ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VÃN
THỂ CHẾ VỀ VĂN BẢN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC CỦA CÁC TRIỀU ĐẠI
■
PHONG KIẾN VIỆT NAM
■
MÃ SỐ: QG-95-28.
HỌ VÀ TÊN CHỦ TRÌ: V ƯƠ NG Đ ÌN H Q UYỂ N.
CÁN BỘ PHỐI HỢP NGHIÊN CỨU: v ũ THI PHỤNG.
. . . Am ị
I
OT Ị 000 ỉ f
HÀ NỘI. NGÀY 20 THÁNG 5 NÁM 2000
MỤC LỤC
Trang
Phần niử đầu 5
C hương I: Khái quát về thiết chế bộ máy nhà nước của các triều
đại phong kiến Việt Nam. 12
1.1. Tổ ch ứ c bộ máy Nhà nước Trung ương. 14
1.1.1. Vua. 14
1.1.2. Lục Bộ. 15
1.1.3. Lục Tự. 17
1.1.4. Các quan chức và cơ quan tư vấn. 17
1.1.5. Văn phòng của nhà vua. ] 8
1.1.6. Các cơ quan khác. 21
1.2. Tổ chức bộ máy hành chính địa phương. 22
1.2.1. Cấp hành chính trực thuộc chính quyền Trung ương. 22
1.2.2. Chính quyền cấp phủ, huyện, châu. 25
1.2.3. C hính quyền cấp xã. 25
C hương 2: Các loại văn bản quản lý nhà nước và sổ sách hành
PH ẦN M Ở ĐẦU
V ăn bản hiểu theo nghĩa chung nhất là khái niệm dùng để chỉ vật m ang tin
được ghi bằng ký hiệu ngôn ngữ nhất định. Ví như các tác phẩm văn học, sử học,
triết học, toán học, công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động của các cơ quan,
hoành phi, câu đối, văn bia ở các đền chùa. Còn theo nghĩa hẹp thì văn bản được
hiểu là công văn, giấy tờ hình thành trong quá trình hoạt động của các cơ quan,
tổ chức, xí nghhiộp.
Như một tất yếu khách quan, xưa cũng như nay, nhà nước của các giai cấp
thống trị ở các nước trên thế giới nhìn chung đều sử dụng văn bản làm phương
tiện ghi chép và truyển đạt thông tin để phục vụ cho công tác quản lý của mình.
Chẳng hạn, dùng văn bản để ban hành luật pháp, truyền đạt mệnh lệnh, phản ánh
tình hình, ghi chép và thống kê nhân khẩu, ruộng đất, thuế khoá, v.v Loại văn
bản này được gọi là văn bản quản lý nhà nước hay văn bản hành chính. Theo đinh
nghĩa hiện nay, văn bản quản lý nhà nước là văn bản do các cơ quan nhà nước
ban hành để phục vụ cho hoạt động quản lý theo đúng thể thức, thẩm quyền và
thủ tục do luật pháp quy đinh, ở nước ta, từ thời Bắc thuộc, loại văn bản này đã
được chính quyền đô hộ phong kiến Trung Hoa sử dụng để điều hành hoạt động
của bộ máy thống trị. Đến đầu thế kỷ X, đất nước thoát khỏi ách thống trị của
phong kiến phương Bắc, mở ra kỷ nguyên mới của lịch sử dân tộc-kỷ nguyên độc
lập, tự chủ m à sử sách gọi là kỷ nguyên Đại Việt. Suốt trong 10 thế kỷ, từ đầu thế
kỷ X đến cuối thế kỷ XIX, các vương triều phong kiến V iệt Nam - Ngô, Đinh,
Lê, Lý, Trần, Hổ, Lê, Nguyễn (Quang Trung), N guyễn (Gia Long) k ế tiếp nhau
trị vì đất nước. Q ua những ghi chép ở các thư tịch đương thời cho thấy, chậm nhất
là kể từ triều Lý trở về sau, các triều đại đã sử dụng văn bản làm phương tiện
thông tin chủ yếu phục vụ cho hoạt động quản lý. Nói cách khác, m ọi hoạt động
hành chính chủ yếu của nhà nước đều gắn liền với văn bản, giấy tờ, công tác
văn bản, giấy tờ trở thành một bộ phận hữu cơ của hoạt động quản lý nhà nước.
