điện bánh hơi nhiều hơn xe buýt (từ 60- 90 khách)
có thể tăng sức chứa bằng cách kéo thêm rơ-moóc. Phương tiện này đòi hỏi chất lượng
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
đường cao hơn so với xe buýt. Mặt đường dùng cho xe điện bánh hơi phải là mặt
đường cấp cao. Tính năng động của xe điện bánh hơi kém hơn so với xe buýt vì chủ
yếu nó chạy trên đường cố định và chỉ có thể xê dịch trong khoảng 3m kể từ dây dẫn
đến mặt ngoài thân xe.
Tàu điện bánh sắt.
Là loại phương tiện giao thông công cộng có giá thành trang bị cao nhất so với xe
buýt và xe điện bánh hơi vì ngoài thiết bị điện còn phải có đường chạy riêng là đường
ray.
Tàu điện bánh sắt có ưu điểm là khả năng chuyên chở khá lớn (khoảng 15000
HK/giờ). Do đó, người ta bố trí các tuyến tàu điện nằm ở các hướng có dòng hành
khách lớn và ổn định. Đường tàu điện có thể bố trí cùng mức với lòng đường hoặc bố
trí tại nền riêng tách khỏi lòng đường được ngăn cách bởi bó vỉa hoặc dải cây xanh
rộng 1.5-2.5m.
Ngoài ra tàu điện bánh sắt còn có ưu điểm là giá thành rẻ hơn ô tôvà không gây ô
Sức chở của tàu điện chạy trên cao có thể đạt 4000 hành khách khi khoảng cách giữa
các đoàn tàu là 90s. Tốc độ tối đa đạt đến 100km/h, tốc độ khai thác 60km/h.
Tàu điện trên cao có ưu điểm là không giao cắt với đường phố, tiết kiệm quỹ đất,
đặc biệt là khi không có khả năng mở rộng lòng đường và nó là một công trình kiến
trúc đô thị làm tôn thêm mỹ quan của những thành phố hiện đại.
Tàu điện một ray (Monorail).
Là loại phương tiện vận tải hiện đại (được sử dụng lần đầu tiên tại thành phố
Vupental của Đức vào năm 1901 với chiều dài 13 km). Monorail có tốc độ cao (bình
quân có thể đạt 60 km/h) và khả năng chuyên chở lớn (khoảng 25.000 HK/h) và có ưu
điểm là diện tích chiếm dụng khoảng không ít. Được dùng để vận chuyển hành khách
từ các vệ tinh vào trung tâm thành phố có luồng khách lớn.
Vai trò
VTHKCC nhằm phục vụ cho sự di chuyển cuả người dân đô thị
Với sự phát triển ngày càng cao của xã hội, VTHKCC đang từng bước thoả mãn nhu
cầu đi lại của người dân đô thị, dẫn đến ngày càng nhiều người dân đô thị chấp nhận
loại hình vận tải này.
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
VTHKCC không những đảm bảo vận chuyển hành khách theo đúng thời gian và
không gian xác định mà nó còn đảm bảo tránh cho hành khách khỏi những tác nhân tác
động vào họ khi họ di chuyển bằng phương tiện cá nhân: mưa, nắng, bụi đường, khói
và hơn hết là bảo đảm an toàn cho hành khách một cách tốt nhất.
VTHKCC tạo thuận lợi cho việc phát triển chung của đô thị:
Đô thị ngày càng phát triển và mở rộng qui mô dân cư, khu công nghiệp, thương
mại, văn hoá…Từ đó xuất hiện các quan hệ vận tải với công xuất lớn và khoảng cách
xa, nằm ngoài khả năng đáp ứng của phương tiện vận tải cá nhân. Khi đó chỉ có thể là
VTHKCC mới có thể đáp ứng được yêu cầu đó.
Nếu không thiết lập được mạng lưới VTHKCC hợp lý tương ứng với nhu cầu thì sức
ép để giải quyết mối giao lưu giữa các khu chức năng đô thị phân bố cách xa trung tâm
với công suất hành khách lớn sẽ là lực cản lớn đối với quá trình đô thị hoá.