Vì lẽ đó, nhiều triều đại đã ý thức được tầm quan trọng của văn bản criấy
tờ đối với quản lỷ nhà nước, sử dụng chúng như m ột công cụ quan trọng để nânơ
6
nước và công cuộc cải cách nền hành chính Nhà nước hiện nay.
Ngoài ra, việc nghiên cứu để tài này còn nhằm mục đích giúp chúng tôi có
đầy đủ kiến thức và tư liệu để biên soạn giáo trình, giáo án và giảng dạy các môn
học vể lịch sử văn bản và lịch sử lưu trữ Việt Nam thuộc chương trình đào tạo cử
nhân, thạc sĩ và tiến sĩ ngành lưu trữ học và quản trị văn phòng.
Do hạn chế bởi thời gian và kinh phí của m ột đề tài cấp Đ ại học Quốc gia,
không cho phép tổ chức thu thập, biên dịch thật đầy đủ các nguồn tư liệu cần
thiết, cho nên tuy phạm vi nghiên cứu của để tài tương đối rộng nhưng trọng tâm
được đặt vào những vấn để chủ yếu vể văn bản , giấy tờ của triều Lê và triểu
Nguyễn như hệ thống văn bản quản lý nhà nước và sổ sách hành chính (chức
năng , đặc điểm và thẩm quyền ban hành), thể chế về soạn thảo, ban hành,
chuyển giao giải quyết văn bản , về tuyển dụng quan chức làm công tác công
văn giấy tờ.
Tuy chế độ phong kiến nước ta tổn tại cho đến năm 1945 mới bị lật đổ
bởi cuộc Cách m ạng tháng Tám. Nhưng đề tài lấy năm 1884, năm triều đình
nhà Nguyễn ký hiệp ước Pa-tơ-nốt công nhận quyền thống trị của thực dân Pháp
trên toàn cõi V iệt Nam làm điểm dừng. Bởi từ đây, triều N guyễn không còn là
một vương triều độc lập mà bị lệ thuộc về nhiều mặt vào chính quyển đô hộ của
Pháp ở Đ ông Dương.
Lich sử nghiên cứu vấn đề.
N hìn tổng quát, cho tới nay chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện
về văn bản hành chính của các triều đại phong kiến Việt Nam. Tuy nhiên, vấn đề
này trong m ấy thập niên gần đây đã được m ột số học giả nghiên cứu ở những
khía canh sau:
Về sách có cuốn "Lưu trữ của các hoàng đế An Nam và lịch sử An
Nam" của nhà lưu trữ học Pôn Buđê, giám đốc nha Lưu trữ và Thư viện Đông
Dương thời thuộc Pháp, xuất bản năm 1942 tại Hà Nội. Dưới góc độ lưu trữ, tác
8
giả đã đề cập đến các loại văn bản hành chính mà lưu trữ H oàng triều đã bảo tổn
được như châu bản, kim sách, ngân sách và các sổ sách, giấy tờ khác.