Lãnh thổ thành phố ngày càng mở rộng thì vai trò của giao thông đô thị càng thể
Đặc điểm:
Các tuyến xe của VTHKCC có khoảng cách vận chuyển ngắn do VTHKCC diển ra
trong phạm vi của một thành phố nhằm thực hiện việc giao lưu hành khách giữa các
vùng trong thành phố với nhau. Khoảng cách giữa các điểm dừng đỗ cũng ngắn nên xe
phải dừng và tăng tốc thường xuyên. Điều đó đòi hỏi xe phải có tính năng động lực
cao.
Thời gian phục vụ của VTHKCC chủ yếu vào ban ngày do VTHKCC phục vụ những
nhu cầu thường xuyên và ổn định của xã hội. Yêu cầu chạy xe rất cao: xe phải chạy với
tầng suất lớn, độ chính xác về thời gian và không gian cao.
Chi phí vận tải lớn, đặc biệt là chi phí nhiên liệu và các chi phí cố định khác, lý do lá
xe phải dừng và tăng tốc liên tục để đón trả khách nên tiêu hao nhiên liêu rất lớn.
Các công trình trang thiết bị khác phục vụ VTHKCC khá lớn: nhà chờ,các điểm dừng
đổ, hệ thống thông tin …điều đó cũng làm tăng giá thành vận tải.
.Để đảm bảo an toàn và phục vụ hành khách một cách tốt nhất thì trên phương tiện
VTHKCC nên bố trí các thiết bị kiểm tra vé tự động hoặc cơ giới, có hệ thống thông tin
hai chiều đầy đủ giữa người điều khiển và hành khách. Mặt khác do hoạt động trong đô
thị và phục vụ một lượng hành khách lớn nên phương tiện VTHKCC đòi hỏi cao về
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
việc bảo đảm vệ sinh môi trường như thông gió, giảm tiếng ồn và độ ô nhiễm của
không khí.
Ưu và nhược điểm của VTHKCC bằng xe buýt.
Ưu điểm:
- Có tính cơ động cao, không phụ thuộc vào mạng dây dẫn hoặc đường ray, không cản
trở và dễ nhập vào hệ thống giao thông đường bộ trong thành phố.
- Khai thác, điều hành đơn giản, có thể nhanh chóng điều chỉnh chuyến lượt trong thời
gian ngắn mà không ảnh hưởng đến hoạt động của tuyến .
- Hoạt động có hiệu quả với dòng hành khách có công suất nhỏ và trung bình. Đối
với các luồng hành khách có hệ số biến động cao về thời gian và không gian vận tải có
thể giải quyết thông qua viêc lựa chọn xe thích hợp và một biểu đồ vận hành hợp lý.
- Vận tải xe buýt cho phép phân chia nhu cầu đi lại ra các tuyến (Đường phố) khác
vận tải cá nhân ( Tổng chuyến đi cho 1 chuyến đi xe buýt nhỏ hơn của xe máy là gấp
3,5 lần, của ô tô con là 25 lần).
Ôtô buýt là phương thức tạo ra hiệu quả kinh tế cao nhất, nhất là trong điều kiện
cường độ dòng hành khách biến động lớn trong không gian và theo thời gian. Bởi vì
trong giờ cao điểm luồng hành khách có công suất lớn nhưng với năng suất vận chuyển
của xe buýt khá cao (từ 4000-9000 hành khách /giờ) thì cũng đáp ứng được. Ngược lại
trong giờ thấp điểm với công suất luồng hành khách trung bình và nhỏ thì xe buýt cũng
có thể thích ứng một cách tương đối bằng cách rút ngắn tần suất chạy xe.
Bảng1.2:Một số chỉ tiêu so sánh xe buýt với phương tiện vận tải cá nhân.
Chỉ tiêu Đơnvị Xe buýt Xemáy Xe con
Diện tích chiếm dụng động m2/c.đi 1,2-1,3 3 8-10
Vốn đầu tư xây dựng đường
USD/c.đi 0,08 0,547 1,02
Vốn đầu tư cho GT tĩnh
USD/c.đi 0,02 0,03 0,19
Tổng số vốn đầu tư
USD/c.đi 0,6 19,97 13,86
Vốn đầu tư cho PTVT và trang thiết
bị phục vụ
USD/c.đi 0,5 1,42 12,65
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
Chi phí VC cho 1 chuyến đi USD/c.đi 0,14 1,3 1,5
Hiện nay xe máy ở Thành phố Hà Nội chiếm khoảng 85% tổng số xe trên các trục
đường,tức là chiếm tỷ lệ áp đảo.Tuy nhiên,đây chưa phải là tỷ lệ áp đảo tuyệt đối bởi
xe máy chiếm khoảng 85% tổng số phương tiện nhưng chỉ phục vụ nhu cầu đi lại của
74% số người tham gia giao thông.Xe hơi mặc dù đang tăng mạnh song chỉ chiếm 4,5%
tổng số phương tiện ở Hà Nội (phục vụ 5% số người tham gia giao thông).Trước đây xe
đạp chiếm tỷ lệ rất lớn song đến nay chỉ còn chiếm 12% và phục vụ nhu cầu đi lại của
8% số người tham gia giao thông.Phương tiện cuối cùng là xe buýt chỉ chiếm 0,7%
lượng xe nhưng đáp ứng được khoảng 14% nhu cầu đi lại,điều đó cho thấy đây là
VTHKCC sẽ cải thiện tốt môi trường đô thị như:giảm lượng khí thải độc,giảm bụi
bặm…
- VTHKCC bằng xe buýt là nhân tố đảm bảo trật tự ổn định xã hội:Một người dân
thành phố bình quân đi lại 2-3 lượt/ngày,những hành trình đi làm,đi mua sắm,thăm
viếng,sinh hoạt…diễn ra liên tục suốt ngày đêm biểu hiện bằng những dòng hành
khách,dòng PTVT dày đặc trên đường phố.Vì vậy,nếu bị ách tắc,ngoài tác hại về kinh
tế còn dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực về tâm lý,chính trị,trật tự an toàn xã hội.
- VTHKCC bằng xe buýt giảm chi phí đi lại cho người dân,góp phần tăng năng suất
lao động xã hội:Chi phí chuyến đi của hành khách bao gồm:Khấu hao phương tiện;chi
phí bảo dưỡng và sửa chữa phương tiện;chi phí nguyên vật liệu,nhiên vật liệu;chi phí
khác.Việc sử dụng VTHKCC bằng xe buýt cho phép tiết kiệm được một số khoản chi
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
phí của chuyến đi,từ đó giảm chi phí đi lại cho mỗi chuyến đi và góp phần tăng năng
suất lao động xã hội.
- VTHKCC bằng xe buýt tiết kiệm đất đai cho đô thị:Theo kết quả tính toán,diện
tích chiếm dụng đường tính bình quân cho một chuyến đi cho ôtô là 1,5 m
2
,cho xe máy
là 10-12 m
2
và xe con là 18-20 m
2
.Nếu tất cả nhu cầu đi lại mà đi lại bằng xe buýt thì
diện tích đường chỉ cần bằng 10-20% diện tích đường khi hành khách đi bằng xe máy
và xe con. Diện tích giao thông tĩnh cho một chuyến đi bằng xe buýt nhỏ hơn xe máy
2,5 lần và nhỏ hơn ô tô 7 lần.
Ngoài ra thì tổng vốn đầu tư cho một chuyến đi bằng xe buýt nhỏ hơn ô tô con 23
lần và chi phí xã hội cho một chuyến đi theo giá mờ bằng xe buýt chỉ bằng 45% so với
xe máy và 7,7% so với ô tô con.