hành ), quy đinh của các triều đại về soạn thảo, ban hành , chuyển giao, giải
quyết và lưu trữ văn bản, giá trị và tình hình bảo tổn các văn bản quản lý nhà
nước và thư tịch hình thành dưới triẻu N guyễn. Phần lớn các bài viết đã xoay
quanh chủ đề này. Chẳng hạn học giả Phan Thuận An đã viết nhiều bài khảo cứu
vế tư liệu, tài liệu của triều N guyễn như: Tàng Thư Lâu, m ột kho lưu trữ thư viện
ngày xưa ở H uế (Tạp chí Thông tin và Thư viện phía Nam , số 1-1993); Tư liệu
trong các thư viện thời Nguyên - m ột di sản vô giá của H uế ( Xưa và N ay, số 5-
1994); Từ thư viện triều Nguyễn đến thư viện cố đô ( H uế xưa và nay, số 6 -
1994)
Liên quan đến đề tài này, bản thân tác giả đã công bố 8 chuyên luận trên
các tạp chí N ghiên cứu lịch sử Lưu trữ Việt Nam, Q uản lý Nhà nước. Đó là các
bài: M ột tiềm năng sử liệu quan trọng - tài liệu lưu trữ; Văn bản quản lý thời Lê
Thánh Tông; Thể ch ế về soạn thảo và ban hành văn bản của nhà nước phong
kiến triều N guyễn; Thông tin liên lạc hành chính dưới thời vua M inh M ạng; V ấn
để tuyển dụng thư lại và quan chức làm công tác công văn giấy tờ dưới chế độ
phong kiến V iệt Nam; Phiếu nghĩ - m ột phương thức giải quyết văn bản độc đáo
của các hoàng đế triều N guyễn Tác giả cũng là người hướng dẫn khoa học
của Luận án tiến sĩ sử học "Văn bản quản lý Nhà nước thời Nguyễn (giai đoạn
1802-1884) nói trên.
Các bài viết của chúng tôi đã để cập đến nhiều m ặt thuộc nội dung nghiên
cứu của đề tài, có thể xem đó là kết quả nghiên cứu bước đầu của đề tài này.
Tóm lại, những vấn để liên quan đến văn bản giấy tờ thời phong kiến nói
chung đặc biệt của triều N guyễn đã có không ít công trình nghiên cứu trực tiếp
hoặc gián tiếp đề cập tới. Kết quả nghiên cứu của các tác giả là những tư liệu,
những gợi m ở có giá trị cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi.
Các nguồn tư liệu tham khảo và phương pháp nghiên cứu.
10
Trong quá trình thực hiện đề tài , chúng tôi đã sử dụng các nguồn tư liệu
chính dưới đây:
1. Các thư tích cổ.
những nhận xét, kết luận có cơ sở khoa học.
Ngoài hai nguồn nói trên, tác giả còn trực tiếp khảo sát và nghiên cứu tài
liệu lưu trữ được bảo quản ở các Trung tâm lưu trữ quốc gia I và II như châu bản,
mộc bản, địa bạ triều Nguyễn. Qua đây, giúp chúng tôi hiểu biết đầy đủ hơn về
các loại văn bản này .
Để nghiên cứu để tài này, chúng tôi đã vận dụng tổng hợp nhiều phương
pháp. Trước hết là phương pháp nhận thức các sự kiện, hiện tượng lịch sử của chủ
nghĩa M ác- Lê nin, thể hiện ở 3 quan điểm: chính trị, lịch sử toàn diện và tổng
hợp các phương pháp cụ thể như: phương pháp lịch sử và phương pháp logic,
phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh cũng đã được áp đụng trong quá
trình thu thập tư liệu, xử lý, phân tích và tổng hợp các thông tin để đi đến những
nhận xét, kết luận các vấn đề mà đề tài đề cập.
Kết quả nghiên cứu của đề tài được trình bày theo bố cục sau đây:
Phần mở đầu
Chương I: Khái quát về thiết chê bộ máy nhà nước của các triều đại
phong kiến Việt Nam.
Chương II: Các loại văn bản quản lý nhà nước và sổ sách hành
chính của các triều đại phong kiến Việt Nam .
Chương III: Quy định của các triều đại về việc soạn thảo, ban hành,
chuyển giao, giải quyết văn bản và tuyển dụng quan lại làm công tác văn
bản, giấy tờ.
Kết luận.
12
KHÁI QUÁT VỂ THIẾT CHẾ BỘ MÁY NHÀ NƯỚC
CỦA CÁC TRIỂU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NA M .
Theo kết quả nghiên cứu hiện nay, nhà nước đầu tiên ở nước ta được hình
thành trên cơ sở văn hóa Đông Sơn, vào khoảng giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước
công nguyên. Đó là N hà nước Văn Lang của các vua Hùng, gồm 15 bộ lạc người
Lạc Việt sinh sống chủ yếu ở m iền trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Tiếp nối là
Nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương với biên giới mở rộng đến miền núi
M ột là, xuất phát từ yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã
hội mà triều đại đó đặt ra.