1.2. Tổng quan về chất lượng dịch vụ vận tải hành khách công cộng và các yếu tố
1.2. Biểu thời gian
2. Khả năng tiếp cận 2.1. Hệ thống vé
2.2. Tiếp cận không gian bên ngoài hệ thống
2.3. Tiếp cận không gian bên trong hệ thống
3. Thông tin 3.1. Thông tin tổng quát
3.2. Thông tin chuyến đi trong điều kiện thông thường
3.3. Thông tin chuyến đi trong điều kiện bất thường
4. Thời gian 4.1. Thời gian chuyến đi
4.2. Đúng giờ và đáng tin cậy
5. Mức độ chăm sóc
khách hàng
5.1. Sự tận tuỵ
5.2. Thân thiện với khách hàng
5.3. Nhân viên
5.4. Hỗ trợ sức khoẻ
5.5. Lựa chọn hệ thống vé
6.1. Điều kiện xung quanh
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
6.2. Phương tiện
6.3 Tiêu hao năng lượng
7. An toàn 7.1 An ninh
7.2. An toàn giao thong
7.3. Tỷ lệ an toàn
8. Môi trường 8.1. Ô nhiễm
8.2. Tài nguyên
8.3. Cơ sở hạ tầng
Nguồn: Quattro project
Trong các chỉ tiêu nói trên, có một số chỉ tiêu khó có thể được lượng hoá như nhóm
chỉ tiêu đánh giá về mức độ chăm sóc khách hàng và sự thuận tiện đối với hành khách.
Đối với nhóm chỉ tiêu này, việc điều tra quan điểm của hành khách là hết sức cần thiết
chữa kịp thời.
Các công trình giao thông trên đường, như cầu, cống, đường xá, bến xe, các điểm
dừng đổ trên tuyến….có ảnh hưởng rất lớn tới lái xe và hành khách, ảnh hưởng tới sức
khỏe, đến tâm lí của người tham gia giao thông. Các công trình giao thông đảm bảo
chất lượng phục vụ tốt, thông thoáng, phục vụ đầy đủ, tốt những yêu cầu tối thiểu đối
với chuyến đi thì góp phần đảm bảo được sức khỏe cho người lái xe và hành khách đi
trên đường. ngược lại có thể gây ức chế tâm lí, tổn hao nhiều năng lượng của lái xe gây
mất an toàn giao thông trên đường.
Các điểm đỗ trên hành trình :
Các điểm đỗ được chia thành hai loại :
+ Điểm đỗ đầu và điểm đỗ cuối .
+ Điểm đỗ dọc đường. ảnh hưởng đến vận tốc khai thác, thời gian đi lại của hành
khách.
Với các điểm đỗ dọc đường , tuỳ theo điều kiện xe chạy trên hành
Hành trình được chia ra :
+ Các điểm đỗ cố định : Là những điểm đỗ bắt buộc xe đỗ lại để hành khách lên
xuống
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
+ Điểm đỗ không cố định ( Tạm thời ) : Là những điểm đỗ có thay đổi theo thời
gian trong năm .
+ Các điểm đỗ theo yêu cầu : Là những điểm đỗ có lượng hành khách ít , không đều
theo thời gian trong ngày . Vì vậy nếu có hành khách yêu cầu xe mới dừng, nếu không
xe sẽ không dừng tại những điểm đỗ đó. Các điểm này cần được ghi rõ.
- Điểm đầu và điểm cuối :
Các hành trình xe buýt trong thành phố điểm đầu và điểm cuối thường chọn ở vị
thích hợp để đảm bảo quay trở đầu xe dễ dàng, không cản trở giao thông, không kết
hợp với hình thức vận tải khác.
Các điểm đầu và cuối của hành trình thường bố trí ở những nơi có hành khách tập
chung cao nhất. Khi bố trí nên đặt gần các nhà ga, bến cảng, sân bay để thuận tiện cho
hành khách chuyển tải.
+ Biển kiểm soát xe và số hiệu tuyến, lộ trình điểm dừng.