Hai là, đảm bảo nguyên tắc tập quyền. N guyên tắc này chi phối m anh mẽ
cơ cấu tổ chức, chức năng nhiệm vụ của chính quyền các cấp cũng như chức
trách của hệ thống quan lại trong bộ máy. Tuy nhiên, do tính chất, mức độ và
yêu cầu về tập quyền của mỗi triều đại không giống nhau, cho nên sự chi phối
của các nguyên tắc này đối với cơ cấu chính quyền cũng ở những mức độ khác
nhau.
Ba là, tham khảo học tập hoặc mô phỏng thiết chế bộ m áy Nhà nước của
các triều đại phong kiến Trung H oa.Tuy nhiên, trong vấn đề này, nhìn chung,
các vương triều Việt Nam không sao chép một cách m áy m óc, giáo điều; ở
mức độ khác nhau, họ đã biết kết hợp những đặc điểm của dân tộc và đất nước
để vận dụng có chọn lọc.
Ngoài ra, thiết chế nhà nước và sự vận hành của nó còn phụ thuộc bởi tài
năng, ý chí, bản lĩnh của các hoàng đế trị vì. Ví dụ, trong lịch sử chế độ phong
kiến nước ta, đã có 2 cuộc cải cách hành chính khá sâu rộng và triệt để được
thực hiện bởi vua Thánh Tông triều Lê và vua M inh M ạng triều N guyễn. Họ là
những hoàng đế anh m inh, tài trí, có trách nhiệm cao cả với đất nước, có ý chí và
nghị lực hơn người. Chỉ với những con người như vậy, xuất hiện vào những thời
điểm cần thiết mới tạo ra những đổi thay tích cực trong tổ chức và quản lý nhà
1 4
nước và đã để lại cho hậu thế nhiều kinh nghiệm quý báu về mặt này.
Nhìn tổng quát, hộ thống tổ chức bộ m áy nhà nước của các triều đại
phong kiến Việt N am được tổ chức thành các cấp dưới đây:
a. Chính quyển trung ương
b. Chính quyển địa phương, gồm các cấp :
- Đạo, giáp, xã (thời Đinh).
- Lộ, phủ, châu, hương (thời tiền Lê).
- Lộ, phủ, huyện, hương, giáp, thôn (thời Lý, Trần).
- Đạo (thừa tuyên), phủ, huyện, châu, xã (thời Lê).
trình của các địa phương và các khoa, đài; bộ Hình chịu trách nhiệm trông coi
việc thi hành luật, xét xử kiện tụng, tham gia vào việc đánh giá quan lại của bộ
Lại.
Các Bộ đểu có thượng thư đứng đầu, 2 tả hữu tham tri và 2 tả hữu thị lang
làm phó, các lang trung, viên ngoại ( phụ trách các Ty) và thuộc lại. Dưới triều
Nguyễn, các Bộ được tổ chức hoàn thiện và quy mô hơn, do lúc bấy giờ đất
nước ta được m ở rộng về phía Nam, quyền lực tập trung cao độ vào chính quyền
Trung ương, công việc của các Bộ nhiều và phức tạp hơn dưới triều Lê.
Theo Hội điển, chức năng nhiệm vụ của sáu Bộ triều Nguyễn được quy
đinh như sau;
Bộ Lại: Coi các chức thuộc văn ban tại triều và ở các địa phương, giữ
việc tuyển bổ, thăng giáng chỉnh đốn chế độ quan trường để giúp việc trị nước .
Bộ Hộ : Coi việc mộng đất nhà cửa, dân sinh, tài sản, lúa má trong nước,
làm cân bằng cán cân thu chi để điểu hòa thuế vụ .
Bộ Lễ: Phụ trách về nghi lễ và triều hội, quan hệ với các nước , quy tắc về
1 6
Bộ Binh: Phụ trách việc tuyển bổ các quan chức thuộc võ ban tại triều và
các địa phương, chọn quân, kiếm lính, đảm bảo lương thực, vũ khí cho quân đội.
Bộ Hình: Phụ trách vể luật pháp, đinh hình phạt để giữ nguyên phép nước.
Bộ Công: Phụ trách công việc xây dựng, đắp thành, đào hào, đóng
thuyển,thu phát các vật liệu.
Cơ cấu tổ chức trong mỗi Bộ, gồm các Ty, Xứ (giống các vụ, ban ngày
nay), m ỗi ty, xứ được giao phụ trách một loại công việc cụ thể. Ví dụ, bộ Lại
dưới triều N guyễn gồm các đơn vị tổ chức sau đây:
- Ty Văn tuyển: phụ trách việc phẩm cấp quan chế, tuyên bố chức hàm và
chương sớ, phiếu nghĩ, làm các bản danh sách hộ giá, bổi tế, dự yến, danh sách
quan hầu m ãn khóa, lương bổng từ tam phẩm trở lên.
- Ty Trung từ: phụ trách các việc gia cấp, ký lục thưởng tư, giáng phạt,
cấp tuất, cho nghỉ gia hạn và làm danh sách m ãn khóa, tặng thưởng từ tứ phẩm
trở lên.
trong chức năng của các Bộ. Chẳng hạn Thái Thường tự chuyên lo việc trang trí
hình thức, lễ nghi; Q uang Lộc tự chuyên lo cung cấp vật phẩm, lễ vật và chuẩn bị
cỗ bàn trong các dịp tế lễ.
1.1.4.Các quan chức và cơ quan tư vấn
Như trên đã đề cập, Vua là người nắm quyền lực tối cao của đất nước -
quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Để giữ vững quyền lực đó đổng thời đề ra
được những quyết đinh đúng đắn và chỉ đạo thực thi có hiệu quả, các hoàng đế
thường dựa vào sự tham mưu của một số đại thần dưới hình thức là m ột tổ chức
Bô
18
hoặc tư cách cá nhân được tin dùng.
Dưới triều Lý, vể quan văn có các chức Thái sư, Thái bảo, Thái phó (tam
Thái), Thiếu sư, Thiếu bảo, Thiếu phó (tam Thiếu); về quan võ có các chức Thái
úy và Thiếu úy. Thời Trần đặt thêm các chức Tư đồ, Tư mã và Tư không (tam
Tư), Tướng quốc (tương đương với Tể tướng). Thời Lê có tả hữu Tướng quốc,
tam Thái, tam Thiếu, Đại hành khiển. Thời N guyễn có Viện Cơ m ật gồm bốn vị
đại thần.
Các chức quan và cơ quan nói trên có nhiệm vụ tham mưu cho vua trong
việc giải quyết nhiều công việc trọng yếu của đất nước, hoặc giúp vua chỉ đạo
một công việc nhất đinh. Họ được tuyển chọn từ những người thuộc dòng họ
vua và các đại thần tài cán có công lớn và được tin cẩn. Vấn đề có tính nguyên
tắc là dù với tư cách m ột cơ quan hay cá nhân thì chức trách của họ cũng chỉ
giới hạn trong nhiệm vụ làm tư vấn, còn quyền quyết đinh m ọi việc thuộc về
nhà vua. Nhiều vị hoàng đế như Lý Thái Tổ, Lý Thái Tông, Lý N hân Tông, Trần
Nhân Tông, Lê Thái Tổ đã có ý thức dựa vào cơ chế tư vấn này trong quản lý
đất nước. Họ thực sự lắng nghe, tiếp thụ những ý kiến khuyên nghị và can ngân
của các bậc đại thần khi giải quyết những vấn đề liên quan đến lợi ích của dân
tộc và vận m ệnh của quốc gia.
1.1.5.Văn phòng của nhà vua.
Trong hoạt động quản lý của các triều đại, phương tiện thông tin chủ yếu
làm soạn thảo chiếu, dụ để vua ban hành, chuẩn bị và đệ trình vua phê duyệt
văn bản của các bộ, nha, trấn, thành gửi tới, bảo quản văn bản của nhà vua,
coi giữ ấn tín.