Trong quá trình vận tải, chất lượng phương tiện (kỹ thuật, tuổi thọ, mức độ tiện
nghi) có ảnh hưởng trực tiếp và quyết định đến chất lượng vận tải, là yếu tố tạo nên sự
an toàn, tiện nghi, sự thoải mái, dễ chịu cho hành khách và độ tin cậy của hành khách.
Về chủng loại phương tiện thì có phù hợp với điều kiện đường sá và nhu cầu đi lại.
Để đảm bảo cho phương tiện luôn ở trong tình trạng kỹ thuật tốt luôn sẵn sàng tham
gia vào quá trình vận tải, thì yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến đó là chất lượng công tác
bảo dưỡng sửa chữa phương tiện. Cần kiểm tra, duy tu sửa chữa thường xuyên, kịp
thời. Ví dụ như: Phanh, tay lái, lốp, các trang thiết bị trên xe…
Chất lượng phương tiện còn ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng phương tiện, mức độ
tiêu hao nhiên liệu. Chất lượng phương tiện kém, thường xuyên phải sửa chữa làm
giảm hệ số ngày xe tốt có thể vận hành trên tuyến làm giảm hiệu quả sử dụng phương
tiện. Một phương tiện cũ, máy móc động cơ xuống cấp tiêu hao năng lượng cho chuyến
đi lớn hơn phương tiện có chất lượng tốt. Không những thế, nồng đô khí thải và tiếng
ồn gây ra của phương tiện chất lượng kém cũng lớn hơn của phương tiện có chất lượng
tốt.
Chương I. Tổng quan chung về VTHKCC
Ngoài vấn đề chất lượng thì chủng loại phương tiện phải phù hợp với điều kiện hoạt
động của tuyến và nhu cầu đi lại, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ vận tải
hành khách công cộng.
Phương tiện VTHKCC phải đảm bảo các yêu cầu:
- An toàn trong vận hành, công trình mà phương tiện đi qua, an toàn cho hành khách,
cho lái xe và phương tiện giao thông khác trên đường.
- Đáp ứng tiêu chuẩn kích thước, trọng tải theo quy định của pháp luật, phù hợp với
điều kiện hoạt động trên đường.
- Đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường.
- Đáp ứng yêu cầu mỹ quan đô thị.
Phương tiện trong sản xuất vận tải chính là công cụ lao động nó đóng vai trò quan
trọng trong việc sản xuất thành công và cho ra sản phẩm vận tải đạt chất lượng tốt. Ta
nói về phương tiện vận tải là nói về số lượng phương tiện, chủng loại và chất lượng
Làm tốt công tác tổ chức, điều hành vận tải sẽ tạo ra sự nhịp nhàng, thông thoáng,
liên thông giữa các phương thức đón trả khách tạo cho hành khách sự thuận tiện trong
đi lại của mình, đặc biệt là trong việc hành khách phải thay đổi phương tiện trong hành
trình đi lại của mình.
Công tác tổ chức quản lý và điều hành ảnh hưởng nhiều tới chất lượng sản phẩm
vận tải, chất lượng của công tác này là giảm thiểu các chuyến đi không thực hiện được
theo kế hoạch hoặc thực hiện không đúng thời gian quy định. Giúp cho chất lượng phục
vụ được nâng lên nhằm tạo ra sự nhịp nhàng, ăn khớp phù hợp giữa các phương thức
đón trả khách và giữa các tuyến với nhau.
- Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động trên hành trình:
Kiểm tra, giám sát hoạt động trên hành trình nhằm đảm bảo việc thực hiện các yêu
cầu đề ra đối với việc thực hiện lộ trình, thái độ phục vụ hành khách của lái, phụ xe, …
Đây cũng chính là phương thức phụ trợ tăng cường chất lượng dịch vụ vận tải hành
khách công cộng.
d. Các yếu tố khác.
- Cơ chế chính sách của nhà nước đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải hành
khách công cộng bằng xe buýt kế cận: Chính sách thuế, các chính sách ưu tiên khác.