M inh M ạng hết sức coi trọng Văn thư phòng, ngay từ những năm tháng
đầu nối nghiệp vua cha (1820), nhà vua đã chỉ thị cho bộ Lại "Vãn thư phòng là
nơi khu m ật của nhà nước, không phải là người dự việc cấm không được
21
chức năng nhiộm vụ và biên chế quan chức của các Bộ và nha môn. v ề tổ chức
của Nội các, Thiệu Trị đã đổi Tào Thượng bảo thành Sở Thượng bảo, Tào Bí
thư thành Sở Bí thư, Tào Thừa vụ thành sở Ty luân, Tào Biểu bạ thành Sở Bản
chương. Nhiệm vụ của các Sở được quy định khá cụ thể:
- Sở Thượng bảo: Thảo các chỉ, dụ, giữ ấn tín và đóng dấu vào văn bản,
sao lục và chuyển giao phó bản các tấu sớ để thi hành, còn bản chính giao nộp
cho Sở Bổn chương để lưu trữ .
- Sở Ty luân: thừa lệnh viết các phiếu nghĩ, lời chỉ dụ, hàng ngày cùng
Thượng bảo sở giao nhận sổ sách, phiếu thảo, biên vào sổ để lưu.
- Sở Bí thư: có nhiệm vụ sao lục các văn thư, ngự chế để khắc in, bảo
quản các thơ văn, ngự chế. Ngoài ra còn có nhiệm vụ lưu giữ các văn bản về
các quan hệ với nhà Thanh cùng các tài liệu ghi chép về nước ngoài, bản đổ của
Nhà nước .
- Sở Bản chương: lưu giữ các văn bản do Sở Thượng bảo và Sở Ty luân
chuyển sang. Theo quy đinh, văn bản hình thành ở Sở Thượng bảo và Sở Ty
luân, gồm chỉ dụ của nhà vua, số sách của các cơ quan trung ương và địa
phương , trước hết là các châu bản cứ đến cuối tháng thì phải chuyển giao cho
Sở Bản chương để lưu trữ .
Quan chức của Nội các gồm 4 người có phẩm trật tam phẩm và tứ
phẩm , 28 người có phẩm trật từ ngũ phẩm đến cửu phẩm. Họ được tuyển chọn
từ những người có khoa bảng, văn hay , chữ tốt, giỏi về công việc hành chính.
1.1.6. Các cơ quan khác.
N goài các cơ quan nói trên, còn có m ột số cơ quan như Quốc tử giám
gồm: Thuận Hóa, Nghệ An, Thanh Hóa, Thiên Trường, Quốc Oai, Hưng Hóa,
Nam Sách, Bắc G iang, An Bang, Tuyên Quang, Thái N guyên, Lạng Sơn, Quảng
23
Bộ m áy hành chính của các đạo thừa tuyên gồm 3 ty: Đô ty ( phụ trách
quân sự), Thừa ty ( phụ trách hành chính), Hiến ty (phụ trách tư pháp, giám sát
quan lại và công việc trong đạo ). M ỗi ty do m ột Thừa tuyên sứ đứng đầu. Đô
tổng binh sứ đứng đầu Đô ty được giao nhiệm vụ phụ trách chung.
Đ ến triều N guyễn (1802-1945), buổi đầu vua Gia Long về cơ bản vẫn giữ
đơn vị hành chính cũ của các chúa N guyễn ( miền Nam) và vua Lê (miền Bắc),
tức doanh và trấn. Song Gia Long đã gặp không ít khó khăn khi phải quản lý
một đất nước thống nhất khá rộng và trải dài trên 2000 km từ Bắc vào Nam
trong điểu kiện bất lợi vể chính trị ( nhiều người , đặc biệt là ở miền Bắc vẫn
luyến tiếc triều Lê và Tây Sơn, m ặc cảm với triều Nguyễn), tình hình kinh tế xã
hội khá phức tạp. Cho nên năm 1802, Gia Long đã tổ chức lại bộ máy hành
chính để phân quyến cho các địa phương . Ô ng chia đất nước ra làm 3 khu vực:
- M iền Trung: nơi đặt kinh đô, chia làm 4 doanh (Quảng Binh, Q uảng Trị,
Quảng Đức, Quảng Nam ) và 7 trấn (Thanh Hóa, Nghệ An, Q uảng Ngãi, Bình
Đinh, Phú Yên, Bình Khương, Bình Thuận) trực thuộc triều đình.
- M iền Bắc: gọi là Bắc thành, chia làm 11 trấn (Sơn N am Thượng, Sơn
Nam Hạ, Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang,
Cao Bằng,Q uảng A n, Hưng Hóa).
- M iền Nam : đặt tên là G ia Đ ịnh Thành, gồm 5 trấn (Phiên An, Biên Hòa,
Vĩnh Thanh, V ĩnh Tường, Hà Tiên).
M ỗi Thành đặt dưới quyền m ột Tổng trấn có phó Tổng trấn phụ tá. Q uyền
hành của Tổng trấn rất lớn: "Phàm những việc cất, bãi quan lại, xử quyết kiện
tụng, đều được tùy tiện m à làm rồi sau mới tâu lên". Triều đinh nắm các trấn
qua thành, cho nên bộ m áy hành chính cấp thành được cơ cấu như như một nhà
nước trung ương thu nhỏ, gồm 4 tào: Hộ, Binh, Hình, Công. Đứng đầu mỗi Tào
là chức tham tri.
Sau khi lên nối nghiệp vua cha, M inh M ạng đã nhận thức được rằng, sư
chủ đích rõ ràng, trước hết là để chính quyền trung ương có thể kiểm tra, giám sát
và chi phối mạnh mẽ hoạt động của cấp hành chính này .
1.2.2.Chính quyền cấp phủ, huyên., châu.
Như trên đã đề cập, nhìn tổng thể, đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh (đạo,
lộ, trấn) được chia thành các cấp phủ, huyện, châu.
Phủ được đặt ra ở đổng bằng và trung du, là cấp hành chính trung gian
giữa tỉnh và huyện. Mỗi phủ gồm m ột số huyện, dưới huyện là tổng (triều
Nguyễn), dưới tổng là xã. Châu là đơn vị hành chính tương đương huyện được
đặt ra ở m iền núi.
Đứng đầu phủ, huyện, châu có tri phủ, tri huyện và tri châu. Đây là những
cấp hành chính chịu sự kiểm soát và chi phối chặt chẽ của chính quyền cấp tỉnh
( đạo, lộ, trấn). Do vậy, bộ m áy tổ chức nhìn chung gọn nhẹ. R iêng đối với
những châu m iền núi, vì cách xa chính quyền trung ương, hay xẩy ra phiến loạn
chống lại triều đình, do đó bên cạnh các quan chức địa phương , chính quyền
trung ương còn cử thêm quan lại người Kinh đến hỗ trợ.
1.2.3.Chính quyền cấp xã:
Xã là đơn vị hành chính cơ sở có nguồn gốc từ công xã nông thôn. Trong
lịch sử Việt Nam , kể từ thời đại Hùng Vương cho đến ngày nay, làng xã đóng
vai trò hết sức quan trọng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế,
văn hóa , xã hội của đất nước .
Theo kết quả nghiên cứu của các nhà sử học, xã vốn là công xã nông
thôn kiểu châu Á được hình thành từ buổi đầu dựng nước . Đứng đầu công xã là
bồ chính (già làng). Bên cạnh bồ chính là Hội đổng công xã do các thành viên
của công xã bầu ra để làm nhiệm vụ giải quyết và tổ chức mọi hoạt động của
công xã.
Dưới thời Bắc thuộc, làng xã Việt N am cũng có những biến chuyển do
chịu ảnh hưởng của các yếu tố văn hóa Hán. Tuy nhiên trong nhiều thế kỷ,
2 6
chính quyền đô hộ mới chỉ nắm đến cấp quận, huyện, chứ chưa với tới cấp làng
xã. Đầu thế kỷ thứ v n , nhà Đường thi hành chính sách khuôn làng xã Việt Nam